Thực trạng hoạt động đầu tư ra nước ngoài trong lĩnh vực dầu khí - Pdf 23

1
LỜI CẢM ƠN
Em xin gửi lời cảm ơn tới toàn bộ các thầy cô giáo trong khoa
Kinh tế và Kinh doanh quốc tế - Trường Đại học Kinh tế quốc dân
đã tận tình giảng dạy cho em trong suốt quá trình học tập tại
trường. Đặc biệt em xin gửi lời cảm ơn tới GS.TS Đỗ Đức Bình đã
tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và chỉ bảo em trong suốt quá trình
hoàn thành bài chuyên đề thực tập tốt nghiệp.
Cuối cùng, em xin chân thành cảm ơn Ban Lãnh đạo Tổng
công ty Thăm dò Khai thác Dầu khí, đặc biệt là ông Nguyễn Quốc
Việt-trưởng phòng Dự án mới_PVEP đã tận tình hướng dẫn, giúp
đỡ và đóng góp ý kiến để em hoàn thành bài chuyên đề thực tập tốt
nghiệp.
Em xin chân thành cảm ơn.
Sinh viên

Lê Thị Vân Anh
Danh mục bảng biểu
Tên bảng biểu Trang
Bảng 1. Tiềm năng dầu khí khu vực Đông Nam Á 26
Bảng 2. Tiềm năng dầu khí khu vực Trung Đông và Bắc Phi 28
Bảng 3. Tiềm năng dầu khí khu vực Nga và các nước vùng Ca-xpiên 29
Hình 1. Mỏ dầu Amara-Irắc 31
Hình 2. Phân chia lô đất liền Al-giê-ri 33
Hình 3. Lô Z47-Pê-ru 34
Hình 4. Phân chia lô ngoài khơi Ma-lai-xia 34
Hình 5. Giàn khoan ngoài khơi Ma-lai-xia 35
Hình 6. Lô Majunga Profond, Ma-đa-gát-xca 38
Hình 7. Nhu cầu dầu thô thế giới 58
Hình 8. Nhu cầu khí thế giới 58
Hình 9. Trữ lượng và tiềm năng dầu khí Việt Nam 60

1.4. Kinh nghiệm quốc tế hoá của một số công ty dầu khí quốc gia thành công
trên thế giới............................................................................................................13
1.4.1. Petronas.........................................................................................................13
1.4.2. Chinese National Offshore Oil Company (CNOOC)....................................15
1.4.3. Pertamina.......................................................................................................16
1.4.4. PTTEP...........................................................................................................16
Chương 2
Thực trạng hoạt động đầu tư ra nước ngoài trong lĩnh vực dầu khí.....19
4
2.1. Khái quát tình hình hiện tại của PVEP.......................................................19
2.2. Hiện trạng công tác tìm kiếm thăm dò khai thác dầu khí ở nước ngoài.21
2.2.1. Các phương thức triển khai thăm dò khai thác dầu khí ở nước ngoài...........21
2.2.1.1. Mua tài sản dầu khí....................................................................................22
2.2.1.2. Thăm dò diện tích mới................................................................................23
2.2.1.3. Trao đổi cổ phần........................................................................................24
2.2.2. Các khu vực trọng điểm................................................................................25
2.2.2.2. Trung Đông và Bắc Phi..............................................................................26
2.2.2.3. Nga và các nước vùng Ca-xpiên.................................................................29
2.2.3. Các dự án hiện tại ở nước ngoài....................................................................30
2.2.3.1. Các dự án hiện có.......................................................................................30
2.2.3.2. Các dự án đang đánh giá, đàm phán.........................................................39
2.3. Đánh giá chung..............................................................................................40
2.3.1. Thuận lợi.......................................................................................................40
2.3.2. Khó khăn.......................................................................................................51
2.3.3. Thành công....................................................................................................52
2.3.4. Hạn chế..........................................................................................................52
2.3.5. Nguyên nhân..................................................................................................53
Chương 3
Định hướng phát triển trong thời gian tới và giải pháp kiến nghị.........55
3.1. Xu hướng phát triển của hoạt động tìm kiếm thăm dò khai thác dầu khí

