LỜI NÓI ĐẦU
Kể từ khi có chủ trương đổi mới của Đảng và Nhà nước ta đề ra, nền kinh tế
Việt Nam đang có những bước tiến vượt bậc, tốc độ tăng trưởng GDP hằng năm
luôn đạt trên 7%, là nền kinh tế có tốc độ phát triển nhanh thứ hai trên thế giới, chỉ
sau Trung Quốc. Nhân tố chủ chốt trong sự phát triển kinh tế này chính là các
doanh nghiệp, những người trực tiếp mang về nguồn thu cho nền kinh tế quốc dân.
Chính vì vậy, việc tăng cường năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt
Nam, giúp các doanh nghiệp bắt kịp với trình độ sản xuất, công nghệ trên thế giới,
sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực dồi dào trong nước… là những mục tiêu hàng
đầu mà Nhà nước ta đã đề ra ngay từ những ngày đầu hội nhập. Để thực hiện được
điều đó thì yếu tố vốn đầu tư là một trong những yếu tố then chốt, quyết định.
Có nhiều nguồn vốn doanh nghiệp có thể khai thác như huy động trong nhân
dân thông qua phát hành trái phiếu, thu hút đầu tư nước ngoài, góp vốn liên doanh,
cổ phần hóa… Tuy nhiên nguồn vốn thông dụng nhất vẫn là vay ngân hàng. Mối
quan hệ giữa ngân hàng và doanh nghiệp là một mối quan hệ bền chặt, chi phối lẫn
nhau và thường là lâu dài, mang lại lợi ích cho cả đôi bên.
Vì lẽ đó, các ngân hàng cũng thường xuyên đổi mới chính sách tín dụng nhằm
đem lại hiệu quả cao nhất cho doanh nghiệp, góp phần vào công cuộc xây dựng đất
nước đang diễn ra từng ngày từng giờ. Tuy nhiên, do nền kinh tế của nước ta vẫn
còn đang trong quá trình phát triển, nên thị trường tiền tệ nói chung và thị trường
vốn tín dụng nói riêng vẫn còn nhiều bất cập, chưa mang lại những hiệu quả như
mong đợi.
Vì vậy, trong quá trình thực tập tại chi nhánh Ngân hàng Thương mại cổ phần
Á Châu Hà Nội, được tìm hiểu về hoạt động cho vay doanh nghiệp của chi nhánh,
với mong muốn đóng góp những suy nghĩ của mình, em đã chọn đề tài: “Mở rộng
cho vay doanh nghiệp tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Á Châu chi nhánh
Hà Nội”.
1
Chuyên đề gồm ba chương với những nội dung chính như sau:
Chương 1: Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại
Chương 2: Thực trạng cho vay doanh nghiệp tại chi nhánh ACB Hà Nội
Tóm lại, ngân hàng là một loại hình tổ chức quan trọng đối với nền kinh tế.
Các ngân hàng có thể được định nghĩa qua chức năng, các dịch vụ hoặc vai trò mà
chúng thực hiện trong nền kinh tế. Vấn đề là ở chỗ các yếu tố trên đang không
ngừng thay đổi. Thực tế rất nhiều tổ chức tài chính - bao gồm các công ty kinh
3
doanh chứng khoán, công ty môi giới chứng khoán, quỹ tương hỗ và công ty bảo
hiểm hàng đầu đều đang cố gắng cung cấp các dịch vụ của ngân hàng. Ngược lại,
ngân hàng cũng đang mở rộng phạm vi cung cấp dịch vụ về bất động sản và môi
giới chứng khoán, tham gia hoạt động bảo hiểm, đầu tư vào quỹ tương hỗ và thực
hiện nhiều dịch vụ mới khác. Vì vậy, ta có thể định nghĩa ngân hàng theo những
loại hình dịch vụ mà chúng cung cấp.
Ngân hàng là các tổ chức trung gian tài chính cung cấp một danh mục các
dịch vụ tài chính đa dạng nhất - đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh
toán - và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh
doanh nào trong nền kinh tế.
Còn nếu dựa trên các hoạt động chủ yếu thì có thể hiểu : Hoạt động ngân
hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường
xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch
vụ thanh toán.
