Luận văn tốt nghiệp Học Viện Tài Chính
BỘ TÀI CHÍNH
HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
o0o
Nguyễn Thị Nhung
Lớp: CQ46/15.06
Đề tài:
MỘT SỐ GIẢI PHÁP MỞ RỘNG VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ
HOẠT ĐỘNG CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI NGÂN HÀNG TMCP ĐẠI
DƯƠNG CHI NHÁNH HÀ NỘI
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Chuyên ngành:Ngân hàng
SV: Nguyễn Thị Nhung 1 Lớp: CQ46/1506
Luận văn tốt nghiệp Học Viện Tài Chính
Người hướng dẫn khoa học
TS. Nghiêm Văm Bảy
Hà Nội, Năm 2012
SV: Nguyễn Thị Nhung 2 Lớp: CQ46/1506
Luận văn tốt nghiệp Học Viện Tài Chính
LỜI MỞ ĐẦU
Sau hơn 5 năm Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới
(WTO), trong môi trường cạnh tranh khốc liệt, các định chế tài chính của Việt
Nam thay đổi và phát triển tích cực. Không phủ nhận rằng các ngân hàng nội
địa đang phải chịu sức ép cạnh tranh lớn từ các ngân hàng nước ngoài, tuy
nhiên sự có mặt đó đã giúp các ngân hàng nội địa thay đổi nhận thức, tích
cực học hỏi và năng động hơn trong kinh doanh. Trước những thách thức rất
lớn nhưng cơ hội cũng rất nhiều, mỗi ngân hàng đều định hướng cho mình
một chiến lược phát triển nhằm không ngừng củng cố và chiếm lĩnh thị
trường. Một trong những chiến lược trọng tâm của các NH thương mại Việt
quả CVTD tại Ngân hàng TMCP Đại Dương – Chi nhánh Hà Nội.
Đối tượng nghiên cứu: Tập trung nghiên cứu việc mở rộng và nâng cao
hiệu quả hoạt động CVTD cả về lý luận và thực tiễn tại ngân hàng TMCP Đại
Dương – Chi nhánh Hà Nội.
Phạm vi nghiên cứu: Hoạt động kinh doanh chung và hoạt động CVTD
tại ngân hàng TMCP Đại Dương - Chi nhánh Hà Nội giai đoạn 2009 – 2011
và định hướng phát triển trong những năm tới.
Phương pháp nghiên cứu :
- Thu thập số liệu: Các báo cáo và tài liệu của Oceanbank Hà Nội,
thông tin trên trang chủ và nhiều tài liệu khác
- Phương pháp nghiên cứu: Thống kê, so sánh, tổng hợp,…
Để hoàn thành chuyên đề này, em đã nhận được sự hướng dẫn và chỉ bảo
tận tình của thầy giáo TS.Nghiêm Văn Bảy cùng với sự giúp đỡ, tạo điều kiện
của ban lãnh đạo ngân hàng, các cô chú, anh chị ở các phòng ban tại Ngân
hàng TMCP Đại Dương Chi nhánh Hà Nội. Em xin chân thành cảm ơn các
thầy cô giáo cùng toàn thể cán bộ tại đơn vị thự tập.
SV: Nguyễn Thị Nhung 4 Lớp: CQ46/1506
Luận văn tốt nghiệp Học Viện Tài Chính
CHƯƠNG I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHO VAY TIÊU DÙNG VÀ HIỆU QUẢ
CHO VAY TIÊU DÙNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại
1.1.1 Khái niệm cho vay tiêu dùng
Cho vay tiêu dùng là các khoản cho vay nhằm tài trợ chi tiêu của người
tiêu dùng, bao gồm cá nhân và hộ gia đình. Đây là nguồn tài chính quan trọng
giúp họ trang trải nhu cầu mua sắm nhà cửa, xe cộ, đồ dùng gia đình bên cạnh
đó còn đáp ứng chi tiêu cho nhu cầu giáo giục, y tế, du lịch, trước khi họ có
khả năng chi trả, tạo điều kiện để họ cải thiện đời sống.