tấn (đứng thứ ba ở khu vực Đông Nam Á về khai thác dầu thô) và đã triển khai hoạt
động một cách toàn diện từ khâu thăm dò khai thác đến tàng trữ, xử lý, vận chuyển,
phân phối sản phẩm, lọc hoá dầu và dịch vụ. Từ chỗ hoạt động bằng vốn ngân sách,
Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam) đã tạo được nguồn tích luỹ
đầu tư phát triển, có đóng góp đáng kể cho ngân sách Nhà nước và là nhân tố quan
trọng góp phần đưa nền kinh tế nước ta ra khỏi khủng hoảng trong đầu thập kỷ 90.
Tuy nhiên, kết quả thăm dò khai thác dầu khí trong nước những năm qua cho thấy
trữ lượng dầu khí của Việt Nam không nhiều, điều kiện khai thác dầu khí ngày càng
khó khăn, do vậy trong tương lai nước ta cần có thêm nguồn cung cấp bổ sung từ
nước ngoài.
Thực hiện đầu tư vào lĩnh vực thăm dò khai thác dầu khí ở nước ngoài là triển
khai chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước nhằm xây dựng Petrovietnam thành một
tập đoàn kinh tế mạnh có hoạt động thăm dò khai thác cả ở trong và ngoài nước, gia
tăng trữ lượng dầu khí làm cơ sở cho sự tăng trưởng của ngành, đồng thời góp phần
đảm bảo nhu cầu năng lượng cho sự phát triển của nền kinh tế quốc dân.
Để triển khai chủ trương chiến lược trên, Petrovietnam đã thống nhất chức năng
nhiệm vụ của từng bộ phận trong Tập đoàn, giao toàn bộ công tác tìm kiếm thăm
dò cả trong và ngoài nước cho Tổng Công ty Thăm dò Khai thác Dầu khí (PVEP).
Đây là một bước đi rất đúng đắn, thể hiện tầm nhìn chiến lược của lãnh đạo Tập
đoàn muốn triển khai hoạt động của mình một cách chuyên nghiệp. Việc phân công
rõ ràng chức năng nhiệm vụ sẽ tạo điều kiện thuận lợi để từng đơn vị có thể đưa ra
phương hướng triển khai phù hợp với môi trường kinh doanh quốc tế cũng như tiềm
lực của mình.
Trên cơ sở thực tế đã được tìm hiểu trong quá trình thực tập tại Tổng Công ty
Thăm dò Khai thác Dầu khí, em đã lựa chọn đề tài luận văn: “Mở rộng hoạt động
7
đầu tư ra nước ngoài trong lĩnh vực dầu khí (lấy ví dụ thực tế tại Tổng Công
ty Thăm dò Khai thác Dầu khí PVEP)”. Mục đích của đề tài là trên cơ sở phân
tích tình hình thực tiễn trong và ngoài Tổng Công ty, đề xuất các giải pháp có thể
thực hiện để việc đầu tư ra nước ngoài của PVEP được thuận lợi và đạt hiệu quả

