giải pháp mở rộng và nâng cao hiệu quả hoạt động thanh toán qua thẻ tại ngân hàng thương mại cổ phần á châu - Pdf 23

Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân hàng
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với việc Việt Nam chính thức gia nhập WTO vào năm 2007 cho đến nay,
các hiệp định thương mại giữa Việt Nam và các nước được kí kết, nền kinh tế nước ta
tăng trưởng liên tục với tốc độ cao, đời sống của đại bộ phận dân cư ngày càng được
cải thiện. Điều đó đã tạo tiền đề thuận lợi cho các dịch vụ ngân hàng bán lẻ, trong đó
có dịch vụ thẻ tại Việt Nam phát triển mạnh mẽ và đạt được những thành quả rất đáng
ghi nhận, góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Dịch vụ thẻ xuất hiện trên thế giới từ những thập kỉ đầu của thế kỉ XX và phát
triển mạnh trên thế giới khoảng 30 năm trở lại đây. Ở Việt Nam, dịch vụ thẻ được biết
đến hơn 15 năm trước nhưng phải đến 1999 thị trường thẻ mới thực sự trở nên sôi
động khi có sự tham gia của nhiểu ngân hàng. Tính đến tháng 12/2007 đã có 29 tổ
chức phát hành thẻ, trong đó có 5 NHTM nhà nước, 19 NH TMCP, 4 ngân hàng liên
doanh và chi nhánh ngân hàng nước ngoài, 1 tổ chức phát hành thẻ phi ngân hàng. Cơ
sở hạ tầng phục vụ cho hoạt động thẻ không ngừng lớn mạnh, với 4280 mấy ATM;
22.959 thiết bị ngoại vi (POS, EDC )
Số lượng thẻ phát hành tăng cả về số lượng và chủng loại với 120 thương hiệu
thẻ, trong đó phân theo phạm vi thì thẻ nội địa 71 loại ( 61% ) thẻ quốc tế 49 loại
( 41% ); Phân theo nguồn tài chính, thẻ ghi nợ 73 loại( 61%); thẻ tín dụng 44 loại
( 37% ) và sự xuất hiện của thẻ trả trước 3 loại (2% ). Trong thời gian tới, thị trường
thẻ Việt Nam sẽ tiếp tục phát triển mạnh, là một thị trường đầy tiềm năng, hứa hẹn
mang lại nhiểu lợi ích cho người sử dụng cũng như lợi nhuận cho các tổ chức trong và
ngoài nước hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng.
Dịch vụ thẻ phát triển giúp cho khách hàng ngày càng tiếp cận dễ dàng hơn với
các dịch vụ thanh toán hiện đại, thúc đẩy các NHTM tiếp tục phát triển mảng dịch vụ
thanh toán áp dụng công nghệ cao như dịch vụ home banking, internet banking,
mobile banking dự kiến cuối năm 2020 toàn thị trường đạt mức phát hành 30 triệu
thẻ, trong đó 95% các trung tâm thương mại, siêu thị, nhà hàng lắp đặt các thiết bị
chấp nhận thanh toán thẻ.
Với 20 năm xây dựng và trưởng thành trong lĩnh vực phát triển dịch vụ thẻ,

thẻ tại Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Á Châu
Sv: Lê Thị Bích Ngọc Lớp: LTĐH8 NHE
2
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân hàng
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ MỞ RỘNG VÀ THANH TOÁN THẺ
TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN Á CHÂU
1.1. Khái niệm, đặc điểm cấu tạo và phân loại thẻ ngân hàng
1.1.1. Khái niệm
Thẻ là phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt do ngân hàng phát hành thẻ
cấp cho khách hàng sử dụng để thanh toán hàng hoá dịch vụ tại các điểm cung ứng
hàng hoá dịch vụ có ký hợp đồng thanh toán với ngân hàng, rút tiền mặt tại các máy
rút tiền tự động hay các ngân hàng đại lý trong phạm vi số dư tiền gửi của mình hoặc
hạn mức tín dụng được cấp. Thẻ còn được dùng để thực hiện nhiều dịch vụ khác thông
qua hệ thống giao dịch tự động ATM như chuyển khoản, tra vấn thông tin tài khoản,
thông tin các khoản chi phí sinh hoạt…
1.1.2. Đặc điểm cấu tạo
Kể từ khi ra đời đến nay, thẻ ngân hàng đã có sự thay đổi khá lớn về nội dung và
hình thức nhằm tăng độ an toàn và tính tiện dụng cho khách hàng.
Nguyên tắc của việc chế tạo và sử dụng thẻ dựa trên một loạt thành tựu của
ngành công nghệ thông tin, đặc biệt kĩ thuật mã hóa từ tình, hiện đại nhất là công nghệ
sử dụng các vi mạch điện tử.
Thẻ được làm từ nhựa cứng, hình chữ nhật với kích thước chuẩn hóa quốc tế là
54mm *84mm, dày 1mm, có 4 góc tròn. Thẻ có ba lớp, lõi thẻ là nhựa cứng màu trắng,
ở giữa có hai lớp nhựa tráng mỏng. Màu sắc thẻ có thể khác nhau tùy theo quy định
của từng ngân hàng phát hành. Hai mặt của thẻ chứa những thông tin và ký hiệu khác
nhau, cụ thể:
- Mặt trước thẻ: Nếu là thẻ quốc tế thì có thương hiệu tổ chức thẻ, đồng thời thể
hiện loại thẻ, Visa, Master Card tên tổ chức phát hành thẻ, biểu tượng thẻ, 16 số thẻ,
họ tên, ngày hiệu lực thẻ