Cho vay tiêu dùng của các NHTM có thể định nghĩa là việc các NHTM
Thứ nhất, rủi ro tín dụng: là rủi ro phát sinh khi khách hàng không có
khả năng thanh toán đầy đủ cả gốc và lãi của các khoản vay cho ngân hàng
hoặc việc thanh toán nợ gốc và lãi vay không đúng hạn. Có thể do nhiều yếu
tố chủ quan như tình trạng sức khoẻ của người đi vay, tình trạng công việc
làm ăn không tốt … và khách quan như hạn hán mất mùa, suy thoái kinh tế
mà họ không thể thực hiện trả nợ hoặc trì hoãn trả nợ, từ đó gây ảnh hưởng
đến hiệu quả cho vay của ngân hàng. Mặt khác, khách hàng còn cố tình dấu
tình hình sức khỏe thực tế của mình, thông tin về công việc hiện tại… nếu
như chúng bất lợi trong việc vay vốn. Các cá nhân thì dễ dàng giữ kín các
thông tin về triển vọng công việc hay sức khỏe của họ hơn là các doanh
nghiệp vì các doanh nghiệp phải cung cấp các báo cáo tài chính đã được kiểm
toán. Do đó, ngân hàng thiếu thông tin về khách hàng, có thể cho những
khách hàng không hiệu quả vay vốn, và có khả năng mất vốn khi khách hàng
không có khả năng trả nợ.
Thứ hai, rủi ro về lãi suất: Các khoản CVTD thường có thời hạn dài
trong khi các khoản cho vay ngắn hạn thường áp dụng lãi suất cố định, các
SV: Nguyễn Thị Nhung 6 Lớp: CQ46/1506
Luận văn tốt nghiệp Học Viện Tài Chính
khoản cho vay trung và dài hạn thường 1 năm mới thực hiện điều chỉnh lãi
suất. Khi lãi suất trên thị trường vốn tăng thì ngân hàng phải bù đắp mức lãi
suất huy động mà không được thay đổi lãi suất của các khoản CVTD trước
đó. Do đó, ngân hàng dễ gặp phải rủi ro về lãi suất khi lãi suất cho vay trên thị
trường tăng.
Thứ ba, rủi ro về kinh tế: CVTD thường nhạy cảm theo chu kỳ kinh tế.
Khi nền kinh tế tăng trưởng ổn định, tổng sản phẩm trong nước tăng lên, sản
xuất trong nước phát triển sẽ kích thích tiêu dùng trong nước. Ngược lại, khi
nền kinh tế suy thoái, mọi hoạt động sản xuất kinh doanh trong nước gặp khó
khăn, hạn chế tiêu dùng của dân cư.
Tài sản đảm bảo
nó mang lại là rất lớn. Và thực tế, dù quy mô mỗi khoản vay không lớn nhưng
số lượng các khoản vay nhiều, lãi suất cao nên thu nhập từ lãi của nó rất lớn.
So với các hoạt động tín dụng khác, lợi nhuận trên một đồng vốn của cho vay
tiêu dùng thường cao hơn.
1.1.3 Phân loại cho vay tiêu dùng
1.1.3.1 Phân loại theo mục đích vay
Cho vay tiêu dùng đáp ứng nhiều nhu cầu tiêu dùng khác nhau mà khách
hàng chưa có khả năng chi trả tại thời điểm hiện tại. Các mục đích tiêu dùng
rất đa dạng, có thể phân loại CVTD theo mục đích vay gồm:
- Cho vay mua ô tô, phương tiện đi lại
- Cho vay xây dựng mới, sửa chữa, cải tại, mua nhà ở
- Cho vay du học
- Cho vay tiêu dùng khác
SV: Nguyễn Thị Nhung 8 Lớp: CQ46/1506
Luận văn tốt nghiệp Học Viện Tài Chính
1.1.3.2 Phân loại theo phương thức hoàn trả
Cho vay tiêu dùng trả một lần: Theo phương tức này, số tiền vay sẽ được
khách hàng trả một lần vào cuối kỳ khi đến hạn. Thường thì các khoản CVTD
này có giá trị nhỏ với thời hạn không dài.
Cho vay tiêu dùng trả góp: Đây là hình thức CVTD phổ biến hiện nay,
theo đó người đi vay trả nợ (gồm cả gốc và lãi) cho ngân hàng nhiều lần theo
những kì hạn nhất định trong thời hạn cho vay để phù hợp với khả năng thanh
toán của khách hàng và quy định của ngân hàng. CVTD trả góp thường được
áp dụng cho những khoản vay có giá trị lớn, thu nhập từng kỳ của người vay
không đủ khả năng thanh toán một lần hết số nợ vay.
