Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Lời mở đầu
ãi suất không chỉ là một phạm trù kinh tế mang tính chất tổng hợp,
đa dạng và phức tạp mà đây còn là một trong những công của chính
sách tiền tệ, rất nhạy cảm và có ảnh hởng mạnh mẽ tới sự phát triển và ổn
định kinh tế của một quốc gia. Lãi suất hợp lý sẽ là đòn bẩy quan trọng thúc
đẩy sản xuất và lu thông hàng hoá phát triển và ngợc lại.
L
Sau hơn mời năm đổi mới, chính sách lãi suất của Việt Nam đã góp
phần thực hiện tốt các mục tiêu của chính sách tiền tệ quốc gia đồng thời đ-
ợc đổi mới mạnh mẽ, thận trọng và từng bớc phù hợp với từng giai đoạn.
Tuy nhiên, vẫn còn có những tồn tại, hạn chế trong chính sách lãi suất.
Thực tiễn khách quan đòi hỏi phải có một sự đổi mới sâu rộng trong
việc sử dụng công cụ lãi suất cho phù hợp với thông lệ quốc tế và điều kiện
thực hiện của thị trờng tiền tệ trong nớc. Vì thế, xây dựng một chính sách
lãi suất hiệu quả trên cơ sở phù hợp với tiến trình hội nhập của đất nớc vừa
đảm bảo sự định hớng của Nhà nớc đang là bài toán đặt ra cho các nhà
hoạch định chính sách. Do đó có thể thấy, nghiên cứu về chính sách lãi suất
và định hớng đổi mới và hoàn thiện lãi suất có ý nghĩa thực tiễn cao.
Trong khuôn khổ một đề án, em xin trình bày những vấn đề chung
nhất về lãi suất và chính sách lãi suất đồng thời phân tích chính sách lãi suất
Việt Nam thời gian qua ,nhận rõ xu thế phát triển của chính sách lãi suất, từ
đó đa ra đề xuất góp phần hoàn thiện chính sách lãi suất.
Do còn hạn chế về trình độ cũng nh về kiến thức thực tế nên đề án
của em còn nhiều sai sót. Em rất mong sẽ nhận đợc sự chỉ bảo, góp ý của
các thày cô giáo, đặc biệt là thày giáo Đàm Viết Huệ để bài viết này hoàn
chỉnh hơn.
Phần i
Lý luận chung về
1
lãi suất và chính sách lãi suất
2
- Lãi suất tín dụng dài hạn: áp dụng với các khoản tín dụng dài hạn,
thời hạn trên 5 năm.
1.1.2.2. Căn cứ vào giá trị thực của lãi suất.
- Lãi suất danh nghĩa: Là lãi suất tính theo giá trị danh nghĩa của tiền
tệ tại thời điểm nghiên cứu.
- Lãi suất thực: là lãi suất đã đợc điều chỉnh theo những biến đổi của
lạm phát.
i
r
= i
n
-
e
Vì đợc điều chỉnh lại cho đúng theo những thay đổi vì lạm phát nên lãi
suất thực phản ánh một cách chính xác chi phí của quan hệ tín dụng.
1.1.2.3. Căn cứ vào sự ổn định của lãi suất.
- Lãi suất cố định: là lãi suất đợc áp dụng cố định trong suốt thời hạn
vay.
- Lãi suất thả nổi là lãi suất có thể thay đổi lên xuống, có thể báo trớc
hoặc không báo trớc.
1.1.2.4. Căn cứ vào phơng pháp tính.
- Lãi suất đơn: là lãi suất tính một lần trên số vốn gốc cho suốt kỳ
hạn vay.
I = n *i *Co
Trong đó : I: Số tiền lãi.
n : số thời kỳ gửi vốn.
i : lãi suất
Co: vốn gốc
+ Lãi suất tiền gửi
+ Lãi suất chiết khấu
+ Lãi suất tái chiết khấu
+ Lãi suất liên ngân hàng
+ Lãi suất cơ bản
-Lãi suất tín dụng nhà nớc: áp dụng khi Nhà nớc đi vay của các chủ
thể khác nhau trong xã hội dới hình thức phát hành tín phiếu hoặc trái
phiếu. Loại lãi suất này có thể do Nhà nớc ấn định căn cứ vào lãi suất tiền
gửi tiết kiệm ngân hàng, và các yếu tố khác nh sự biến động của lạm phát,
nhu cầu cấp thiết về vốn của Nhà nớc hoặc đợc hình thành thông qua hoạt
động đấu thầu tín phiếu, trái phiếu Nhà nớc.