hoá, dịch vụ tại những cơ sở kinh doanh, khách sạn, sân bay chấp nhận loại thẻ này.
Gọi đây là thẻ tín dụng vì chủ thẻ được ứng trước một hạn mức tiêu dùng mà
không phải trả tiền ngay, chỉ thanh toán sau một kỳ hạn nhất định. Cũng từ đặc điểm
trên mà người ta còn gọi thẻ tín dụng là thẻ ghi nợ hoãn hiệu (delayed debit card) hay
chậm trả.
- Thẻ ghi nợ (Debit card): đây là loại thẻ có quan hệ trực tiếp và gắn liền với tài
khoản tiền gửi. Loại thẻ này khi đợc sử dụng để mua hàng hoá hay dịch vụ, giá trị
những giao dịch sẽ được khấu trừ ngay lập tức vào tài khoản của chủ thẻ thông qua
những thiết bị điện tử đặt tại cửa hàng, khách sạn đồng thời chuyển ngân ngay lập
tức vào tài khoản của cửa hàng, khách sạn Thẻ ghi nợ còn hay được sử dụng để rút
tiền mặt tại máy rút tiền tự động.
Thẻ ghi nợ không có hạn mức tín dụng vì nó phụ thuôc vào số dư hiện hữu trên
tài khoản của chủ thẻ.
Có hai loại thẻ ghi nợ cơ bản:
- Thẻ online: là loại thẻ mà giá trị những giao dịch được khấu trừ ngay lập tức
vào tài khoản chủ thẻ.
- Thẻ offline: là loại thẻ mà giá trị những giao dịch đợc khấu trừ vào tài khoản
chủ thẻ sau đó vài ngày.
Sv: Lê Thị Bích Ngọc Lớp: LTĐH8 NHE
4
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân hàng
- Thẻ rút tiền mặt (Cash card): là loại thẻ rút tiền mặt tại các máy rút tiền tự động
hoặc ở ngân hàng. Với chức năng chuyên biệt chỉ dùng để rút tiền, yêu cầu đặt ra đối
với loại thẻ này là chủ thẻ phải ký quỹ tiền gởi vào tài khoản ngân hàng hoặc chủ thẻ
được cấp tín dụng thấu chi mới sử dụng được.
Thẻ rút tiền mặt có hai loại:
Loại 1: chỉ rút tiền tại những máy tự động của Ngân hàng phát hành.
Loại 2: được sử dụng để rút tiền không chỉ ở Ngân hàng phát hành mà còn được
sử dụng để rút tiền ở các Ngân hàng cùng tham gia tổ chức thanh toán với Ngân hàng
phát hành thẻ.

thanh toán thẻ như: Cửa hàng, khách hàng …Các đơn vị này được trang bị máy móc kỹ
thuật để tiếp nhận thẻ thanh toán tiền hàng, dịch vụ, trả nợ thay tiền mặt.
- Ngân hàng phát hành (Issuing Bank)
NHPH là thành viên chính thức của tổ chức thẻ quốc tế, là NH chuẩn bị (cung
cấp) thẻ cho KH. NH có trách nhiệm tiếp nhận hồ sơ xin cấp thẻ, xử lý và phát hành
thẻ, mở và quản lý tài khoản, đồng thời thực hiện việc thanh toán cuối cùng với chủ
thẻ, cung cấp các thiết bị máy móc đơn vị chấp nhận thẻ. Ngoài ra NHPH, trong một
số trường hợp còn đóng vai trò là NHTT. Vì vậy nó có thêm trách nhiệm và quyền hạn
của NHTT trong những trường hợp đó.
- Ngân hàng thanh toán hay ngân hàng đại lý (Aquirer)
NHTT là NH trực tiếp ký hợp đồng với cơ sở tiếp nhận và thanh toán các chứng
từ giao dịch do cơ sở chấp nhận thẻ xuất trình. Một NH có thể vừa đóng vai trò NHTT
vừa đóng vai trò là NHPH.
- Chủ thẻ (Cardholedr)
Là người có tên ghi trên thẻ được dùng thẻ để chi trả, thanh toán tiền hàng, dịch
vụ thay tiền mặt. Chỉ có chủ thẻ mới sử dụng thẻ của mình mà thôi. Mỗi khi thanh toán
cho cơ sở chấp nhận thẻ về hàng hoá, dịch vụ hoặc trả nợ, chủ thẻ phải xuất trình thẻ
để nơi đây kiểm tra theo quy định và lập biên lai thanh toán. Một chủ thẻ có thể sử
dụng một hoặc nhiều thẻ.
1.2.3. Vai trò và lợi ích của thẻ
1.2.3.1. Vai trò của thẻ
a/ Đối với nền kinh tế: Thanh toán bằng thẻ giúp loại bỏ một khối lượng tiền mặt
rất lớn lẽ ra phải lưu chuyển trực tiếp trong lưu thông để thanh toán các khoản mua
hàng, trả tiền dịch vụ trong cơ chế thị trường đang ngày càng sôi động, phát triển ở tất
cả các nước, loại hình thanh toán này cũng không đòi hỏi nhiều thủ tục giấy tờ. Do đó
sẽ tiết kiệm được một khối lượng đáng kể về chi phí in ấn, chi phí bảo quản, vận
chuyển Với hình thức thanh toán hiện đại, nhanh chóng, an toàn, hiệu quả này sẽ thúc
đẩy nền kinh tế phát triển, giúp nhà nước quản lí nền kinh tế cả về vi mô và vĩ mô.
Việc áp dụng công nghệ hiện đại của việc phát hành và thanh toán thẻ quốc tế sẽ tạo
điều kiện cho việc hội nhập nền kinh tế Việt Nam với nền kinh tế thế giới.