Cho vay tiêu dùng tuần hoàn: Là các khoản cho vay trong đó Ngân hàng
cho phép khách hàng sử dụng thẻ tín dụng hay phát hành các loại Séc được
phép thấu chi dựa trên tài khoản vãng lai. Theo phương thức này, khách hàng
được phép vay và trả nợ theo hạn mức tín dụng trong thời hạn vay.
CVTD giúp cải thiện đời sống và đáp ứng các kế hoạch chi tiêu khi
người tiêu dùng chưa đủ khả năng thanh toán tại thời điểm cần chi tiêu dựa
trên triển vọng về thu nhập trong tương lai. Khi chất lượng cuộc sống của
người dân ngày càng được cải thiện, nhu cầu chi tiêu của họ cũng phong phú
và đa dạng hơn. Trong khi đó, nguồn thu nhập của người tiêu dùng thường là
một khoản tiền không quá lớn, có tính chất ổn định và được dùng để chi trả
cho những nhu cầu sinh hoạt thiết yếu hàng ngày. Khi phát sinh những nhu
cầu mua sắm những tài sản có giá trị như nhà, ô tô… hoặc các nhu cầu chi
tiêu lớn khác như sửa chữa nhà ở, du học, y tế nếu không có sự tích lũy từ
trước thì khó có thể đáp ứng kịp thời nhu cầu tiêu dùng. Trong nhiều trường
hợp, người ta chỉ có thể thụ hưởng những nhu cầu đó khi về già. Như vậy,
nhờ có CVTD mà khách hàng có thể kết hợp được khả năng tài chính hiện tại
SV: Nguyễn Thị Nhung 10 Lớp:
CQ46/1506
Luận văn tốt nghiệp Học Viện Tài Chính
với tương lai, cùng với đó, họ được hưởng cuộc sống tốt hơn và có điều kiện
tiếp cận với những dịch vụ chăm sóc sức khỏe, dịch vụ giáo dục…, để rồi họ
có nhiều cơ hội nâng cao trình độ học vấn cũng như là gia tăng thu nhập.
Cuộc sống luôn nảy sinh những nhu cầu tự nhiên, cấp bách mà thu
nhập hiện tại của người dân không đáp ứng được, họ cần có thời gian tích lũy.
Sản phẩm CVTD của NHTM sẽ giúp người tiêu dùng giải quyết những phát
sinh, những nhu cầu chi têu cấp bách, bất thường.
Do người tiêu dùng đi vay để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong hiện tại,
vì thế họ sẽ phải tiết kiệm và nỗ lực hơn để có thu nhập bù đắp cho khoản vay
ở hiện tại.
Tuy nhiên, nếu khách hàng lạm dụng việc đi vay mà không tính toán kỹ
kế hoạch trả nợ theo đúng hợp đồng vay sẽ gặp phiền toái do liên tục nhận
được điện thoái báo nợ, thúc nơ, nghiêm trọng hơn họ có thể mất khả năng tri
trả, dễ rơi vào tình trạng bị tịch biên tài sản, nhà xe khi bị thất nghiệp. Bên
1.1.4.3 Đối với nền kinh tế
CVTD góp phần đáng kể vào chính sách kích cầu của nhà nước. CVTD
giúp người tiêu dùng thỏa mãn những nhu cầu chi tiêu hiện tại với khả năng
thanh toán trong tương lai. Nhờ sử trước khả năng mua nên dây là một trong
những phương thức thúc đẩy tiêu dùng.