-Lãi suất tín dụng tiêu dùng: áp dụng khi doanh nghiệp cho ngời tiêu
dùng vay phục vụ cho nhu cầu cá nhân. Mức lãi suất tín dụng tiêu dùng này
thờng cao hơn lãi suất tín dụng ngân hàng và lãi suất tín dụng Nhà nớc.
1.2. Vai trò của lãi suất trong cơ chế thị trờng.
4
Lãi suất có vai trò và ảnh hởng to lớn tới sự phát triển và ổn định kinh
tế của một quốc gia. Lãi suất hợp lý sẽ là đòn bẩy quan trọng thúc đẩy sản
xuất và lu thông hàng hoá phát triển và ngợc lại. Vì thế, việc hoạch định
chính sách lãi suất phải tuân thủ những nguyên tắc nhất định, đảm bảo lãi
suất thoả mãn các yêu cầu mà nền kinh tế đặt ra.
Trong nền kinh tế thị trờng, ngời đi vay cũng nh ngời cho vay có thể
là các doanh nghiệp, các cá nhân, hộ gia đình, chính phủ hoặc ngời nớc
ngoài. Đối với ngời đi vay, lãi suất tạo nên chi phí, làm giảm lợi nhuận của
ngời vay. Còn với ngời cho vay, lãi suất chính là thu nhập của họ. Vì thế lãi
suất đóng vai trò to lớn trong các quyết định của các chủ thể kinh tế. Thông
qua những quyết định của các chủ thể kinh tế, lãi suất ảnh hởng đến sự phát
triển cũng nh cơ cấu kinh tế của một quốc gia.
Trớc hết, lãi suất là công cụ đợc sử dụng nhằm phân phối hiệu quả và
hợp lý các nguồn lực trong nền kinh tế. Bởi lãi suất chính là phần thu nhập
Lãi suất đợc coi là giá cả của quyền sử dụng vốn trong một thời
hạn nhất định mà ngời sử dụng trả cho ngời sở hữu nó. Nếu nh lãi suất đối
với ngời đi vay là một khoản chi phí thì lãi suất tạo nên thu nhập đối với ng-
ời cho vay. Tuy nhiên, trong nền kinh tế, ngời vay. Lợi ích thực tế mà ngời
cho vay đợc hởng là lãi suất thực. Nghiên cứu và tìm hiểu về lãi suất, nhà
Kinh tế học I.Fisher đã chỉ ra đợc mối quan hệ giữa lãi suất và lạm phát.
l
n
= i
r
+
e
Trong đó: l
n
: lãi suất thực tế
i
n
: lãi suất danh nghĩa
e
: lạm phát dự tính
Vì thế bảo toàn vốn là nguyên tắc đầu tiên khi hình thành lãi suất
nhằm bảo đảm quyền lợi của ngời cho vay. Có nghĩa lãi suất danh nghĩa
phải ít nhất bằng tỷ lệ lạm phát dự tính(i
n
e
). Sự bảo đảm này cho phép
ngời cho vay có thể bù đắp đợc sự biến động rủi ro về giá mà lạm phát gây
3.1. Quan điểm của trờng phải cổ điển.
Có nhiều quan điểm khác về chính sách lãi suất. Trờng phái cổ điển
với các đại biểu là NW Senior, Bond, Baweck, Masshall cho rằng lãi suất là
yếu tố tự động bình quân theo quy luật cung cầu vốn - tiền tệ trên thị trờng
thông qua cơ chế điều chỉnh của NHTW và hệ thống NHTM .
Trên cơ sở này, mức cầu tiền tệ trong nền kinh tế trong các thời kỳ
khác nhau sẽ đợc thoả mãn một cách tự nhiên. Khi nền kinh tế tăng trởng
cao, dự trữ của NHTM đã đợc huy động hết cho đầu t trong khi nền kinh tế
vẫn còn cầu về tín dụng cao, NHTW sẽ cung cấp tiền cho hệ thống NHTM
một lợng tiền cung ứng cần thiết cho nền kinh tế theo sự vận hành của quy
luật tối đa hoá lợi nhuận. Các chủ thể kinh tế thoát khỏi tình trạng kẹt vốn
7
cho đầu t. Sự gia tăng của mức cần tiền đợc nguồn tiền tự nhiên đáp ứng sẽ
không gây sức ép đối với lãi suất tín dụng vì ngân hàng sẽ không phải quá
hao tổn sức lự c cho việc huy động tiền gửi cho đầu t trung và dài hạn.