Các loại hình NHTM rất phong phú, căn cứ theo nhiều tiêu thức người ta có
thể phân ra thành ngân hàng sở hữu tư nhân, ngân hàng sở hữu cổ đông, ngân hàng
sở hữu Nhà nước, ngân hàng liên doanh; hay ngân hàng đơn năng, ngân hàng đa
năng; ngân hàng bán buôn, ngân hàng bán lẻ…
1.2. Các hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại
1.2.1. Huy động vốn
Huy động vốn - hoạt động tạo nguồn vốn cho NHTM - đóng vai trò quan
trọng, ảnh hưởng tới chất lượng hoạt động của ngân hàng. Nguồn vốn của ngân
hàng bao gồm hai loại chính nếu phân chia theo hình thức sở hữu: vốn của chủ
ngân hàng và vốn nợ.
Để bắt đầu hoạt động ngân hàng (được pháp luật cho phép) chủ ngân hàng
mô nguồn này thường không lớn.
Tiền gửi là nguồn quan trọng nhất của NHTM. Tuy nhiên, khi cần, NHTM
thường vay mượn thêm. Tại nhiều nước Ngân hàng Trung ương thường quy định tỷ
5
lệ giữa nguồn tiền huy động và vốn của chủ. Vì vậy nhiều ngân hàng vào những
giai đoạn cụ thể phải vay mượn thêm để đáp ứng nhu cầu chi trả khi khả năng huy
động bị hạn chế. Các khoản vay chủ yếu của ngân hàng là:
- Vay Ngân hàng Trung ương (NHNN). Đây là khoản vay nhằm giải quyết
nhu cầu cấp bách trong chi trả của NHTM. Trong trường hợp thiếu hụt dự trữ
(thiếu dự trữ bắt buộc, dự trữ thanh toán), NHTM thường vay Ngân hàng Trung
ương. Hình thức cho vay chủ yếu của Ngân hàng Trung ương là tái chiết khấu
(hoặc tái cấp vốn).
- Vay các tổ chức tín dụng khác. Đây là nguồn các ngân hàng vay mượn lẫn
nhau và vay của các tổ chức tín dụng khác trên thị trường liên ngân hàng.
- Vay trên thị trường vốn. Giống như các doanh nghiệp khác, các ngân hàng
cũng vay mượn bằng cách phát hành các giấy nợ (kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiếu)
trên thị trường vốn. Đây là các khoản vay trung và dài hạn nhằm bổ sung cho các
nguồn tiền gửi, đáp ứng nhu cầu cho vay và đầu tư trung và dài hạn.
1.2.2. Hoạt động tín dụng
Hoạt động sinh lợi chủ yếu của các ngân hàng thương mại là hoạt động tín
dụng (cho vay). Cho đến hiện nay, khoản mục tài sản lớn nhất trong ngân hàng vẫn
là những khoản cho vay. Khoản mục này thường chiếm từ 1/2 đến 3/4 giá trị tổng
tài sản của ngân hàng.
Trong hoạt động tín dụng, mục tiêu chủ yếu của nhà quản lý ngân hàng là
kiếm được lợi nhuận, trên cơ sở phục vụ các nhu cầu tín dụng của cộng đồng. Mức
độ thanh khoản của các hợp đồng tín dụng, mặc dù là rất quan trọng, nhưng ở vào
vị trí thứ yếu. Những phát triển gần đây về “sự bảo đảm an toàn” đã góp phần tạo
ra thanh khoản cho các khoản cho vay khác nhau. Sự bảo đảm an toàn nảy sinh khi
các thưong phiếu hoặc tín phiếu được phát hành và dựa trên các khoản tín dụng có
liên quan, như tín dụng thương mại hoặc tín dụng tiêu dùng. Điều này cho phép
trong quan hệ tín dụng của NHTM, song đem lại rủi ro cao nhất cho NHTM.
Trong quan hệ cho vay thể hiện các nội dung sau:
7
+ Trái chủ, hay còn gọi là người cho vay, chuyển giao cho người thụ trái, hay
còn gọi là người đi vay, một lượng giá trị nhất định. Giá trị này có thể dưới hình
thái tiền tệ hoặc dưới hình thái hiện vật như hàng hóa, máy móc, thiết bị, bất động
sản.
+ Người đi vay chỉ được sử dụng tạm thời trong một thời gian nhất định, sau
khi hết thời hạn sử dụng theo thỏa thuận, người đi vay phải hoàn trả cho người cho
vay. Trong quan hệ tín dụng người cho vay tin tưởng người đi vay sẽ hoàn trả vào
một ngày nào đó trong tương lai mà hai bên đã thỏa thuận.