So với hoạt động đầu tư trong nước, đầu tư trực tiếp nước ngoài có những điểm
khác biệt rất lớn như sự phức tạp trong quản lý, điều hành và xử lý tranh chấp do có
sự tham gia của các bên mang quốc tịch khác nhau, thường gắn với hoạt động
chuyển giao công nghệ, gắn với xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế,…
1.1.2. Phân loại đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.1.2.1. Phân loại theo hình thức đầu tư
Liên doanh và chi nhánh sở hữu toàn bộ là hai hình thức cơ bản và chủ yếu trong
hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài. Tuy nhiên, tuỳ theo giai đoạn và điều kiện
phát triển riêng biệt cuả từng nước mà có thêm những hình thức biến tướng khác. Ở
Việt Nam hiện nay có thể khái quát một số hình thức như sau:
9
Đầu tư theo hình thức liên doanh
Có thể hiểu đầu tư theo hình thức liên doanh là thành lập một doanh nghiệp
được góp vốn bởi các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Hình thức này có một số ưu
điểm như chia sẻ rủi ro trong quá trình thành lập và hoạt động của dự án, giảm gánh
nặng về vốn cho các nhà đầu tư nước ngoài, dễ tiếp cận thị trường và các cơ quan
địa phương sở tại… Tuy nhiên thông qua hình thức này, quyền quản lý và lợi nhuận
cũng sẽ bị chia sẻ cho các bên tuỳ theo tỷ lệ góp vốn.
Đầu tư theo hình thức chi nhánh sở hữu toàn bộ hay doanh nghiệp 100% vốn
nước ngoài
Đây là hình thức thành lập doanh nghiệp hoàn toàn do nhà đầu tư nước ngoài
góp vốn và trực tiếp điều hành quản lý. Hình thức này có ưu điểm là nhà đầu tư
nước ngoài toàn quyền quyết định về quản lý, không phải chia sẻ lợi nhuận. Tuy
nhiên, sẽ chịu gánh nặng về vốn góp ban đầu, xác suất rủi ro cao, đôi khi gặp bất lợi
trong việc tiếp cận thị trường và các cơ quan chính quyền sở tại.
Đầu tư theo hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh
Hình thức này chỉ khác với doanh nghiệp liên doanh ở chỗ không cho ra đời một
pháp nhân mới, bên nước ngoài mượn tư cách pháp nhân của bên sở tại để tiến hành
các hoạt động của mình. Đây chính là điểm bất cập mà nhà đầu tư nước ngoài
không mong muốn vì cơ hội khuyếch trương uy tín của họ hầu như không có.

Thực tế cho thấy các doanh nghiệp có thiên hướng lựa chọn các thị trường trong
khu vực để đầu tư do những diểm tương đồng về môi trường và điều kiện đầu tư
11
giữa các nước, coi đây là bước đệm trước khi thâm nhập vào các thị trường ngoài
khu vực và có quy mô lớn.
Đầu tư nhằm tìm kiếm hiệu quả
Nhà đầu tư thực hiện phân bổ công đoạn sản xuất ở nước ngoài, tận dụng giá
thành đầu vào thấp ở nước tiếp nhận và các ưu đãi về thuế suất nhằm tối ưu hoá quá
trình sản xuất. Đầu tư nhằm tìm kiếm hiệu quả là ưu tiên đối với nhiều doanh
nghiệp, đặc biệt là các doanh nhgiệp thuộc các nước phát triển.
Điều tra của UNCTAD cho thấy 22% số doanh nghiệp cho rằng đây là động cơ
chiến lược. Ngày nay, việc chia nhỏ các công đoạn sản xuất, chia nhỏ sản phẩm sản
xuất ra nhiểu quốc gia khác nhau là rất phổ biến và đang chứng tỏ được ưu thế vượt
trội trong những ngành sử dụng nhiều vốn và kĩ thuật.
Đầu tư nhằm tìm kiếm nguồn lực
Theo kết quả điều tra của UNCTAD thì đầu tư nhằm tìm kiếm nguồn lực là
động lực thứ ba xếp sau hai động lực trên, chiếm khoảng 13% số doanh nghiệp trả
lời. Trong số các nguồn lực tìm kiếm ở nước ngoài, thì nguồn tài nguyên thiên
nhiên là một trong các yếu tố quan trọng nhất.
Đầu tư nhằm tìm kiếm nguồn tài nguyên thiên nhiên có vai trò quan trọng đối
với các doanh nghiệp thuộc các nước đang phát triển như Trung Quốc, Ấn Độ và
một số nước châu Á khác vì việc đảm bảo cung cấp ổn định các nguồn lực có ý
nghĩa quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của các nước này. Bởi vậy, khi nguồn
lực trong nước có chiều hướng cạn kiệt, đặc biệt là các tài nguyên chiến lược như
dầu khí, các doanh nghiệp phải chuyển hướng khai thác các nguồn lực từ bên ngoài.
Ví dụ như các doanh nghiệp dầu khí quốc gia của Trung Quốc, Ấn Độ, Thổ Nhĩ
Kì… đã phải thực hiện nhiều dự án liên doanh nhằm khai thác dầu mỏ ở một số
quốc gia khác như Trung Đông, Tây Á, Bắc Phi…
Rất nhiều các doanh nghiệp sản xuất các sản phảm sử dụng nhiều nguyên liệu
thô như nội thất, kim loại, sản xuất giấy… cũng phải thực hiện đầu tư nhằm tìm