Hạn chế của lý thuyết cổ điển là đã coi lãi suất nh là nhân tố tạo ra sự
cân bằng giữa nhu cầu đầu t và tiết kiệm, là giá cả đơn thuần của đầu t và
coi nhẹ vai trò điều tiết của Nhà nớc.
Lý thuyết lãi suất có xu hớng bình quân tự nhiên của trờng phái tự do
cổ điển có ảnh hởng tới nhiều nớc phơng Tây vào thế kỷ 19.
3.2. Quan điểm của trờng phái Keynes.
Sau cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929-1933 M.Keynes đã phê
phán quan điểm của trờng phái lãi suất tự động bình quân và chủ trơng
Nhà nớc phải tham gia điều tiết lãi suất và tăng chi tiêu chính phủ khi cần
thiết vào các chơng trình mà nền kinh tế t nhân không thể đảm nhận để kích
thích sự tăng trởng một cách liên tục.
Trờng phái này cho rằng, hạ lãi suất tín dụng luôn là đòn bẩy cho sự
phát triển. Keynes lập luận : thay vì gia tăng huy động vốn bằng biện pháp
thu hút ký thác, NHTW có thể làm gia tăng khối lợng tiền tệ để cung ứng
cho đầu t trong những thời kỳ mà mức cầu tiền tệ tăng cao bằng cách phát
kiểm soát tiền tệ gián tiếp ảnh hởng nh nghiệp vụ thị trờng mở, tái chiết
khấu, hợp đồng mua lại và một phần dựa vào áp đặt tỷ lệ dự trữ bắt buộc.
4.2. Tính tất yếu của tự do hoá lãi suất.
. Tự do hoá tài chính mà hạt nhân là tự do hoá lãi suất đang ngày
càng tỏ rõ những u điểm của nó.
Trớc hết, khi lãi suất đợc tự do hoá theo cung cầu về vốn, nó làm cho nguồn
vốn trong nền kinh tế đợc phân bố hợp lý và hiệu quả. Tự do hoá lãi suất
đem lại khả năng phân bổ nguồn vốn tín dụng khan hiếm cho hàng ngàn
ngời vay cạnh tranh nhau, đáp ứng đúng thị hiếu của họ, đồng thời đảm bảo
thu hút tiền gửi của hàng triệu ngời gửi với chi phí hợp lý, phù hợp với mục
tiêu của cả ngân hàng và khách hàng gửi tiền. Điều này sẽ không thể có đợc
trong điều kiện lãi suất bị kiểm soát trực tiếp. Bởi cũng giống nh nhiều hình
thức kiểm soát kinh tế khác trong hệ thống XHCN, kiểm soát lãi suất không
có lợi cho cạnh tranh. Các tổ chức tín dụng kém hiệu quả có thể đợc bảo vệ
từ sức ép tự do cạnh tranh. Mặc khác, lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức
là khó khăn lớn gắn với kiểm soát lãi suất. Cả hai loại rủi ro này đều có xu
hớng nâng lãi suất lên và tăng rủi ro tín dụng. Lựa chọn đối nghịch chỉ ra
9
khả năng kiểm soát lãi suất sẽ hấp dẫn nhiều doanh nghiệp chấp nhận rủi
ro; nhiều doanh nghiệp lành mạnh sẽ bị loại ra khỏi thị trờng tín dụng do
không sẵn sàng trả mức lãi suất cao nh các doanh nghiệp đang khó khăn rủi
ro đạo đức phát sinh khi cơ chế kiểm tra giám sát yếu các hoạt động cho
vay của ngân hàng, trong trờng hợp ngời vay ngận đợc sự bảo trợ ngầm từ
Chính phủ. Do đó, lãi suất tự do sẽ kích thích cho tăng trởng tài chính, cải
tiến và thay đổi cơ cấu mà Chính Phủ hoặc không thể quản lý hoặc chậm
thu kết quả.