+ Giá trị được hoàn trả thông thường lớn hơn giá trị lúc cho vay hay nói cách
khác người đi vay phải trả thêm phần lợi tức. Marx viết: “Đem tiền cho vay với tư
cách là một việc có đặc điểm là sẽ quay trở về điểm xuất phát của nó, mà vẫn giữ
được nguyên vẹn giá trị của nó và đồng thời lại lớn thêm trong quá trình vận
động”.
Như vậy quan hệ cho vay có thể được hiểu theo nghĩa rộng là sự vận dộng của
luồng vốn từ nơi đang tạm thời thừa sang nơi thiếu vốn, hoặc đang cần vốn. Quan
hệ cho vay có thể diễn ra giữa nhiều chủ thể khác nhau như doanh nghiệp, cá nhân,
ngân hàng, chính phủ
2.2. Các hình thức cho vay của ngân hàng thương mại
2.2.1. Căn cứ vào mục đích
♦ Cho vay bất động sản là loại cho vay liên quan đến việc mua sắm và xây
dựng bất động sản nhà ở, đất đai, bất động sản trong lĩnh vực công nghiệp, thương
mại và dịch vụ.
♦ Cho vay công nghiệp và thương mại là loại cho vay ngắn hạn để bổ sung
vốn lưu động cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại và
dịch vụ.
♦ Cho vay nông nghiệp là loại cho vay để trang trải các chi phí sản xuất
như phân bón, thuốc trừ sâu, giống cây trồng, thức ăn gia súc, lao động, nhiên
9
♦ Cho vay có đảm bảo là loại cho vay được ngân hàng cung ứng phải có tài
sản thế chấp hoặc cầm cố, hoặc phải có sự bảo lãnh của người thứ ba. Đối với các
khách hàng không có uy tín cao đối với ngân hàng, khi vay vốn đòi hỏi phải có
đảm bảo. Sự đảm bảo này là căn cứ pháp lý để ngân hàng có thêm nguồn một
nguồn thứ hai, bổ sung cho nguồn thu nợ thứ nhất thiếu chắc chắn.
2.2.4. Căn cứ vào hình thái tài sản
♦ Cho vay bằng tiền là loại cho vay mà hình thái giá trị của tín dụng được
cung cấp bằng tiền. Đây là loại cho vay chủ yếu của các ngân hàng và việc thực
hiện bằng các kỹ thuật khác nhau như: tín dụng ứng trước, thấu chi, tín dụng thời
vụ, tín dụng trả góp…
♦ Cho vay bằng hiện vật (thuê-mua). Hoạt động chủ yếu của NHTM là
cho vay để khách hàng mua tài sản. Tuy nhiên trong nhiều trường hợp, khách hàng
không đủ (hoặc chưa đủ) điều kiện vay. Để mở rộng tín dụng, NHTM đã mua các
tài sản theo yêu cầu của khách hàng để cho khách hàng thuê. Vì tài sản cho thuê
thuộc sở hữu ngân hàng nên ngân hàng có thể thu hồi để bán hoặc cho người khác
thuê khi người thuê không trả nợ được. Điều này góp phần giảm bớt thiệt hại cho
ngân hàng.
Hoạt động cho thuê có hai hình thức chủ yếu là cho thuê nghiệp vụ và cho
thuê tài chính. Cho thuê nghiệp vụ đáp ứng nhu cầu thuê trong thời gian ngắn,
người đi thuê không có dự định “mua” tài sản đó để sử dụng lâu dài. Cho thuê tài
chính đáp ứng nhu cầu cho thuê trong thời gian dài và người đi thuê có quyền mua
tài sản khi hết hợp đồng thuê. Hoạt động cho thuê của NHTM chủ yếu là cho thuê
tài chính.