đơn vị này hướng đến tận dụng lợi thế chi phí sản xuất thấp để giảm giá thành, nâng
cao hiệu quả sử dụng vốn, kéo dài chu kỳ sống của các sản phẩm đi vào thời kỳ suy
thoái, từ đó mà tăng lợi nhuận của tổ chức.
Đầu tư ra nước ngoài còn giúp cho các nhà kinh doanh của nước chủ nhà tạo
dựng được thị trường cung cấp nguyên liệu đầu vào dồi dào ổn định giá rẻ thường
có ở các nước đang phát triển. Đây là một lợi thế thường được các nước đang phát
triển tận dụng để kêu gọi các nhà đầu tư nước ngoài.
Khi đầu tư ra nước ngoài, chủ đầu tư còn có một mục đích cao hơn, đó là bành
trướng sức mạnh kinh tế, tăng sức ảnh hưởng của mình trên thị trường quốc tế.
Thường thì các nước kêu gọi vốn đầu tư nước ngoài có chính sách rất thông thoáng,
khuyến khích xuất khẩu và chuyển giao công nghê, vì vậy khi xuất khẩu máy móc
sang để sản xuất tai đây và sau đó xuất khẩu các sản phẩm này sang các nước khác,
chủ đầu tư nước ngoài đã né tránh được hàng rào bảo hộ mậu dịch, mở rộng được
thị trường tiêu thụ một cách dễ dàng.
Thực tế cho thấy các nước phát triển đôi khi có những khó khăn không thể tự
giải quyết. Sự hợp tác đầu tư làm cho những vấn đề đó trở nên dễ dàn hơn, đồng
vốn được sử dụng với hiệu quả kinh tế-xã hội-chính trị cao nhất. Điển hình ở các
nước phát triển có một xu hướng, ngay cả khi trong nước tình trạng thất nghiệp
đang gia tăng nhưng các doanh nghiệp vẫn có xu hướng tìm kiếm lao động ở nước
ngoài và đem vốn đi đầu tư, đồng thời cũng đẩy mạnh thu hút vốn đầu tư.
1.2.1.2. Tiêu cực
Việc một lượng vốn được chuyển ra nước ngoài làm giảm cán cân thanh toán
quốc gia, đồng thời khả năng đầu tư cho phát triển kinh tế trong nước cũng bị hạn
chế. Điều này phải được khắc phục bằng cách thu hút vốn từ nước khác vào, tạo lập
sự cân bằng cho cán cân thanh toán.
14
Bên cạnh đó, vốn và tài sản từ các hoạt động kinh tế ngầm được chuyển ra nước
ngoài mà Chính phủ không quản lý được, hoặc có thu hồi được thì chi phí cũng rất
tốn kém.
Đầu tư ra nước ngoài còn có một tác động làm chủ đầu tư e ngại, đó là nguy cơ