Cho vay tiêu dùng ra đời đã góp một phần không nhỏ trong việc thúc đẩy
sản xuất phát triển. Từ việc NHTM tài trợ cho các cá nhân, hộ gia đình trong
việc chi tiêu, hàng hóa được tiêu thụ một cách nhanh chóng, khả năng thanh
toán của người tiêu dùng được đảm bảo, không có lý gì mà nhà sản xuất lại
không gia tăng sản lượng. Hơn nữa, việc khách hàng có thêm nguồn tài chính
từ khoản vay tiêu dùng sẽ tạo tâm lý cho khách hàng lựa chọn những món
hàng hay dịch vụ cao cấp hơn, từ đó tạo ra sự cạnh tranh mạnh mẽ hơn giữa
các nhà sản suất, các nhà cung cấp về chất lượng hàng hóa, dịch vụ mà họ
cung cấp. Thêm vào dó, một khi người lao động có được những điều kiện vật
SV: Nguyễn Thị Nhung 12 Lớp:
CQ46/1506
Luận văn tốt nghiệp Học Viện Tài Chính
chất tốt sẽ tạo nên tâm lý thoải mái trong làm việc, trình độ của họ cũng được
nâng lên và kết quả là sẽ tạo ra được nhiều sản phẩm hơn, năng suất sẽ cao
hơn. Cho vay tiêu dùng chính là đòn bẩy kinh tế quan trọng. Qua đó, Nhà
nước đạt được mục tiêu giải quyết công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người
lao động, giảm thất nghiệp, giảm tệ nạn xã hội, thúc đẩy tăng trương kinh tế.
Việc ngân hàng mở rộng CVTD đồng nghĩa với việc kích cầu, tăng sức
mua, tạo nên sự sôi động cho thị trường và tạo sự thịnh vượng cho cả nền
kinh tế.
Như vậy, hoạt động CVTD là một tất yếu, phù hợp với sự phát triển của
của xã hột và tuân theo quy luật kinh tế. Dù đứng ở góc độ nào: người tiêu
dùng, nhà cung cấp, NHTM hay nền kinh tế nói chung đều được hưởng lợi
ích từ hoạt động này.
Về phía khách hàng: là việc sử dụng vốn vay đúng mục đích để đáp ứng
nhu cầu tiêu dùng của mình.
Về phía ngân hàng: là việc thu nợ đúng hạn, đảm bảo an toàn thanh
khoản, giảm thiểu rủi ro tín dụng, thu được lợi nhuận với chi phí bỏ ra ở mức
thập, đạt được các tiêu chuẩn đặt ra và phù hợp với mục tiêu phát triển của
ngân hàng.
Về phía xá hội: là hoạt động cho vay phải gắn với mục tiêu phát triển
kinh tế, xã hội.
1.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá mở rộng và hiệu quả hoạt động cho vay tiêu
dùng
Tăng trưởng doanh số CVTD
Doanh số CVTD là tổng số tiền đã cho khách hàng vay tiêu dùng trong
kỳ. Doanh số CVTD cao và tăng phản ánh hoạt động CVTD đang được mở
rộng, tốc độ tăng trưởng tín dụng của ngân hàng tăng. Mức tăng trưởng doanh
số CVTD được tính bằng số tuyệt đối hay số tương đối của doanh số CVTD
kỳ sau so với lỳ trước. Số tuyệt đối quy mô tăng trưởng doanh số CVTD, số
SV: Nguyễn Thị Nhung 14 Lớp:
CQ46/1506
Luận văn tốt nghiệp Học Viện Tài Chính
tương đối thể hiện tốc độ tăng trưởng doanh số CVTD. Tốc độ tăng trưởng
doanh số CVTD được xác định bởi công thức:
Tốc độ tăng trưởng
doanh số CVTD
= ( Doanh số CVTD năm n
Doanh số CVTD năm n-1
Tăng trưởng doanh số CVTD còn thể hiện qua tỷ trọng doanh số CVTD.
Tỷ trọng doanh số CVTD trong tổng cơ cấu doanh số cho vay của ngân hàng
càng cao chứng tỏ hoạt động CVTD đang được ngân hàng rất quan tâm và
tại ngân hàng này đang rất phát triển, nó là hoạt động chính đem lại lợi nhuận
từ tín dụng cho ngân hàng. Tỷ trọng dư nợ CVTD được xác định:
Tỷ trọng dư nợ CVTD = Dư nợ CVTD
Tổng dư nợ cho vay
Mức độ đa dạng hóa sản phẩm
Để phát triển hoạt động CVTD, các ngân hàng cần phải đa dạng hóa sản
phẩm. Đa dạng hóa sản phẩm CVTD là quá trình cung cấp nhiều chủng loại
sản phẩm cho vay tới khác hàng nhằm thỏa mãn nhu cầu và mong muốn của
nhiều đối tượng khách hàng khác nhau để vừa giữ được khách hàng truyền
thống, đồng thời không ngừng mở rộng đối tượng khách hàng mới, mục tiêu
cuối cùng là tăng thị phần cho vay tiêu dùng, từ đó tăng được doanh thu và lợi
nhuận cho ngân hàng. Như vậy, một ngân hàng có danh mục sản phẩm CVTD
đa dạng, luôn duy trì được một lượng khách hàng thường xuyên được đánh
giá là hoạt động tốt và khả năng mở rộng hoạt động CVTD là vô cùng khả
quan.