Mặt khác, một vấn đề đặt ra là hiện nay các doanh nghiệp đòi hỏi hạ
lãi suất trong khi ngân hàng muốn duy trì lãi suất hiện tại.Tự do hoá lãi suất
sẽ làm lãi suất sẽ biến động linh hoạt theo sự phản ứng của thị trờng tạo ra
sự cạnh tranh lành mạnh. Giảm thiểu những tranh luận xã hội trong giới tài
4.3. Các loại hình tự do hoá lãi suất.
Trong cơ chế tự do hoá lãi suất, nếu Nhà nớc hoàn toàn không can
thiệp đến hệ thống lãi suất thị trờng thì đó là cơ chế lãi suất tự do hoá hoàn
toàn( thả nổi hoàn toàn).
Nếu Nhà nớc có tham gia can thiệp gián tiếp theo một định hớng xác
định thì đó đợc coi là cơ chế tự do hoá có sự điều tiết.
4.4. Kinh nghiệm một số nớc đi trớc và một số tác động tiêu cực
của Tự do hoá lãi suất.
Từ thập niên 70, xu hớng chung của thế giới là bãi bỏ lãi suất ấn định
có tính chất hành chính để chuyển sang lãi suất thả nổi. Nhiều nớc phát
triển và đang phát triển đã từng bớc thực hiện các bớc để Tự do hoá lãi suất
hệ thống tài chính.
Thực thế cho thấy kiểm soát lãi suất đã làm giảm vai trò trung gian
tài chính, hình thành và phát triển nhanh các thị trờng tài chính phi chính
thức và các tổ chức phi ngân hàng làm cho các nguồn taì chính không đợc
chuyển tải tới các hoạt động có hiệu quả nhất. Tự do hoá tài chính, đặc biệt
là tự do hoá lãi suất là bớc đi quan trọng góp phần huy động nguồn lực
thông qua hệ thống tài chính chính thức, nâng cao hiệu quả của hệ thống tài
chính, góp phần thúc đẩy tăng trởng kinh tế. Quá trình này chịu tác động
bởi nhiều yếu tố, phụ thuộc vào điểm xuất phát và hoàn cảnh quốc tế của
mỗi nớc trong từng giai đoạn.
Xem xét quá trình này ở Malaysia, từ 1981 nớc này đã cho phép các
ngân hàng thơng mại tự xác định mức lãi suất cơ bản của mình dựa trên cơ
sở chi phí thực tế. Nhng ngay sau đó NHTW Malaysia đã nhận thấy trong
điều kiện thị trờng tiền tệ cha thực sự phát triển quyết định trên có thể dẫn
tới khả năng cạnh tranh quá mức giữa các ngân hàng, đe doạ sự an toàn của
hệ thống ngân hàng thơng mại. Năm 1987, Malaysia đã chuyển sang điều
11
hành lãi suất theo hớng vừa đảm bảo sự phối hợp chỉ đạo của NHTW, vừa
đảm bảo quyền tự chủ trong một khuôn khổ nhất định cho các ngân hàng
thời củng cố hành lang pháp lý, nâng cao trình độ quản lý nền kinh tế.
12
Phần II.
thực trạng Về lãi suất ở Việt Nam
1. Thực trạng thị trờng vốn tiền tệ.
Việt Nam với số dân gần 80 triệu hứa hẹn một tiềm lực vốn lớn. Tuy
nhiên, mặc dù tiềm lực vốn trong dân có nhiều nhng vốn huy động cho phát
triển kinh tế- xã hội của Việt Nam, đặc biệt là vốn cho đầu t trung và dài
hạn còn là một vấn đề lớn.
Theo báo cáo của tổng cục thống kê và Bộ kế hoạch và đầu t, tỷ lệ
ngời gửi tiền ở nớc ta năm 1998 chiếm 17% dân số. Vẫn còn bộ phận lớn
vốn còn nằm lại trong dân c tồn tại dới các hình thức phi kinh tế dới dạng
vàng, ngoại tệ dự trữ: 44%, đất đai và nhà ở: 20%. Chỉ có khoảng 19% tổng
nguồn vốn trong dân c đợc đầu t và mang tính tự phát kinh tế hộ gia đình.
Điều này cho thấy sức hút của các NHTM và các TCTD cha đủ mạnh.