2.2.5. Căn cứ vào hình thức cho vay
♦ Cho vay trực tiếp từng lần là hình thức cho vay tương đối phổ biến của
ngân hàng đối với các khách hàng không có nhu cầu vay thường xuyên, không có
điều kiện để cấp hạn mức thấu chi. Một số khách hàng sử dụng vốn chủ sở hữu và
tín dụng thương mại là chủ yếu, chỉ khi có nhu cầu thời vụ, hay mở rộng sản xuất
đặc biệt mới vay ngân hàng, tức là vốn từ ngân hàng chỉ tham gia vào một số giai
khó kiểm soát hiệu quả sử dụng từng lần vay. Ngân hàng chỉ có thể phát hiện vấn
đề khi khách hàng nộp báo cáo tài chính, hoặc dư nợ lâu không giảm sút.
♦ Cho vay luân chuyển là nghiệp vụ cho vay dựa trên luân chuyển của hàng
hóa. Doanh nghiệp khi mua hàng có thể thiếu vốn. Ngân hàng có thể cho vay để
mua hàng và sẽ thu nợ khi doanh nghiệp bán hàng. Ngân hàng và khách hàng thỏa
thuận với nhau về phương thức vay, hạn mức tín dụng, các nguồn cung cấp hàng
hóa và khả năng tiêu thụ. Hạn mức tín dụng có thể được thỏa thuận trong một năm
hoặc vài năm. Đây không phải là thời hạn hoàn trả mà là thời hạn để ngân hàng
xem xét lại mối quan hệ với khách hàng và quyết định có cho vay nữa hay không
Thời gian
Dư nợ
Hạn mức được duyệt cuối kỳ
Dư nợ
12
tùy mối quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng cũng như tình hình tài chính của
khách hàng.
Cho vay luân chuyển thường áp dụng đối với các doanh nghiệp thương nghiệp
hoặc doanh nghiệp sản xuất có chu kỳ tiêu thụ ngắn ngày, có quan hệ vay trả
thường xuyên với ngân hàng.
Cho vay luân chuyển
Cho vay luân chuyển rất thuận tiện cho các khách hàng. Thủ tục vay chỉ cần
thực hiện một lần cho nhiều lần vay. Khách hàng được đáp ứng nhu cầu vốn kịp
thời, vì vậy việc thanh toán cho người cung cấp sẽ nhanh gọn.
Nếu doanh nghiệp gặp khó khăn trong tiêu thụ (hàng hóa tồn đọng…) thì ngân
hàng sẽ gặp khó khăn trong việc thu hồi vốn do thời hạn của khoản vay không
được quy định rõ ràng.
♦ Cho vay trả góp là hình thức tín dụng, theo đó ngân hàng cho phép khách
hàng trả gốc làm nhiều lần trong thời hạn tín dụng đã thỏa thuận. Cho vay trả góp
thường được áp dụng đối với các khoản vay trung và dài hạn, tài trợ cho tài sản cố
định hoặc hàng lâu bền. Số tiền trả mỗi lần được tính toán sao cho phù hợp với khả
Hạn mức thấu chi
Vay ngân hàng (thực hiện thấu chi)
Số dư tiền gửi
x
y
14
2.2.6. Căn cứ vào mối quan hệ với người vay
♦ Cho vay trực tiếp: Ngân hàng cấp vốn trực tiếp cho người có nhu cầu,
đồng thời người đi vay trực tiếp hoàn trả nợ vay cho ngân hàng.
♦ Cho vay gián tiếp, bao gồm các loại sau:
+ Chiết khấu thương mại (discount)
Người hưởng thụ hối phiếu hoặc lệnh phiếu còn trong hạn thanh toán có thể
nhượng lại cho ngân hàng. Trong trường hợp này ngân hàng cấp cho khách hàng
một khoản tiền bằng mệnh giá trừ đi lãi chiết khấu và hoa hồng phí. Khi các chứng
từ này đến hạn thanh toán người thụ lệnh hối phiếu hoặc người có trách nhiệm
thanh toán cho ngân hàng. Cần lưu ý trong nghiệp vụ chiết khấu thương mại người
được cấp tín dụng và người chịu trách nhiệm thanh toán chính cho ngân hàng là hai
người khác nhau.
+ Mua các phiếu bán hàng tiêu dùng và máy móc nông nghiệp trả góp
Do sự tác động của phương thức tiêu thụ hàng hóa gần phương pháp tiếp thị
mới đã thúc đẩy các ngân hàng thương mại đưa vào áp dụng loại cho vay gián tiếp.