c/ Đối với ngân hàng:
- Ngân hàng phát hành thẻ (NHPHT): Thực hiện tham gia thanh toán thẻ, ngân hàng
có thể đa dạng hoá các dịch vụ của mình, thu hút được những khách hàng mới làm quen
với dịch vụ thẻ và các dịch vụ khác do ngân hàng cung cấp, vừa giữ được những khách
hàng cũ. Mặt khác thông qua hoạt động phát hành, thanh toán thẻ ngân hàng có thể thu
hút một nguồn vốn lớn để bổ sung vào nguồn vốn ngắn hạn từ hoạt động thu phí và lãi do
việc phát hành thẻ mang lại. Cũng thông qua đó, uy tín và danh tiếng của ngân hàng được
nâng lên nhờ việc cung cấp các dịch vụ đầy đủ (full service).
- Ngân hàng thanh toán thẻ (NHTTT): Ngân hàng thu hút được nhiêù khách hàng
đến với ngân hàng mình, sử dụng các sản phẩm do ngân hàng cung cấp. Từ đó làm
tăng doanh thu, tăng lợi nhuận thông qua hoạt động thu phí chiết khấu đại lí từ hoạt
động thanh toán đại lí. Qua đó cũng làm tăng uy tín của ngân hàng trong nền kinh tế.
1.2.4. Rủi ro trong hoạt động dịch vụ thẻ và biện pháp phòng ngừa
Trong hoạt động kinh doanh không thể tránh được những rủi ro, đặc biệt với
ngân hàng, một lĩnh vực kinh doanh nhạy cảm.
Sv: Lê Thị Bích Ngọc Lớp: LTĐH8 NHE
7
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân hàng
1.2.4.1. Rủi ro trong khâu phát hành
a/ Đơn xin phát hành với những thông tin giả (Fraudulment Application).
Ngân hàng có thể phát hành thẻ cho khách hàng với những thông tin giả mạo do
không thẩm định kỹ các thông tin của khách hàng trên hồ sơ xin phát hành thẻ. Tuy
thế có thể khẳng định rằng tỷ lệ phát sinh loại rủi ro này là rất thấp, bởi vì trong thực
tế, khác với nhiều loại hình kinh doanh khác hợp đồng thẻ dễ kiểm chứng và có đảm
bảo cao (có thế chấp và có số dư tiền gửi tại ngân hàng và có theo dõi dòng thu nhập
của chủ thẻ). Trường hợp rủi ro này có thể dẫn đến các rủi ro về tín dụng cho NHPH
khi chủ thẻ sử dụng thẻ mà không có khả năng thanh toán các khoản chi tiêu của họ,
hoặc có những hành vi lừa đảo.
b/ Thẻ giả (Counterfeit Card).
Thẻ do các tổ chức tội phạm hoặc cá nhân làm giả căn cứ vào các thông tin có