Những năm gần đây, yêu cầu của quá trình CNH HĐH đòi hỏi
một nguồn vốn lớn. Xuất phát từ nhu cầu đó, Nhà nớc đã mở rộng các hình
thức huy động vốn trong dân c thông qua hàng loạt các hình thức tiết kiệm
ngắn hạn và dài hạn với lãi suất tơng đối phù hợp với sự biến động của thị
trờng cùng với sự tăng cờng hoạt động của các thị trờng tiền tệ. Nhờ đó tốc
độ dù mức độ huy động vốn thông qua hoạt động của hệ thống NH &
TCTD có tăng lên. Tuy nhiên nhìn chung, vốn vẫn còn ứ đọng trong dân c
với số lợng lớn dới hình thức phi kinh tế.
Thị trờng tài chính tiền tệ còn thật sự cha phát triển. Thị trờng liên
ngân hàng ra đời từ 1993 nhng hoạt động một cách yếu ớt và thiếu hiệu quả.
Đặc biệt kể từ 1996 đến nay, tình trạng sử dụng vốn tín dụng lẫn nhau giữa
các TCTD hầu nh không đáng kể. Mặt khác, các giao dịch phần lớn mang
tính một chiều và hình thành nên hai nhóm khách hàng chủ yếu: các ngân
hàng cho vay là các NHTMQD và các ngân hàng đi vay là các ngân hàng n-
ớc ngoài và các NHTMCP. Kèm theo đó lãi suất cũng chỉ đợc công bố một
quá trình đổi mới chính sách lãi suất thời gian qua là để giúp chúng ta hình
dung rõ nét những thành công và hạn chế, từ đó rút ra đợc những kinh
nghiệm cho một chính sách lãi suất mới thích hợp hơn trong tơng lai.
Có thể nói, trớc 1986, nớc ta thực sự cha tồn tại một chính sách lãi
suất theo đúng nghĩa. Một biểu lãi suất đ ợc quy định rất chi tiết theo quyết
định 85/QĐ-NH(10.1982) đợc cố định trong nhiều năm là kết quả của việc
áp dụng gần nh nguyên mẫu mô hình cũ của Liên Xô. Thậm chí, có nhiều
14
loại cho vay với mức lãi suất giống hệt Liên Xô. Điều này dờng nh hết sức
vô lý song lại rất logic trong điều kiện kinh tế Việt Nam lúc bấy giờ.
Giai đoạn 1986-1989, chính sách lãi suất có những bớc đột phá đầu
tiên với quyết định 125/QĐ- NH trên cơ sở sửa đổi và thay thế một số mức
lãi suất đã tạo ra sự thay đổi căn bản trong t tởng chỉ đạo điều hành chính
sách lãi suất của Việt Nam. Lãi suất đợc công nhận nh là một công cụ điều
tiết vĩ mô và kiểm soát lạm phát. Tuy nhiên, nguyên tắc hình thành lãi suất
bị vi phạm nghiêm trọng, đẩy lãi suất thời kỳ này luôn trong trạng thái âm.
Biểu lãi suất đợc quy định quá chi tiết, tỷ mỉ, gây khó khăn phức tạp cho
việc thực hiện. Thực tế, chính sách lãi suất trong giai đoạn này ở tình trạng
chung là: cả ngời gửi tiền, ngân hàng và doanh nghiệp đều lỗ. Những khoản
lỗ này đợc Nhà nớc bù đắp cho ngành Ngân hàng và các doanh nghiệp
ngoài quốc doanh bằng hai hình thức : phát hành tiền và vay nợ nớc ngoài
càng làm cho tình trạng khó khăn hơn.
Từ tháng 10.1986 đến tháng 7.1987, mặc dù NHTW đã ba lần điều
chỉnh lãi suất nhng chính sách lãi suất vẫn cha thực sự là một công cụ hữu
hiệu của chính sách tiền tệ.
Tháng 3.1989, quyết định số 39/HĐBT đã công nhận những nguyên
tắc hình thành lãi suất, chủ động chuyển lãi suất âm qua lãi suất dơng. Để
thu hút tiền thừa trong lu thông, kiềm chế lạm phát, tránh bao cấp qua lãi
suất ngân hàng, NHTW đã nâng lãi suất huy động lên mức rất cao trong
một thời gian ngắn( lãi suất tiết kiệm không kỳ hạn là 9%/ tháng,kỳ 3 tháng
ngắn hạn xuống 1,25% / tháng và khống chế chênh lệch tối đa (0,35%)
khiến nhiều ngân hàng thơng mại, đặc biệt là ngân hàng nông nghiệp,
doanh nghiệp và nông dân còn gặp nhiều khó khăn.