Tỷ lệ nợ quá hạn trong CVTD
Nợ quá hạn là khoản nợ đến hạn thanh toán không được ngân hàng cho
gia hạn nợ, giãn nợ mà người đi vay không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ
cho ngân hàng. Tỷ lệ nợ quá hạn là tỷ lệ phần trăm giữa nợ quá hạn và tổng
dư nợ của NHTM ở một thời điểm nhất định. Tỷ lên nợ quá hạn trong CVTD
được xác định:
Tỷ lệ nợ quá hạn
trong CVTD
= Nợ quá hạn CVTD
Tổng dư nợ CVTD
Nợ quá hạn trong hoạt động CVTD là một hiện tượng không thể tránh
khỏi, song vấn đề quan trọng là phải giảm tỷ lệ nợ quá hạn đến mức thấp nhất.
NHTM có tỷ lệ nợ quá hạn cao sẽ bị đánh giá là có chất lượng cho vay thấp,
(lợi nhuận) từ hoạt
động CVTD năm n
=
Mức tăng doanh thu (lợi nhuận)
từ hoạt động CVTD năm n
Doanh thu (lợi nhuận) từ hoạt
động CVTD năm n-1
Mức tăng doanh thu (lợi nhuận) và tỷ lệ tăng doanh thu (lợi nhuận) càng
cao càng tốt. Các chỉ tiêu này cao và tăng có thể do mở rộng hoạt động cho
SV: Nguyễn Thị Nhung 17 Lớp:
CQ46/1506
Luận văn tốt nghiệp Học Viện Tài Chính
vay tiêu dùng hoặc do nâng cao khả năng tạo ra lợi nhuận từ hoạt động
CVTD.
Các chỉ tiêu đánh giá khả năng tạo ra doanh doanh thu và lợi nhuận
(hay hiệu quả sử dụng vốn) từ hoạt động CVTD.
Tỷ lệ doanh thu (lợi nhuận)
từ hoạt động CVTD trên
doanh số CVTD
=
Doanh thu (lợi nhuận) từ
hoạt động CVTD
x 100%
Doanh số CVTD
Tỷ lệ doanh thu (lợi nhuận)
từ hoạt động CVTD trên
=
Doanh thu (lợi nhuận) từ
hoạt động CVTD
cũng sẽ không được quan tâm. Ngược lại, nếu ngân hàng muốn phát triển hoạt
động CVTD thì họ sẽ phải đưa ra những chiến lược cụ thể để thu hút những
khách hàng có nhu cầu.
Chính sách tín dụng của ngân hàng
Một chính sách tín dụng được hoạch định tốt phù hợp với quy luật khách
quan là điều kiện tiên quyết để nâng cao hiệu quả tín dụng nói chung và hiệu
quả cho vay tiêu dùng nói riêng bao gồm việc mở rộng cho vay và quản trị tốt
rủi ro tín dụng của ngân hàng. Chính sách tín dụng thể hiện ở chiến lược tín
dụng và quy trình cấp tín dụng.
Chiến lược tín dụng quy định mức giới hạn cho vay, lãi suất, kỳ hạn,
mức phí, tài sản đảm bảo và phương hướng giải quyết những khoản nợ khó
đòi…Do đó, một chiến lược tín dụng hợp lý, đúng đắn, linh hoạt sẽ thu hút
được nhiều khách hàng đến xin vay, và ngân hàng sẽ mở rộng được hoạt động
CVTD. Ngược lại, nếu chiến lược tín dụng đưa ra cứng nhắc, áp đặt, kém linh
hoạt sẽ hạn chế việc đi vay, giảm khả năng cạnh tranh của ngân hàng.