năng nghề nghiệp, kỹ năng điều hành, quản lý… Điều này là một tác động tích cực
to lớn và mang tính lâu dài, nâng cao trình độ nguồn nhân lực, yếu tố then chốt cho
phát triển kinh tế của một quốc gia.
Các công ty xuyên quốc gia là những chủ thể chính trong hoạt động đầu tư quốc
tế với hệ thống mạng lưới hoạt động rộng lớn sẽ mang lại cho nước tiếp nhận cơ hội
mở rộng quan hệ quốc tế trên nhiều lĩnh vực: thương mại, đầu tư, văn hoá…
Các doanh nghiệp trong nước sẽ có xu hướng di chuyển lao động, sao chép học
hỏi, liên kết sản xuất và cạnh tranh… để nâng cao tiềm lực, đây là một tín hiệu tốt,
như một chuỗi dây chuyền, cải thiện môi trường kinh doanh trong nước, hấp dẫn
hơn với nhà đầu tư nước ngoài. Như vậy, nền kinh tế sẽ tăng trưởng nhanh chóng.
1.2.2.2. Tiêu cực
Thường các nhà đầu tư nước ngoài muốn tìm kiếm lợi ích từ nguồn tài nguyên
phong phú và chưa có điều kiện khai thác ở các nước đang phát triển. Bên cạnh đó,
Chính phủ các nước này với suy nghĩ thiển cận và tâm lí muốn nhanh chóng thu hút
được nhiều vốn từ nước ngoài bất chấp mọi điều kiện làm cho nguồn tài nguyên này
bị khai thác và sử dụng quá mức dẫn đến cạn kiệt, phá huỷ môi trường, gây ra nhiều
hậu quả nghiêm trọng: lũ lụt, hạn hán, ô nhiễm môi trường, phá vỡ cân bằng sinh
thái…
Chính phủ do muốn phát triển cân đối nền kinh tế nên sẽ ưu tiên hỗ trợ phát
triển những vùng khó khăn, nghèo nàn lạc hậu. Nhưng do mục tiêu lợi nhuận, các
16
ngành các vùng có điều kiện thuận lợi hơn sẽ thu hút nhiều vốn. Hai xu hướng trái
ngược này sẽ cản trở sử dụng hiệu quả những hỗ trợ từ Chính phủ.
Như đã nói ở trên, các công nghệ được chuyển giao thường không phải công
nghệ nguồn mà nhiều khi là công nghệ lạc hậu đã qua sử dụng. Thực tế nhiều nước
đang phát triển đang có nguy cơ trở thành bãi rác công nghệ. Những công nghệ
được chuyển giao không những không làm tăng chất lượng, tăng tính cạnh tranh của
sản phẩm mà còn gây ô nhiễm môi trường. Cái giá phải trả cho sự thu hút vốn đầu
tư nước ngoài không có chọn lọc, thu hút bằng bất cứ giá nào là quá đắt.
Trong nội bộ những doanh nghiệp có yếu tố nước ngoài và giữa doanh nghiệp có