Từ thực tế này, quyết định 381/QĐ-NH1 ngày 28.12.1995 đã chấm
dứt việc định ra các mức lãi suất cụ thể để, tạo điều kiện cho các ngân hàng
chủ động, linh hoạt hơn trong xác định lãi suất.
Năm 1996, NHNN tiếp tục điều chỉnh lãi suất ba lần và hai lần sau
đó vào 1998.
16
(Đơn vị : % / tháng)
Quyết định
điều chỉnh
Thời điểm Trần lãi suất cho
vay ngắn hạn
Trần lãi suất cho
vay trung và dài hạn
191/QĐ-NH1 15/07/1996 1.6 1,65
255/QĐ-NH1 27/08/1996 1,50 1,55
266/QĐ-NH1 27/09/1996 1,25 1,35
197/QĐ-NH1 28/06/1997 1,00 1,25
39/QĐ-NH1 17/01/1998 1,20 1,25
Lãi suất cho vay năm 1996 đã đợc điều chỉnh theo hớng giảm mạnh
đã giúp cho các doanh nghiệp giảm đợc chi phí và giá thành trong việc vay
vốn cho sản xuất kinh doanh, đồng thời mạnh dạn hơn trong thực hiện các
dự án cho vay, đầu t phát triển và đổi mới công nghệ.
Tuy nhiên, trớc khi NHNN chính thức công bố lãi suất trần, các ngân
hàng thơng mại đã tiến hành điều chỉnh hạ thấp lãi suất cho vay để tăng c-
ờng thu hút khách hàng. Hiện tợng này diễn ra âm thầm, tự phát nhng
không kém phần quyết liệt và tập trung ở các thành phố, đô thị lớn, nơi hệ
thống ngân hàng phát triển mạnh. Điều này đã dẫn tới tình trạng lãi suất ở
tháng, cho vay trung và dài hạn từ 1,1%/ tháng lên 1,25%/ tháng và nâng lãi
suất tái cấp vốn cho các TCTD từ 0,9%/ tháng lên 1,1%/ tháng(quyết định
40/1998/QĐ ngày 17.1.1998).
Mặc dù có một số u điểm nhất định song vẫn tồn tại những áp lực
làm giảm lãi suất cho vay nh nền kinh tế ít nhiều chịu ảnh hởng của cơn bão
tiền tệ nên tăng trởng chậm lại, khả năng cạnh tranh của hàng hoá kém, vốn
tự có của doanh nghiệp nhỏ, chênh lệch giữa trần lãi suất cho vay trung và
dài hạn với trần lãi suất cho vay ngắn hạn là 0,05%/ tháng cha đủ bù đắp rủi
ro và kích thích các TCTD mở rộng cho vay trung và dài hạn. Tuy nhiên khả
năng giảm lãi suất cho vay này là không khả thi.
Từ 11.9.1998, quyết định số 309/1998/QĐ-NHNN1 điều chỉnh trần
lãi suất cho vay bằng đồng Đôla Mỹ giảm từ 8,5%/ năm xuống 7,5%/ năm
cho phù hợp với lãi suất SIBOR, LIBOR hiện hành đồng thời quy định lại
lãi suất tiền gửi tối đa của các pháp nhân tại các TCTD.
Năm 1999, NHNN tiếp tục thực hiện quản lý và điều hành chính sách
lãi suất tín dụng theo cơ chế lãi suất trần và lãi suất tái cấp vốn đối với các
TCTD. Trần lãi suất năm 1999 đợc NHNN điều chỉnh liên tục cho phù hợp
với chỉ số lạm phát, quan hệ cung cầu vốn tín dụng, góp phần thực hiện giải
pháp kích cầu đầu t của Chính Phủ thông qua cơ chế nới lỏng lãi suất tín
18
dụng. Đây đợc coi là năm lãi suất đợc điều chỉnh nhiều nhất và có xu hớng
giảm dần và tiếp tục kéo dài tới năm 2000.