hàng phát hành thẻ.
b/ Tạo băng từ giả (Skimming).
Đây là loại giả mạo giao dịch thẻ sử dụng công nghệ kỹ thuật cao trên cơ sở thu
thập thông tin trên băng từ của chủ thẻ thanh toán tại các cơ sở chấp nhận thẻ. Các tổ
chức tội phạm làm thẻ giả sử dụng các phần mềm riêng rẽ để mã hoá và tạo các băng
từ trên thẻ giả, sau đó sẽ thực hiện các giao dịch giả mạo. Trong trường hợp này dẫn
đến các rủi ro cho ngân hàng thanh toán, ngân hàng phát hành và chủ thẻ. Loại giả
mạo này đang có xu hướng gia tăng ở các nước có hoạt dộng kinh doanh thẻ phát triển.
c/ Rủi ro về đạo đức.
Rủi ro này phát sinh khi nhân viên các cơ sở chấp nhận thẻ đã cố tình in ra nhiều
bộ hoá đơn thanh toán thẻ, nhưng chỉ giao một bộ hoá đơn cho chủ thẻ ký thanh toán.
Sau đó bộ hoá đơn in dư sẽ bị giả mạo chữ ký của khách hàng để yêu cầu ngân hàng
thanh toán chi trả. Thiệt hại xảy ra có thể làm ảnh hưởng đến ngân hàng thanh toán và
ngân hàng phát hành.
Ngoài các rủi ro chính trên, còn một số nguy cơ rủi ro khác có thể xuất hiện nếu
ngân hàng thành viên không chú trọng đúng mức tới việc quản lí hệ thống xử lí dữ liệu
và quản trị hệ thống kỹ thuật…
1.2.5. Hoạt động kinh doanh thẻ tại các NHTM
1.2.5.1. Cơ chế phát hành thẻ
* Hình thức phát hành thẻ:
Thẻ ngân hàng ra đời gắn với nó là hai hình thức phát hành thẻ đã được áp dụng:
Phát hành đơn lẻ: Đậy là hình thức phát hành đầu tiên khi thẻ ra đời. Việc phát
hành thanh toán và các điểm tiếp nhận thẻ thuộc về một ngân hàng. Tiện ích thanh
toán của thẻ phụ thuộc vào phạm vi của những điểm tiếp nhận thẻ có kí hợp đồng với
ngân hàng phát hành. Đối với ngân hàng chi phí cho việc phát hành thẻ và phát triển
mạng lưới chấp nhận thẻ là rất lớn. Như vậy sẽ làm giảm lợi nhuận và lợi ích của việc
kinh doanh thẻ cho ngân hàng. Chính vì những nhược điểm này mà hệ thống thanh toán
liên ngân hàng đã được thành lập.
Phát hành tập thể : Hai tổ chức thanh toán thẻ quốc tế MASTERCARD và
VISACARD được thành lập cuối những năm 1970 đã đặt ra một mốc quan trọng cho

Bước 1: Khách hàng gửi đơn, hồ sơ cần thiết yêu cầu được sử dụng thẻ đến ngân
hàng và phải đáp ứng được các yêu cầu của ngân hàng về độ tuổi, thu nhập Đồng
thời, khách hàng phải cung cấp đầy đủ các thông tin cần thiết như họ tên, địa chỉ, cơ
quan công tác, số chứng minh thư cho ngân hàng.
Bước 2: Ngân hàng căn cứ vào hồ sơ yêu cầu phát hành thẻ của khách hàng, bộ
phận thẩm định sẽ tiến hành thẩm tra hồ sơ và ra quyết định chấp nhận hoặc từ chối phát
hành. Với những hồ sơ được chấp nhận, chi nhánh phát hành thẻ tiến hành gửi hồ sơ, hợp
đồng ký kết tới trung tâm thẻ, đồng thời xác định hạn mức cho khách hàng.
Bước 3: Trung tâm thẻ sẽ tiến hành mở tài khoản thẻ cho khách hàng cập nhật hồ sơ
và tiến hành in thẻ. Sau khi xác định số PIN, thẻ được giao lại cho bộ phận phát hành.
Quy trình phát hành thẻ, đặc biệt là số PIN phải được đảm bảo giữ bí mật.
- Chủ thẻ ký nhận và ký vào mặt sau - Gửi thẻ và mã cá nhân
Sv: Lê Thị Bích Ngọc Lớp: LTĐH8 NHE
10
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân hàng
- Gửi thẻ và mã số cá nhân cho chủ thẻ - Thẻ và mã cá nhân phải gửi riêng
1.2.5.4. Quy trình phát hành, sử dụng và thanh toán thẻ
Hoạt động phát hành và thanh toán thẻ ở mỗi một quốc gia và mỗi một ngân
hàng là khác nhau về thủ tục và các điều kiện, do còn nhiều yếu tố ràng buộc về luật
pháp, chính trị, trình độ phát triển dân trí hay điều kiện kinh tế -xã hội. Song về tổng
thể nó gồm những nội dung cơ bản sau:
Sơ đồ 1.1: Quy trình nghiệp vụ phát hành, sử dụng và thanh toán thẻ

Khi một khách hàng có nhu cầu sử dụng thẻ (1), Ngân hàng phát hành yêu cầu
khách hàng cung cấp các hồ sơ cần thiết theo quy định để có thể phát hành thẻ cho
khách hàng, các giấy tờ tuỳ theo quy định của từng ngân hàng, của từng quốc gia
nhưng về cơ bản là chứng minh nhân dân khách hàng, khả năng thanh toán của khách
hàng và các tổ chức cá nhân có quan hệ.
Sau khi thẩm định hồ sơ, nếu khách hàng đủ điều kiện làm thẻ, ngân hàng sẽ phát
hành thẻ cho khách hàng (2), hướng dẫn cách sử dụng và bảo quản thẻ. Chủ thẻ khi sử