SV: Nguyễn Thị Nhung 19 Lớp:
CQ46/1506
Luận văn tốt nghiệp Học Viện Tài Chính
Quy trình tín dụng quy định các bước cần thiết phải thực hiện trong quá
trình cho vay. Sự kết hợp hài hòa trong các bước sẽ tạo điều kiện cho ngân
hàng phát hiện kịp thời những nhược điểm, nắm bắt được diễn biến của khoản
vay, từ đó có biện pháp can thiệp kịp thời, năng ngừa rủi ro, nâng cao hiệu
quả CVTD. Tuy nhiên, ngân hàng không nên áp dụng một cách cứng nhắc
theo theo từng công đoạn mà phải linh hoạt trong từng trường hợp, tránh gây
khó khăn cho khách hàng bởi các thủ tục rườm ra, phức tạp.
Chất lượng cán bộ tín dụng
Cán bộ tín dụng là người trực tiếp tiếp xúc với khách hàng, tiếp nhận hồ
sơ hướng dẫn khách hàng các thủ tục vay vốn, thực hiện thu thập và xử lý
thông tin về khách hàng để đưa ra quyết định cho vay hay không cho vay,
hàng không thể hoạt động hiệu quả nếu nó chỉ có một vài chi nhánh nhỏ lẻ và
mang tính cục bộ. Mạng lưới chi nhánh, phòng giao dịch, điểm giao dịch càng
rộng lớn thì cơ hội tiếp xúc với khách hàng càng nhiều, ngân hàng có thể
nâng cao hình ảnh và cung cấp các sản phẩm tói tận tay khách hàng của mình.
- Năng lực tài chính của ngân hàng
Năng lực tài chính của ngân hàng được xác định dựa trên một số yếu tố
như: số lượng vôn chủ sở hữu, tỷ lệ phần trăm lợi nhuận năm sau so với năm
trước, số lượng tài khoản thanh khoản… Khi ngân hàng có sức mạnh lớn về
tài chính thì họ có thể đầu tư nhiều vào trang thiết bị, vào nguồn nhân lực…
cho hoạt động mà họ quan tâm hơn, như vậy hoạt động cho vay tiêu dùng sẽ
có cơ hội phát triển hơn, ngân hàng cũng mạnh dạn hơn trong việc triển khai
nhiều sản phẩm dịch vụ của cho vay tiêu dùng.
Bên cạnh đó, cần xét đến khả năng huy động vốn của ngân hàng. Ngân
hàng hoạt động trên nguyên tắc “đi vay để cho vay”, do vậy mà khả năng huy
động vốn quyết định rất lớn đến việc mở rộng cho vay. Vốn huy động thường
chiếm khoảng trên 70% so với tổng nguồn vốn, nó chính là điều kiện cần để
SV: Nguyễn Thị Nhung 21 Lớp:
CQ46/1506
Luận văn tốt nghiệp Học Viện Tài Chính
ngân hàng có thể tiến hành các hoạt động kinh doanh, gia tăng quy mô tín
dụng, trong đó có tín dụng tiêu dùng.
- Danh mục sản phẩm CVTD
Một ngân hàng có danh mục sản phẩm CVTD đa dạng sẽ luôn duy trì
được một lượng khách hàng thường xuyên, vừa giữ được những khách hàng
truyền thống, đồng thời không ngừng mở rộng đối tượng khách hàng mới trên
thi trường. Thiết kế và triển khai mội sản phẩm CVTD tiêu dùng mới là vô
cùng tốn kém và ngân hàng luôn phải đối mặt với rủi ro sản phẩm bị chết do
không có khách hàng. Do đó ngân hàng cần lựa chọn phát triển những sản
phẩm mục tiêu, sản phẩm chiến lược.
rộng CVTD. Mặt khác, sự ổn định về thu nhập của người dân cũng đảm bảo
cho khả năng thu nợ của các cho vay tiêu dùng đồng nghĩa với hiệu quả cho
vay tiêu dùng được nâng cao. Ngược lại, khi nền kinh tế bất ổn, khủng hoảng,
đình trệ sẽ hạn chế việc cấp tín dụng tiêu dùng của các trung gian tài chính;
thu nhập tương lai của người tiêu dùng trở nên bấp bênh, các chi phí biến
động, khó kiểm soát, người tiêu dùng phải giảm các khoản vay của họ, làm
giảm quy mô cũng như hiệu quả hoạt động CVTD của ngân hàng.