(Đơn vị: %/ tháng)
Quyết định điều
chỉnh
Thời điểm Trần lãi suất cho
vay ngắn hạn
Trần lãi suất cho
vay trung, dài hạn
01/1999/CT-NH1 17.1.1999 1,2 1,25
những cải thiện đáng ghi nhận, song cha thực sự ổn định. NHNN nhiều lần
điều chỉnh trần lãi suất cho vay không hẳn xuất phát từ việc chủ động điều
hành chính sách lãi suất mà là chạy theo mặt bằng lãi suất chung của các
ngân hàng. Điều này chứng tỏ công cụ điều hành lãi suất của NHNN bằng
trần lãi suất đối với các TCTD không còn phát huy vai trò cơ sở điều chỉnh
lãi suất trên thị trờng nữa mà cần thiết phải có một cợ chế mới phù hợp hơn.
2.2 Chính sách lãi suất hiện nay.
2.2.1 Giải pháp tự do hoá lãi suất có sự điều tiết của Nhà nớc đối với
Việt Nam hiện nay.
Tự do hoá lãi suất nh đã nói ở trên đợc xác định là bớc đi tất yếu của
Việt Nam trên con đờng hội nhập thế giới. Tuy nhiên, tự do hoá lãi suất đối
với Việt Nam thời điểm này cha phải là thích hợp. Giải pháp đối với Việt
Nam hiện nay chính là từng bớc thực hiện các bớc đi đầy đủ và cần thiết để
tiến tới tự do hoá lãi suất, trớc mắt thực hiện tự do hoá lãi suất có sự điều
tiết của Nhà nớc.
2.2.1.1 Thế nào là tự do hoá lãi suất có sự điều tiết của Nhà nớc.
Tự do hoá lãi suất có sự điều tiết của Nhà nớc là hình thức mà lãi suất
trên thị trờng đợc tự do biến động theo tơng quan cung cầu về vốn trên thị
trờng, NHNN tham gia vào cơ chế điều chỉnh lãi suất chỉ khi cần thiết nhằm
thực hiện những mục tiêu của chính sách tiền tệ thông qua các công cụ gián
tiếp là lãi suất tái chiết khấu.
ở đây, hành vi tái chiết khấu này có tác dụng cung ứng nguồn vốn
cho các ngân hàng thơng mại thông qua vai trò ngời cho vay cuối cùng của
NHTW. Lãi suất chiết khấu tác động và có ý nghĩa hớng dẫn lãi suất thị tr-
ờng thông qua cơ chế: Trong trờng hợp cần hạn chế khả năng mở rộng tín
dụng của hệ thống ngân hàng, NHTW có thể nâng lãi suất tái chiết khấu
buộc các ngân hàng thơng mại phải tăng dự trữ để tránh phải vay với lãi
suất cao khi xuất hiện sự thiếu hụt khả năng thanh toán. Đồng thời, để bù
đắp chi phí do việc phải tăng dự trữ , các NHTM tăng lãi suất cho vay và cứ
20
và đội ngũ cán bộ còn cha đáp ứng tốt yêu cầu khách quan cũng nh sự phát
triển và ứng dụng công nghệ mới trong ngân hàng.
21
Bên cạnh đó, các công cụ của chính sách tiền tệ của NHTW còn bị
hạn chế, nhiều công cụ mới chỉ ở thời kỳ đầu thử nghiệm. Việc xoá bỏ quản
lý trực tiếp bằng lãi suất đòi hỏi phải xây dựng và phát triển các công cụ
điều hành gián tiếp.
Ngoài ra, ổn định kinh tế vĩ mô của Việt Nam còn cha thực sự vững
chắc. Một thời gian dài nền kinh tế rơi vào tình trạng thiểu phát, đầu t giảm
sút.
2.2.1.3 Tác động tích cực khi thực thi tự do hoá lãi suất có sự điều tiết của
nhà nớc.
Chính sách lãi suất mới sẽ khiến cho các NHTM có thêm tính tự chủ
trong hoạt động của mình. Trên cơ sở tính toán và mục tiêu kinh doanh, mỗi
ngân hàng sẽ đẩy mạnh sử dụng u thế của lãi suất và các lợi thế vốn có
nhằm kiếm tìm thị trờng, thúc đẩy các hoạt động cho vay, thực hiện kinh
doanh có hiệu quả. Đồng thời, thông qua đó lợi ích của ngời gửi tiền và cho
vay đợc đề cao và đợc bảo vệ một cách tích cực hơn.
Khi đó, cùng với tác động của các công cụ gián tiếp của chính sách
tiền tệ, thị trờng, đặc biệt là thị truờng tài chính, trở nên có hiệu quả, phù
hợp với các quy luật khách quan.