vụ, ứng
rút
tiền mặt
(3)
(5)
(4) (6) (7)
(7)
(4) (6)
Qui trình cấp phép
Qui trình đòi tiền
(4)
(6)
Qui trình thanh toán
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân hàng
dụng thẻ để thanh toán tiền hàng hoá dịch vụ hay rút tiền mặt tại các đơn vị chấp nhận
thẻ (3), đại lý sẽ phải kiểm tra khả năng thanh toán của thẻ bằng cách xin chuẩn chi
của ngân hàng thanh toán. Nếu thẻ không vấn đề gì, ngân hàng cấp phép chuẩn chi (4)
và báo cho đơn vị chấp nhận thẻ biết. Đơn vị chấp nhận thẻ khi đó sẽ yêu cầu chủ thẻ
ký tên lên hoá đơn (đảm bảo chữ ký trên hoá đơn phải giống chữ ký trên thẻ) và cung
cấp hàng hoá, dịch vụ hay ứng rút tiền mặt cho khách hàng (5). Đơn vị chấp nhận thẻ
nhận tiền thanh toán từ ngân hàng thanh toán (6) sau khi nộp lại hoá đơn cho ngân
hàng (nếu là máy cà thẻ), hoặc sau khi tổng kết trên thiết bị đọc thẻ điện tử và bị trừ đi
một khoản chiết khấu đại lý.
Ngân hàng thanh toán sẽ thực hiện đòi tiền từ ngân hàng phát hành (7) thông qua
tổ chức thẻ quốc tế (trường hợp ngân hàng phát hành và ngân hàng thanh toán không
cùng một hệ thống), nhiệm vụ của các tổ chức thẻ quốc tế là ghi nợ vào tài khoản của
ngân hàng phát hành và ghi có cho ngân hàng thanh toán.
Định kỳ hàng tháng vào ngày lập bảng thông báo giao dịch, ngân hàng phát hành
nhận được file dữ liệu sao kê chi tiết về hoạt động của chủ thẻ trong kỳ, sau đó ngân
hàng lập bảng thông báo giao dịch gửi cho chủ thẻ yêu cầu thanh toán.

Bên cạnh những khoản thu từ hoạt động phát hành và thanh toán thẻ, kinh doanh
thẻ cũng phải bỏ ra nhiều loại chi phí, bao gồm:
- Chi phí trong trang bị máy móc thiết bị cho các cơ sở chấp nhận thẻ. Đây là
khoản chi phí liên quan đến tài sản cố định của ngân hàng. Với sự phát triển ngày càng
cao của khoa học kỹ thuật, chi phí này chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng chi phí kinh
doanh thẻ bởi tốc độ hao mòn của máy móc thiết bị. Đây là một khó khăn tương đối
lớn cho việc phát triển thị trường thẻ bởi phần lớn thiết bị đều phải nhập từ nước ngoài
có trình độ khoa học kỹ thuật cao.
- Chi phí in ấn và mã hoá thông tin, quản lý hồ sơ khách hàng: khoản chi này
tương đối ổn định và chiếm một tỷ trọng nhỏ.
- Lệ phí tham gia tổ chức thẻ quốc tế: khoản này được cố định hàng năm và được
tổ chức thẻ quốc tế quy định.
- Các tổn thất do các rủi ro phát sinh
- Tiền lương công nhân viên tham gia hoạt động kinh doanh thẻ: khoản này
tương đối ổn định, có thể tăng theo mức tăng của doanh số kinh doanh thẻ nhưng mức
tăng của nó sẽ chậm hơn mức tăng trưởng của doanh số thanh toán. Chính vì vậy mà
tỷ trọng lương và các khoản phúc lợi xã hội sẽ giảm tương đối so với tỷ trọng chi phí
kinh doanh thẻ.
- Các chi phí khác bao gồm: Chi phí bảo hiểm liên quan đến tài sản cố định, các
khoản trả lãi cho các số dư tài khoản tiền gửi của khách hàng tại ngân hàng và các chi
phí liên quan khác, chi phí cho việc quảng cáo, Marketing sản phẩm thẻ
Ngoài ra, nếu ngân hàng không phát hành đủ số thẻ ký kết hàng năm với tổ chức
thẻ quốc tế thì ngân hàng còn phải chịu phạt một khoản tiền tương ứng với số phát
hành theo hợp đồng.
Có thể nói chi phí cho hoạt động kinh doanh thẻ là rất lớn, chính vì vậy, quản lý
các chi phí là một công việc không thể thiếu trong kinh doanh thẻ.
1.3. Phát triển dịch vụ thẻ tại NHTM
Sv: Lê Thị Bích Ngọc Lớp: LTĐH8 NHE
13
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân hàng