người ta thường gắn liền với môi trường kinh tế-chính trị của nước đó. Nhà đầu tư
tìm hiểu những yếu tố này và sẽ quyết định bỏ vốn nếu thấy có cơ hội phát triển và
ít rủi ro.
Ba là, chiến lược đầu tư của các nhà đầu tư. Thường thì các công ty đa quốc gia
luôn muốn bành trướng thế lực của mình bằng cách mở rộng thị trường quốc tế.
Đây cũng là chủ thể quan trọng nhất của dòng vốn đầu tư nước ngoài. Với lượng
vốn lớn, chiến lược của những công ty này ảnh hưởng rất nhiều đến sự tăng trưởng
hay giảm sút của dòng vốn đầu tư nước ngoài. Có thể do mục đích chiếm lĩnh mảng
thị trường, nguồn lực tài nguyên thiên nhiên, lao động hay cạnh tranh trong hoạt
động kinh doanh mà các công ty này tập trung đầu tư vào một nước hay một khu
vực nhất định mà không hẳn do những ưu đãi trong chính sách.
Bốn là, quá trình tự do hoá đầu tư theo những nguyên tắc quốc tế. Các tổ
chức/diễn đàn kinh tế quốc tế và khu vực đang ngày càng phát huy vai trò của mình.
Việc các nước thành viên tuân thủ quá trình tự do hoá đầu tư, giảm bớt những rào
cản trước đây sẽ khiến cho hoạt động đầu tư quốc tế trở nên sôi động hơn.
18
1.4. Kinh nghiệm quốc tế hoá của một số công ty dầu khí quốc
gia thành công trên thế giới
1.4.1. Petronas
Petronas được thành lập vào năm 1974 (cùng thời gian với Tổng Công ty dầu
khí Việt Nam-Petrovietnam), thuộc sở hữu toàn phần của chính phủ Ma-lai-xia để
kiểm soát nguồn tài nguyên dầu khí của Ma-lai-xia. Petronas tham gia tất cả các
hoạt động dầu khí ở Ma-lai-xia bao gồm thăm dò khai thác, lọc dầu, buôn bán dầu
thô và phân phối các sản phẩm dầu, vận chuyển và phân phối khí thiên nhiên, khí
hoá lỏng và tiếp thị các sản phẩm khí, sản xuất và tiếp thị các sản phẩm hoá dầu,
đóng tàu…
Từ cuối thập kỷ 80 khi các phát hiện dầu khí không theo kịp với nhịp độ khai
thác ngày càng tăng ở Ma-lai-xia, Petronas triển khai chiến lược đầu tư vào thăm dò
khai thác dầu khí ở nước ngoài nhằm tìm kiếm trữ lượng bổ sung, bắt đầu bằng việc
thành lập Petronas Carigali Overseas chuyên trách việc triển khai hoạt động ở nước

dầu khí nước ngoài là những điều kiện quan trọng dẫn đến sự thành công của
Petronas.
Tuy nhiên mô hình Petronas có một số hạn chế nhất định, đặc biệt là thời gian
cho doanh thu từ nước ngoài (sau 8 năm) do không phân định hợp lý sự ưu tiên đối
với các loại dự án (ban đầu tập trung vào các dự án thăm dò và giới hạn ở các dự án
dầu). Vì vậy, sau 5 năm kể từ khi triển khai đầu tư ra nước ngoài, Petronas đã
chuyển sự tập trung vào các dự án phát triển mỏ, đồng thời triển khai mua tài
sản/công ty sở hữu tài sản và quyết định này tỏ ra hợp lý, nhờ đó Petronas có sản
lượng đáng kể trong một thời gian tương đối ngắn sau khi điều chỉnh chiến lược và
xác lập vị thế công ty trên thị trường thế giới.
20
1.4.2. Chinese National Offshore Oil Company (CNOOC)
CNOOC được thành lập năm 1982 như một công ty dầu quốc gia của Trung
Quốc để tiến hành các hoạt động thăm dò khai thác dầu khí tại các lô ngoài khơi
Trung Quốc. Hiện tại, CNOOC đang điều hành phát triển 6 mỏ ngoài khơi, và tham
gia 3 dự án phát triển mỏ khác (bên nước ngoài điều hành) ở Trung Quốc. Sản
lượng khai thác trong nước đạt 400.000 thùng/ngày (dự kiến tăng gấp đôi trong 5
năm tới).
CNOOC niêm yết cổ phiếu ở thị trường chứng khoán Hồng Kông và New York.
Giá trị thị trường của CNOOC là 7,9 tỷ USD. CNOOC đang tiếp tục tiến hành tích
cực việc cổ phần hoá công ty, đặc biệt là các công ty con để thu hút vốn. Tuy nhiên,
cổ phần hoá công ty mẹ (CNOOC) chỉ ở quy mô nhỏ và Chính phủ sẽ chiếm giữ
phần lớn cổ phần (dự kiến 72,5%). Các bên mua cổ phần chủ yếu là ExxonMobil,
Royal Dutch/Shell và BP.
Từ 1998 khi Chính phủ Trung Quốc cơ cấu lại công ty dầu khí quốc gia,
CNOOC đã triển khai mạnh mẽ đầu tư vào thăm dò khai thác ở nước ngoài. Nhờ
liên minh với các công ty đang hoạt động ở Trung Quốc, CNOOC có cổ phần đầu
tiên ở nước ngoài (với Ker McGee trong 7 lô ở vịnh Mê-hi-cô và với Arco trong 1
lô ở eo biển Malaca In-đô-nê-xia). Ngoài ra, CNOOC liên minh với CNPC ở thị
trường châu Á và Mỹ La tinh. CNOOC quan tâm đến đầu tư vào rất nhiều nước