Trong điều kiện hiện nay các doanh nghiệp thương mại đang tìm mọi biện pháp đã
cạnh tranh trong việc tiêu thụ hàng hóa, trong đó bán chịu hàng hóa được coi là
biện pháp để mở rộng tiêu thụ hàng hóa có hiệu quả nhất. Tuy nhiên nguồn vốn của
các doanh nghiệp có hạn, vì vậy cần phải có nguồn tài trợ của ngân hàng thông qua
nhượng lại các phiếu bán hàng trả góp.
Cho vay gián tiếp thông qua mua các phiếu bán hàng được thực hiện theo quy
trình như sau:
Ngân hàng Khách hàng
(factor)
(2)
(1)
16
không phải cung cấp hàng tiền, nhưng khi người bảo lãnh không thực hiện được
nghĩa vụ theo hợp đồng thì người bảo lãnh phải thay thế để thực hiện nghĩa vụ
thanh toán. Chính vì lí do trên đây mà người ta gọi hành vi cam kết bảo lãnh của
ngân hàng là tín dụng bằng chữ kí.
2.2.7. Tín dụng bằng uy tín của ngân hàng (nghiệp vụ bảo lãnh)
♦ Tín dụng chấp nhận: Tín dụng chấp nhận là việc khách hàng phát hành
một hối phiếu mà trong đó ngân hàng đóng vai trò là người thụ lệnh. Khách hàng
dùng hối phiếu này để chiết khấu ở một ngân hàng khác để nhận tiền. Trước khi
hối phiếu đến hạn thanh toán khách hàng phải thanh toán cho ngân hàng thụ lệnh
để ngân hàng này chi trả cho ngân hàng chiết khấu.
Trong quan hệ này ngân hàng không phải là người thiếu nợ, mà ngân hàng cho
mượn uy tín của mình để khách hàng được vay vốn.
♦ Tín dụng chứng từ: Ngân hàng mở tín dụng chứng từ cho khách hàng là
nhà nhập khẩu và người hưởng thụ là nhà xuất khẩu ở nước ngoài. Điều này có
nghĩa là ngân hàng đã cam kết trả tiền khi nhà xuất khẩu đã gửi hàng và xuất trình
các chứng từ theo đúng các điều kiện của tín dụng thư.
♦ Bảo lãnh của ngân hàng: Trong hình thức tín dụng bằng chữ kí, bảo lãnh
là loại tín dụng được áp dụng phổ biến. Để đảm bảo thực hiện một nghĩa vụ của
khách hàng, ngân hàng đứng ra bảo lãnh cho khách hàng bằng việc phát hành các
chứng thư bảo lãnh.
Chứng thư bảo lãnh là giấy cam kết của ngân hàng sẽ thực hiện nghĩa vụ thay
cho người được bảo lãnh nếu người này không thực hiện nghĩa vụ.
Bảo lãnh ngân hàng có các loại thông dụng sau:
+ Bảo lãnh thuế quan: Ngân hàng phát hành chứng thư bảo lãnh cho nhà nhập
khẩu để người này được lấy hàng ra khỏi cảng mà chưa phải đóng thuế cho Nhà
nước. Người hưởng thụ của cam kết bảo lãnh này là tổ chức thuế quan của Nhà
thầu như trúng thầu nhưng không thực hiện hợp đồng, không kê khai đúng các yêu
cầu của chủ đầu tư… chủ đầu tư thường xuyên yêu cầu bên dự thầu phải ký quỹ
(đặt cọc) dự thầu. Nếu vi phạm, bên dự thầu sẽ bị mất tiền ký quỹ. Do ký quỹ gây
18
ra nhiều thủ tục phiền phức cho cả hai bên, đặc biệt làm đọng vốn của bên tham gia
dự thầu, nhiều chủ thầu yêu cầu thay thế tiền ký quỹ bằng bảo lãnh của ngân hàng.
+ Bảo lãnh hoàn trả vốn vay (bảo lãnh vay vốn): Nhiều tổ chức tín dụng khi
cho vay đòi hỏi phải có đảm bảo hoặc bằng hàng hóa, chứng khoán, bất động sản,
hoặc bảo lãnh cả người thứ ba… Nhà nước, doanh nghiệp, tổ chức tín dụng có nhu
cầu vay vốn bằng cách phát hành trái phiếu song nếu uy tín của người vay trên thị
trường đó chưa cao, việc phát hành sẽ rất khó khăn. Điều đó nảy sinh nhu cầu bảo
lãnh vay vốn. Bảo lãnh bảo đảm hoàn trả vốn vay là cam kết của ngân hàng đối với
người cho vay (tổ chức tín dụng, các cá nhân,…) về việc sẽ trả gốc và lãi đúng hạn
nếu khách hàng (người đi vay) không trả được.