tại các thiết bị thanh toán. Doanh thu từ hoạt động thanh toán thẻ của người dân càng
lớn thể hiện nhu cấu sử dụng thẻ của người dân càng cao ngoài ra còn thu được phí
chênh lệch tỷ giá và phí xử lí giao dịch
Số lượng chủ thẻ trên thị trướng: Phản ánh qui mô khách hàng sử dụng thẻ
Sự đa dạng về sản phẩm thẻ: Từng đối tượng khách hàng khác nhau có nhu cầu
về sử dụng dịch vụ thẻ khác nhau, vì thế cần đưa ra nhiều sản phẩm dịch vụ thẻ phù
Sv: Lê Thị Bích Ngọc Lớp: LTĐH8 NHE
14
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân hàng
hợp với những đối tượng khách hàng nhất định.
Số lượng máy ATM, POS phản ánh độ phủ sóng của dịch vụ thẻ, số lượng càng
nhiều thì khả năng phục vu khách hàng càng lớn,
1.3.2.2. Chỉ tiêu định tính
Đây là những chi tiết quan trọng để khách hàng đưa ra quyết định lựa chọn sử
dụng dịch vụ thẻ của ngân hàng nào.
Giá trị gia tăng của dịch vụ thẻ: Như bảo hiểm, cẩm nang mua sắm với những
địa chỉ ưu đãi giảm giá cho chủ thẻ
Thời gian thực hiện nghiệp vụ: Cho thấy trình độ công nghệ mà ngân hàng ứng
dụng, và trình độ chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ ngân hàng, đặc biệt thái độ phục
vụ của nhân viên ngân hàng điều này tạo nên thương hiệu của một ngân hàng.
1.3.3. Các nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển dịch vụ thẻ của NHTM
1.3.3.1. Các nhân tố chủ quan
- Chiến lược phát triển sản phẩm
Khi tham gia vào bất cứ lĩnh vực nào, ngân hàng đều phải đề ra cho mình mục
đích tham gia thị trường, kế hoạch phát triển và các chiến lược để phát triển thị trường
đó. Với việc hoạch định chiến lược rõ ràng sẽ đem lại hiệu quả cao cho ngân hàng
trong hoạt động đầu tư. Đặc biệt với thị trường thẻ - thị trường còn tương đối mới, việc
đặt ra cho mình kế hoạch ngắn và dài hạn sẽ giúp ngân hàng thành công hơn trong
khai thác thị trường này. Các chiến lược cụ thể được biểu hiện qua các hoạt động
marketing quảng cáo sản phẩm, mở rộng mạng lưới phát hành và thanh toán thẻ. Ngân

vụ thẻ để mọi người biết và hiểu sản phẩm của ngân hàng. Cái nhìn trong công tác
marketing về thẻ không thể chỉ dừng ở mức nhận định nhu cầu thị trường và thoả mãn
nhu cầu đó như mô hình truyền thống mà phải được phát triển lên cao hơn. Nhiệm vụ
của marketing thẻ phải tại ra nhu cầu, tao ra sự ham muốn dành cho sản phẩm.
Việc quảng cáo sản phẩm cũng không thể đánh đồng các loại thẻ mà với mỗi loại
phải xác định được đối tượng khách hàng mục tiêu riêng, từ đó đề ra chiến lược
marketing phù hợp.
- Phát triển sản phẩm mới
Cũng giống như các lĩnh vực kinh doanh khác những sản phẩm mới luôn thu hút
sự quan tâm của khách hàng. Việc không ngừng đưa ra các loại sản phẩm mới với tiện
ích nổi trội hơn sẽ là một yếu tố quan trọng trong hoạt động kinh doanh thẻ nhằm nâng
cao hiệu quả của hoạt động này.
Ngoài ra bên cạnh sản phẩm thẻ sẵn có, ngân hàng có thể phát triển thêm nhiều
dịch vụ mới kèm theo như dịch vụ thanh toán điện tử,…khi đó người tiêu dùng sẽ thấy
thẻ thực sự mang nhiều tiện ích và sẽ ưa chuộng thẻ hơn.
- Nguồn nhân lực
Thẻ là phương tiện thanh toán hiện đại, áp dụng công nghệ cao. Để kinh doanh
thẻ có hiệu quả, đòi hỏi mỗi ngân hàng phải có đội ngũ nhân lực có trình độ, tinh thần
làm việc tốt đảm bảo phát huy cao nhất hiệu quả trong mỗi nghiệp vụ.
1.4. Tình hình phát triển dịch vụ thẻ của một số NHTM và bài
học kinh nghiệm
1.4.1. Tình hình phát triển thẻ của một số NHTM
1.4.1.1. Ngân hàng Công Thương Trung Quốc(ICBC)
Là một trong những ngân hàng mạnh xếp thứ 77 trong 500 doanh nghiệp lớn dẫn
Sv: Lê Thị Bích Ngọc Lớp: LTĐH8 NHE
16
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân hàng
đầu thế giới. Các nhà lãnh đạo của NHCT Trung Quốc đã nhanh chóng nắm bắt được
đặc thù của nước mình đó là Trung Quốc là một nước đông dân trên thế giới, trong hơn
hai thập kỉ qua, nền kinh tế Trung Quốc luôn tăng trưởng với mức độ trung bình 7-8%/