Tình hình chính trị tác động mạnh đến nền kinh tế nên cũng tác động tới
cho vay tiêu dùng. Với một quốc gia thường xuyên có bạo loạn, lật đổ, đảo
chính, bất ổn về chính trị, biểu tình phản đối… thì nền kinh tế không thể phát
triển được. Do vậy hầu hết các hoạt động của Ngân hàng cũng bị suy giảm
chứ không riêng gì CVTD. Ngược lại, quốc gia nào có nền chính trị ổn định,
không có khủng bố, bạo loạn hay lật đổ… thì hoạt động của các NHTM trong
đó có hoạt động CVTD sẽ phát triển cùng với sự phát triển của nền kinh tế.
Môi trường văn hóa - xã hội
Các yếu tố thuộc về văn hóa xã hội như: trình độ dân trí, thi hiếu người
tiêu dùng, tập quán tiêu dùng, thói quen sử dụng các sản phẩm ngân hàng, tỷ
lệ tiết kiệm… ảnh hưởng rất lớn tới việc đưa ra hình thức CVTD. Như ở Việt
SV: Nguyễn Thị Nhung 23 Lớp:
CQ46/1506
Luận văn tốt nghiệp Học Viện Tài Chính
Nam, người tiêu dùng có thói quen muốn sử dụng tiền mà mình tiết kiệm
được để mua sắm, sửa chữa nhà cửa, do đó nó ảnh hưởng rất lớn đến nhu cầu
về sản phẩm CVTD.
Xu hướng tiêu dùng thay đổi theo độ tuổi của con người. Ở Việt Nam, độ
tuổi tiêu dùng nhiều nhất từ 25 đến 35 tuổi, càng về sau thì mức độ tiêu dùng
cũng giảm đi. Xu hướng tiêu dùng cũng thay đổi theo trình độ dân trí. Đối với
những người có trình độ hiểu biết, đặc biệt là lĩnh vực ngân hàng thì xu hướng
sử dụng những khoản vay để phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng cá nhân sẽ lớn
tế, rút ngắn khoảng cách giàu nghèo, tạo điều kiện nâng cao dân trí. Những
nhân tố này, trước mắt và lâu dài đều ảnh hưởng đến mức cung và cầu CVTD.
Khách hàng vay vốn
- Tâm lý của khách hàng vay
Khách hàng đến vay ngân hàng vay tiền thườn e ngại thủ tục rườm rà,
giữ thói quen tiết kiệm đủ tiềm mới mua sắm vì ngại tâm lý phải mắc nợ ngân
hàng. Điều này sẽ làm giảm hoạt động cho vay nói chung và CVTD nói riêng.
- Khả năng đáp ứng các điều kiện khi vay như năng lực pháp lý, khả
năng tài chính, tài sản đảm bảo… của khách hàng. Với những khách hàng có
tình hình tài chính càng khả quan và ổn định thì ngân hàng càng muốn cho
vay. Vì thực tế, phần lớn các khoản CVTD thường đảm bảo bằng lương hay
thu nhập của khách hàng vay. Vậy nên, người có thu nhập càng cao, khi tiến
hành trả nợ cho Ngân hàng sẽ gây ra ít ảnh hưởng nhất tới những chi tiêu
trong sinh hoạt và tài chính của gia đình họ. Như vậy là khoản tín dụng mà
Ngân hàng đã cấp sẽ an toàn hơn rất nhiều.
- Đạo đức của khách hàng: Nhân tố này ảnh hưởng đến hành vi trả nợ
của khách hàng. Nếu khách hàng có đạo đức tốt, có ý muốn trả nợ cho Ngân
hàng thì thiện chí trả nợ sẽ được thực hiện. Còn nếu không thì Ngân hàng sẽ
rất khó khăn trong việc thu hồi nợ gốc chứ chưa nói đến thu lãi.
Đối thủ cạnh tranh
SV: Nguyễn Thị Nhung 25 Lớp:
CQ46/1506