+ Bảo lãnh bảo đảm thanh toán: Là cam kết của ngân hàng về việc sẽ thanh
toán tiền theo đúng hợp đồng thanh toán cho người thụ hưởng nếu khách hàng của
ngân hàng không thanh toán đủ.
3. Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động cho vay của NHTM
3.1. Các nhân tố khách quan
• Môi trường kinh tế
Doanh ngiệp hoạt động trong môi trường kinh tế, vì thế bất cứ sự biến động
nào của môi trường kinh tế cũng ảnh hưởng trực tiếp tới doanh nghiệp, qua đó ảnh
hưởng gián tiếp tới ngân hàng. Nếu nền kinh tế phát triển ổn định sẽ tạo điều kiện
lợi cho hoạt động tín dụng phát triển lành mạnh. Khi đó, các quá trình sản xuất
kinh doanh trong nền kinh tế sẽ phát triển lành mạnh, các doanh nghiệp làm ăn có
lãi, khoản cho vay của ngân hàng được sử dụng có hiệu quả và có khả năng thu hồi
cao. Một khi môi trường kinh tế không ổn định, môi trường kinh doanh biến động
sẽ gây khó khăn cho hoạt động của người vay làm họ mất khả năng thanh toán cho
ngân hàng, dẫn đến ngân hàng cũng kinh doanh thua lỗ do không thu được nợ
• Môi trường xã hội
hút được đầu tư. Do đó ngân hàng cũng không thể mở rộng cho vay, hoạt động của
ngân hàng cũng vì thế mà ỳ trệ, không phát triển được.
20
3.2. Các nhân tố chủ quan
• Về phía người vay
Doanh nghiệp đi vay có ảnh hưởng quan trọng đến quy mô và chất lượng
khoản vay. Nếu doanh nghiệp kinh doanh hiệu quả, có khả năng dự đoán các vấn
đề kinh doanh tốt, làm ăn với ngân hàng lâu năm, uy tín cao thì chắc chắn nhu cầu
tín dụng của họ sẽ được ngân hàng đáp ứng đầy đủ. Ngược lại nếu trình độ yếu
kém, chủ định lừa đảo cán bộ ngân hàng, chây ì, làm ăn thua lỗ… thì khả năng
ngân hàng cho vay là không có thể xảy ra, ngân hàng không mở rộng cho vay.
• Về phía NHTM
+ Chính sách tín dụng là kim chỉ nam cho cán bộ tín dụng ngân hàng thực
hiện một khoản cho vay tốt. Một chính sách tín dụng đúng đắn sẽ thu hút nhiều
doanh nghiệp đến xin vay vốn, đảm bảo khả năng sinh lời của khoản vay. Căn cứ
vào chính sách tín dụng, cán bộ tín dụng sẽ biêt cách phân tán rủi ro, tuân thủ pháp
luật, đường lối chính sách của Nhà nước. Toàn bộ các vấn đề có liên quan đến cấp
tín dụng nói chung đều được xem xét và đưa ra trong chính sách như: quy mô, lãi
suất, kỳ hạn, tài sản đảm bảo, các khoản tín dụng có vấn đề… Điều này có nghĩa là
việc mở rộng cho vay doanh nghiệp phụ thuộc nhiều vào chính sách tín dụng của
ngân hàng đó.
+ Quy trình tín dụng. Để chuẩn hóa quá trình tiếp xúc, phân tích, cho vay và
thu nợ đối với khách hàng, các ngân hàng thường đặt ra quy trình phân tích tín
dụng. Đó là các bước mà cán bộ tín dụng, các phòng ban có liên quan trong ngân
hàng phải thực hiện khi tài trợ cho khách hàng. Nếu việc ứng dụng quy trình tín
dụng linh hoạt, có sự phối hợp nhịp nhàng ăn ý giữa các bước sẽ vừa làm hài lòng
khách hàng tạo uy tín để khách hàng xin vay những nguồn vốn lớn, vừa đảm bảo
an toàn cho khoản vay, tạo điều kiện mở rộng cho vay đối với doanh nghiệp.