chính tiện ích như gửi rút tiền, chuyển khoản
1.4.1.2 Ngân Hàng Quân Đội Thái Lan ( TMB )
Thái Lan là một trong những nước Đông Nam Á có thị trường thẻ phát triển sớm
Sv: Lê Thị Bích Ngọc Lớp: LTĐH8 NHE
17
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân hàng
và mạnh. Mặc dù chiu ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế khu vực cuối thập kỉ 90
nhưng với sự giúp đỡ của Chính phủ đặc biệt sự chỉ đạo chặt chẽ của NHTW Thái
Lan, NHQĐ Thái Lan vẫn tập trung phát triển dịch vụ thẻ.
- NHTW Thái Lan thắt chặt qui định với thẻ tín dụng: Do sự mở của quá nhanh
của thị trường tín dụng mà NHTW Thái Lan đã cho ra đời những qui định chặt chẽ
hơn với thị trường thẻ tín dụng đang rất phát triển, cụ thể là chủ thẻ phải đạt ít nhất 2
yêu cầu sau:
Thu nhập tối thiểu 15000 bạt/tháng ( 340 USD/tháng )
Lãi suất hàng năm tối đa được hưởng không vượt quá 18%
Kết quả khả quan cho thấy lượng thẻ do ngân hàng phát hành tăng 30% với số dư
tín dụng là 88 tỉ bạt.
- Ngân hàng quân đội Thái Lan xác định rõ đối tượng khách hàng trọng tâm: là
các quân nhân, chính vì vậy không chỉ chú ý đến tiện ích của các sản phẩm thẻ mà còn
cả kiểu dáng màu sắc sao cho phù hợp với ngành nghề
- Thu hút thêm khách hàng du lịch quốc tế. Thái Lan là một quốc gia giàu lên vì
ngành du lịch cực kì phát triển, các công ty du lịch Thái Lan cũng như các hãng hàng
không luôn luôn có những mùa khuyến mại đặc biệt. Chính vì lẽ đó Ngân hàng quân
đội Thái Lan đặc biệt chú trọng đến việc thu hút khách hàng là khách du lịch quốc tế
mở thẻ tín dụng.
1.4.2. Bài học kinh nghiệm đối với các Ngân hàng Việt Nam
Một là, Chính phủ đặc biệt quan tâm đến việc đưa ra những qui định tạo điều
kiện cho dịch vụ thẻ cũng như chú trọng phát triển các ngành có liên quan trực tiếp
hoặc gián tiếp đến lĩnh vực thẻ như các chính sách phát triển thẻ đối với các ngành du
lịch, viễn thông, công nghệ và quan trọng một số môi trường pháp lí ổn định được

19
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân hàng
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG PHÁT HÀNH VÀ THANH TOÁN THẺ
TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN Á CHÂU
2.1. Một vài nét về Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu
2.1.1. Khái quát về Ngân hàng Thương mại cổ phần Á Châu
Ngân hàng TMCP Á Châu (Asia Commercial Bank – ACB) được thành lập theo
Giấy phép số 0032/NH-GP do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cấp ngày 24/04/1993,
và Giấy phép số 533/GP-UB do Ủy ban Nhân dân TP.Hồ Chí Minh cấp ngày
13/05/1993. Giấy phép hoạt động được cấp cho thời hạn hoạt động là 50 năm với vốn
điều lệ ban đầu là 20 tỷ đồng. ACB chính thức đi vào hoạt động kinh doanh từ ngày
04/06/1993. Vốn điều lệ của Ngân hàng tại ngày 31 tháng 12 năm 2011 là 9.376.965
triệu đồng.
Hội sở chính đặt tại 442 Nguyễn Thị Minh Khai, Phường 5, Quận 3, TP.Hồ Chí
Minh. Mạng lưới kênh phân phối gồm 339 chi nhánh và phòng giao dịch tại những
vùng kinh tế phát triển trên toàn quốc:
- Tại TP Hồ Chí Minh: 1 Sở giao dịch, 29 chi nhánh và 107 phòng giao dịch
- Tại khu vực phía Bắc (Hà Nội, Vĩnh Phúc, Thái Nguyên, Bắc Giang, Bắc Ninh,
Hải Dương, Hưng Yên, Quảng Ninh, Hải Phòng, Nam Định, Hà Nam): 16 chi nhánh
và 69 phòng giao dịch
- Tại khu vực miền Trung (Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Huế, Đà
Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Kon Tum, Gia Lai, Bình Định, Phú Yên, Đak Lak, Lâm
Đồng, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận): 17 chi nhánh và 38 phòng giao dịch
- Tại khu vực miền Tây (Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Đồng Tháp, An Giang,
Vĩnh Long, Cần Thơ, Trà Vinh, Sóc Trăng, Hậu Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu và Cà
Mau): 13 chi nhánh, 15 phòng giao dịch
- Tại khu vực miền Đông (Đồng Nai, Tây Ninh, Bình Dương, Bình Phước, Vũng
Tàu): 5 chi nhánh và 29 phòng giao dịch
- Trên 2.000 đại lý chấp nhận thanh toán thẻ của Trung tâm thẻ ACB đang hoạt động