2.2.2 Cơ chế điều hành lãi suất cơ bản.
Chính thức kể từ ngày 5.8.2000, NHTW ấn định lãi suất cơ bản, lãi
suất tái cấp vốn và lãi suất chiết khấu.
2.2.2.1 Nội dung chủ yếu
Theo luật NHNN Việt Nam, lãi suất cơ bản là lãi suất do NHNN
công bố làm cơ sở cho các tổ chức tín dụng ấn định lãi suất kinh
doanh(Điều 9). Theo đó, lãi suất cơ bản đợc hình thành trên cơ sở NHNN
tham khảo lãi suất của một nhóm các ngân hàng.
Đặc thù của lãi suất cơ bản là tính chất đợc điều hành và tác động
tháng+1%/năm; cho vay trung và dài hạn không vợt quá lãi suất SIBOR
+2,5%/năm. Đối với các ngoại tệ khác, NHTW cho phép các NHTM tự xem
xét quyết định lãi suất tiền gửi, lãi suất cho vay trên cơ sở lãi suất thị trờng
quốc tế và cung cầu vốn tín dụng của từng loại ngoại tệ trong nớc.
Sau một thời gian thực hiện, mặc dù cơ chế điều hành lãi suất ngoại
tệ nói trên đã phần nào tạo đợc điều kiện thuận lợi cho các tổ chức tín dụng
ấn định lãi suất huy động, tăng khả năng huy động và cho vay bằng ngoại tệ
nhng cơ chế này vẫn còn nhiều tồn tại. Thực tế là có chịu tác động của cung
23
cầu vốn trong nớc nhng lãi suất đồng Đôla Mỹ chỉ thực sự chịu sự chi phối
của NHTW Mỹ và thị trờng quốc tế. Do đó sự can thiệp của các quốc gia
vào lãi suất này thờng không có hiệu lực. Sau một loạt những điều chỉnh
của NHTW Mỹ kể từ đầu năm 2001( 9 lần ) làm cho lãi suất Đôla Mỹ trên
thị trờng giảm xuống thấp cha từng có đã chứng minh rõ điều này. Nhận
thức rõ vấn đề này, ngày 21.5.2001 NHNN đã ra thông báo 420 quy định
thay đổi cơ chế điều hành lãi suất ngoại tệ, theo đó cho phép các tổ chức tín
dụng ấn định lãi suất cho vay bằng Đôla Mỹ theo thoả thuận với khách
hàng trên cơ sở lãi suất thị trờng quốc tế và cung cầu ngoại tệ trong nớc.
2.2.2.2 Ưu điểm của cơ chế điều hành lãi suất cơ bản.
Việc đa lãi suất cơ bản vào hoạt động là một bớc tiến mới trong quá
trình tự do hoá lãi suất ,thúc đẩy sự ổn định và tăng trởng kinh tế, làm tăng
tính cạnh tranh lành mạnh giữa các TCTD.
Với việc sử dụng lãi suất cơ bản, NHNN đã thật sự nới lỏng cơ chế
điều hành lãi suất, không gây ra những áp đặt lãi suất quá cứng nhắc nh tr-
ớc mà đã xem xét đến những tín hiệu thị trờng đồng thời không hề buông
lỏng vai trò quản lý của mình. Cơ chế lãi suất này cho phép tạo ra một sự
hài hoà giữa hai vấn đề thị trờng và sự quản lý của Nhà nớc, tạo ra đợc
hành lang phù hợp cho một môi trờng cạnh tranh lành mạnh. Nó cho phép
các tổ chức tín dụng phát huy tính tự chủ,năng động sáng tạo trong xác
định lãi suất kinh doanh cho mình dao động xung quanh lãi suất cơ bản
tranh giành lấy khách hàng, làm cho các NHTMCP, vốn nhỏ bé hơn về tiềm
lực tài chính, rơi vào tình trạng khó khăn. Hơn nữa, biên độ dao động quá
rộng không có lợi cho ngời vay vốn, nhất là ở các địa bàn ít có môi trờng
cạnh tranh.
Trên đây là một số bất cập mà NHNN cần xem xét để có kế hoạch
khắc phục, từ đó có thể đa ra những biện pháp hữu hiệu đẩy nhanh quá trình
tiến tới thực hiện một phần và hoàn toàn tự do hoá lãi suất ở Việt Nam.
25