PTT có cổ phần sở hữu 61% cổ phần của PTTEP, nhưng trong tương lai, có thể
PTTEP sẽ được tư nhân hoá hoàn toàn.
Với sản lượng trong nước khoảng 95.000 thùng dầu quy đổi/ngày và vị trí tài
chính thuận lợi, PTTEP bắt đầu triển khai thăm dò khai thác dầu khí ở nước ngoài.
Đông Nam Á là khu vực ưu tiên đầu tư hiện nay của PTTEP, trong đó Mian-ma, In-
đô-nê-xia, Ma-lai-xia và Việt Nam là các nước trọng điểm.
22
Với việc trao đổi cổ phần với Unocal, PTTEP đã có cổ phần ở Việt Nam. Đột phá
quan trọng của PTTEP là đầu tư 225 triệu USD mua 34% cổ phần của Medco
Energi cuỉa In-đô-nê-xia và nhờ đó có sản lượng ở nước ngoài đầu tiên khoảng
30.000 thùng/ngày.
Như vậy, nhìn chung các bước triển khai đầu tư ra nước ngoài của các công ty
dầu khí quốc gia đều bao gồm những bước đi cơ bản sau:
• Xác định mục tiêu cho đầu tư ra nước ngoài.
• Xác định khu vực ưu tiên đầu tư là các nước/khu vực lân cận và/hoặc giàu
tiềm năng dầu khí và tập trung nỗ lực để thâm nhập, mở rộng.
• Mua tài sản là hình thức được áp dụng để sớm có chỗ đứng trên thị trường
(và sản lượng, doanh thu).
• Tranh thủ các mối quan hệ hợp tác liên minh (cấp chính phủ, cấp công ty) để
có dự án.
Một yếu tố quan trọng đưa đến thành công của các công ty này là đều có thể
điều hành hoạt động theo cơ chế thị trường, có sự chủ động kinh doanh cũng như
huy động được các nguồn vốn bên ngoài, và thêm vào đó là kinh nghiệm hoạt động
điều hành tương đối dài ở trong nước. Với nhiều nét tương đồng, PVEP có thể học
hỏi kinh nghiệm từ thành công và hạn chế của những mô hình công ty này để hoạch
định một chiến lược hợp lý trong hoạt động đầu tư ra nước ngoài.
23
Chương 2
Thực trạng hoạt động đầu tư ra nước ngoài trong lĩnh
vực dầu khí

tìm kiếm dầu khí triển khai tại thềm lục địa phía Nam.
Ngày 17/11/1988 Tổng cục Dầu khí đã ra Quyết định số 1195/TC-DK thành lập
Công ty Petrovietnam I (PV-I), là tiền thân của Công ty Giám sát các hợp đồng chia
sản phẩm (PVSC) với nhiệm vụ giám sát các hợp đồng thăm dò, tìm kiếm dầu khí
triển khai tại thềm lục địa phía Bắc .
25

Trích đoạn Trữ lượng và sản lượng dầu khí của Việt Nam Định hướng triển khai hoạt động tìm kiếm thăm dị khai thác ở nước ngồ Đổi mới phương pháp tiếp cận và đánh giá dự án
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status