tín dụng tiếp tục là hoạt động cốt lõi tạo nên thu nhập cho ACB trong năm 2011. Như vậy,
huy đông tiền gửi khách hàng và cho vay khách hàng của ACB đều đạt tốc độ tăng trưởng
cao hơn tốc độ bình quân của ngành.
Về quản lý rủi ro, năm 2011 ACB tiếp tục có nhiều bước tiến trong việc hoàn thiện
hệ thống quản lý, giảm sát rủi ro chuyên sâu. Ủy ban Quản lý rủi ro trực thuộc Hội đồng
quản trị được thành lập với chức năng đáp ứng yêu cầu luật định cũng như áp dụng thông
lệ tốt nhất và chuẩn mực quốc tế về quản lý rủi ro. Khuôn khổ hệ thống quản lý rủi ro mới
của ACB và lộ trình triển khai thực hiện cũng đã được xác định.
Kết quả một số chỉ tiêu cụ thể về an toàn hoạt động của ACB tính đến thời điểm
31/12/2011 như sau: tỷ lệ an toàn vốn riêng lẻ đạt 9,24%, tỷ lệ an toàn vốn hợp nhất
đạt 9,25% và đểu cao hơn so với quy định 9% của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
(NHNN). Tỷ lệ khả năng chi trả (tổng tài sản có thanh toán ngay trên tổng nợ phải trả)
tại ngày 31/12/2011 là 18,4% cao hơn 3,4% so với hạn mức 15% do NHNN quy định.
Rủi ro tín dụng trong năm 2011 được kiểm soát tốt trước thực trạng chất lượng
tín dụng toàn ngành ngân hàng đi xuống. Năm 2011, ACB tập trung nhiều nguồn lực
cho công tác phân tích nguyên nhân và cảnh báo nguy cơ phát sinh nợ quá hạn của hệ
Sv: Lê Thị Bích Ngọc Lớp: LTĐH8 NHE
21
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân hàng
thống đồng thời thực thi rất quyết liệt công tác đốc thúc, xử lý thu hồi nợ. Kết quả đến
cuối năm 2011, tỷ lệ nợ nhóm 3 đến nhóm 5 của ACB là 0,89%, chỉ bằng xấp xỉ ¼ so
với ngành (khoảng 3,4%).
Bảng 2.1: Kết quả hoạt động của ACB
Đơn vị: tỷ đồng
Năm 2012 chứng kiến những ảnh hưởng mạnh mẽ của thị trường tài chính thế
giới và những biến động trong nội bộ ngân hàng đã làm hoạt động của ACB gặp rất
nhiều khó khăn, tuy vậy với sự nỗ lực của toàn thể cán bộ nhân viên ngân hàng, ACB
đã từng bước khôi phục và giữ vững được lòng tin của khách hàng.
Kết thúc năm 2012, lợi nhuận trước thuế đạt gần 1.043 tỷ đồng, giảm 75% so với
năm 2011. Tổng tài sản đạt 176.308 tỷ đồng, tương đương với giảm 37%. Về tình hình

thực hiện các dịch vụ ngân hàng điện tử, ngân hàng qua Internet TCBS cũng tạo cơ
sở cho việc chuẩn hoá qui trình phục vụ khách hàng. TCBS đồng thời cũng giúp ngân
hàng quản lý khách hàng tốt hơn, giúp ngân hàng nắm chắc toàn bộ quan hệ của khách
hàng với ngân hàng, để đưa ra những dịch vụ tốt nhất đối với từng nhóm đối tượng
khách hàng.
2.1.4. Kết quả một số hoạt động kinh doanh chính
Qui mô hoạt động của ACB ngày càng tăng và được mở rộng không ngừng, với
tốc độ tăng trưởng bình quân 8 năm trở lại đây đạt 52%, ACB là một trong những
ngân hàng thương mại có tốc độ tăng trưởng qui mô tài sản nhanh nhất trong hệ thống.
Dư nợ cho vay và nguồn vốn huy động cũng tăng trưởng tương ứng với tổng tài sản
qua các năm nhưng tốc độ chậm hơn, tăng trưởng dư nợ bình quân trong 8 năm lại đây
là 47% và nguồn vốn bình quân là 50%.
Bảng 2.2: Quy mô hoạt động của Ngân hàng ACB tư năm 2010 đến 2012
Đơn vị: triệu đồng
Chỉ tiêu 2010 2011 2012
Tổng tài sản 167.724 205.103 176.300
Tổng vốn huy động 145.171 192.927 140.700
Tổng dư nợ cho vay 87.195 102.800 102.800
Lợi nhuận trước thuế 3.102 4.203 1.042
/>Tính đến 31/12/2012
Tổng tài sản: 176,3 ngàn tỷ, giảm 37% so đầu năm.
Huy động tiền gửi khách hàng: 140,7 ngàn tỷ, giảm 24% so đầu năm
Dư nợ cho vay khách hàng: 102,8 ngàn tỷ, biến động không đáng kể so đầu năm.
Sv: Lê Thị Bích Ngọc Lớp: LTĐH8 NHE
24
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân hàng
Tỷ lệ nợ xấu nhóm 3 nhóm 5 ở mức 2,5%, tăng so với mức 0,89% tại thời
điểm đầu năm.
Lợi nhuận trước thuế của Tập đoàn là 1.042,67 tỷ.
Nguyên nhân chủ yếu:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status