+ Trình độ cán bộ. Trình độ chuyên môn của cán bộ ngân hàng có vai trò
quan trọng trong việc mở rộng cho vay. Với một đội ngũ cán bộ giỏi am hiểu
ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam đăng ký hoạt động tại nước Cộng hòa Xã
hội Chủ nghĩa Việt Nam. Ngân hàng được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cấp
giấy phép hoạt động số 0032/NH-GP ngày 24-04-1993. Vốn điều lệ ban đầu là 20
tỷ VND cho thời hạn hoạt động 50 năm. Ngân hàng bắt đầu hoạt động từ ngày 04-
06-1993. Năm 1994, ngân hàng tiếp tục tăng vốn điều lệ lên 70 tỷ VND, năm 1996
vốn điều lệ là 341 tỷ VND, năm 2003 ACB lại tăng vốn điều lệ lên 424 tỷ VND và
tính đến ngày 23-08-2005 vốn điều lệ của ACB là 948,32 tỷ VND.
Sau hơn 10 năm hoạt động, đến nay ACB đã có 61 chi nhánh và phòng giao
dịch tại những vùng kinh tế phát triển trên toàn quốc.
• Tại TP Hồ Chí Minh: 23 chi nhánh và 13 phòng giao dịch
• Tại khu vực phía Bắc (Hà Nội, Hải Phòng, Hưng Yên, Bắc Ninh): 6 chi
nhánh và 6 phòng giao dịch
• Tại khu vực miền Trung (Đà Nẵng, Daklak, Khánh Hoà, Hội An, Huế): 5
chi nhánh và 1 phòng giao dịch
• Tại khu vực miền Tây (Cần Thơ, An Giang, và Cà Mau): 3 chi nhánh
• Tại khu vực miền Đông (Đồng Nai, Bình Dương, Vũng Tàu): 3 chi nhánh
và 1 phòng giao dịch.
• 5.584 đại lý chấp nhận thanh toán thẻ của Trung tâm thẻ ACB (31/12/2005)
• 360 đại lý chi trả của Trung tâm chuyển tiền nhanh ACB-Western Union
(tháng 03/2005)
• E-banking.
23
Trong hệ thống ngân hàng ACB thì Chi nhánh ngân hàng thương mại cổ phần
Á Châu tại Hà Nội (viết tắt là ACB Hà Nội) là chi nhánh cấp một đầu tiên trên cả
nước, đã được khai trương và đi vào hoạt động từ ngày 14/12/1993, tại địa chỉ 184
- 186 Bà Triệu, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. Hiện nay ACB Hà Nội có một chi nhánh
cấp hai là chi nhánh Cửa Nam tại 6 Nguyễn Thái Học và năm phòng giao dịch
(PGD) là:
- PGD Kim Liên tại số 1 Chùa Bộc, quận Đống Đa
- PGD Bát Đàn tại 46B Phố Bát Đàn, quận Hoàn Kiếm
nhánh. Nhiệm vụ chung của phòng tổ chức hành chính:
• Tham mưu cho giám đốc và hướng dẫn cán bộ thực hiện các chế độ, chính
sách của pháp luật về trách nhiệm, quyền lợi của người sử dụng lao động và
người lao động; tham mưu việc tổ chức, sắp xếp bố trí nhân sự.
• Lập kế hoạch và tổ chức tuyển dụng nhân sự theo yêu cầu hoạt động của
chi nhánh. Thực hiện chế độ tiền lương, chế độ bảo hiểm của cán bộ nhân
viên, quản lý lao động, ngày công lao động, việc thực hiện nội quy của cơ
quan.
• Làm công tác cơ yếu, văn thư, hành chính, lưu trữ, in ấn, điện thoại,
telex/fax, liên lạc, tống đạt văn thư phục vụ cho hoạt động của ngân hàng.
• Trang bị, sửa chữa và bảo quản tài sản, kho tàng, nhà cửa, vật tư kỹ thuật,
thiết bị máy móc và phương tiện làm việc cho ngân hàng.
• Lập dự toán và thực hiện dự toán chi tiêu hành chính của chi nhánh.
• Làm công tác lễ tân.
• Làm công tác lao vụ.
• Làm công tác y tế, bảo hiểm.
• Bảo quản và sử dụng xe công tác.
• Làm công tác tổ chức cán bộ.
25