BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO
TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
CAO THỊ HỒNG LỤA NGHIÊN CỨU ðÁNH GIÁ KHẢ NĂNG CHỊU HẠN VÀ
CH
ỊU ÚNG CỦA CÁC MẪU GIỐNG MẠCH MÔN
TR
ỒNG TẠI GIA LÂM - HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành: Khoa học cây trồng
Mã số: 60 62 01 10
Người hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN ðÌNH VINH
HÀ NỘI - 2013
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ……………………… i
cô ñã trực tiếp hướng dẫn tôi và tận hình giúp ñỡ ñể tôi trong suốt thời gian
nghiên cứu.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo Ban ðào tạo Sau ðại học;
Khoa Nông học và ñặc biệt là các thầy, cô giáo, các cán bộ nhân viên Bộ môn
Cây công nghiệp và Cây thuốc - Trường ðH Nông Nghiệp Hà Nội ñã tạo ñiều
kiện thuận lợi cho tôi trong thời gian nghiên cứu.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia ñình, bạn bè ñã nhiệt tình giúp ñỡ,
cộng tác và khích lệ tôi thực hiện ñề tài tốt nghiệp này.
Hà Nội, ngày 25 tháng 6 năm 2013
Tác giả
Cao Thị Hồng Lụa
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ……………………… iii
MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ðOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC BIỂU ðỒ viii
DANH MỤC HÌNH ix
2.3.2. Giá trị kinh tế 9
2.4. Tình hình nghiên cứu cây mạch môn trên thế giới và Việt Nam 10
2.4.1. Tình hình nghiên cứu cây mạch môn trên thế giới 10
2.4.2. Một số nghiên cứu cây mạch môn ở Việt Nam 15
2.5. Khả năng chịu hạn, chịu úng của cây trồng và cây mạch môn 19
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ……………………… iv
2.5.1. Các nghiên cứu về ñánh giá khả năng chịu hạn của cây trồng và
cây mạch môn
19
2.5.2. Các nghiên cứu về ñánh giá khả năng chịu úng của cây trồng và
cây mạch môn
24
3. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
3.1. Vật liệu, ñịa ñiểm và thời gian nghiên cứu 29
3.1.1. Vật liệu nghiên cứu 29
3.1.2. ðịa ñiểm nghiên cứu 29
4.1.4. Ảnh hưởng của mức tưới tới ñộng thái tăng trưởng về số nhánh
của các mẫu giống mạch môn 44
4.1.5. Ảnh hưởng của tưới nước tới ñộng tthái tăng trưởng chiều dài,
chiều rộng lá của các mẫu giống mạch môn
47
4.1.6. Ảnh hưởng tưới nước tới các chỉ tiêu về giải phẫu rễ của các
mẫu giống mạch môn
50
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ……………………… v
4.1.7. Ảnh hưởng của tưới nước tới các chỉ tiêu sinh lý của lá cây ở
các mẫu giống mạch môn
54
4.1.8. Ảnh hưởng của tưới nước tới hàm lượng nước của các mẫu
giống mạch môn
56
4.1.9. Ảnh hưởng của tưới nước tới sinh trưởng rễ và sinh khối của
các mẫu giống mạch môn
58
4.2. Nghiên cứu ñánh giá khả năng chịu úng của các mẫu giống mạch
mẫu giống mạch môn
77
4.2.9. Ảnh hưởng của ñộ ẩm ñất tới sinh trưởng rễ và sinh khối của
các mẫu giống mạch môn 79
5. KẾT LUẬN VÀ ðỀ NGHỊ 82
5.1. Kết luận 82
5.2. ðề nghị 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO 84
PHỤ LỤC 88
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ……………………… vi
DANH MỤC BẢNG
TT Nội dung TrangBảng 4.1. ðộ ẩm ñất ño ñược ở các công thức thí nghiệm 36
Bảng 4.2. Ảnh hưởng của tưới nước tới ñộng thái tăng trưởng chiều
cao tán của các mẫu giống mạch môn
38
của các mẫu giống mạch môn
59
Bảng 4.12. ðộ ẩm ñất ño ñược ở các công thức thí nghiệm 62
Bảng 4.13. Ảnh hưởng của ẩm ñộ ñất tới ñộng thái tăng trưởng chiều
cao cây của các mẫu giống mạch môn
63
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ……………………… vii
Bảng 4.14. Ảnh hưởng của ẩm ñộ ñất tới ñộng thái tăng trưởng chiều
rộng tán của các mẫu giống mạch môn
65
Bảng 4.15. Ảnh hưởng của ẩm ñộ ñất tới ñộng thái tăng trưởng số lá
của các mẫu giống mạch môn
66
Bảng 4.16. Ảnh hưởng của ẩm ñộ ñất tới ñộng thái tăng trưởng về số
nhánh của các mẫu giống mạch môn
68
Bảng 4.17. Ảnh hưởng của ẩm ñộ ñất tới ñộng thái tăng trưởng chiều
dài lá của các mẫu giống mạch môn
70
mẫu giống mạch môn
54
Biểu ñồ 4.2. Ảnh hưởng của tưới nước tới thế nước trong lá cây 56
Biểu ñồ 4.3. Ảnh hưởng của ẩm ñộ ñất tới hàm lượng proline trong lá
của các mẫu giống mạch môn
76
Biểu ñồ 4.4. Ảnh hưởng của ẩm ñộ ñất tới thế nước trong lá cây của
các mẫu giống mạch môn
76ðồ thị 4.1. Sự sinh trưởng về số nhánh của các mẫu giống mạch môn
ở mức tưới A1
46
ðồ thị 4.2. Sự sinh trưởng về số nhánh của các mẫu giống mạch môn
ở mức tưới A2
46
ðồ thị 4.3. Sự sinh trưởng về số nhánh của các mẫu giống mạch môn ở
mức tưới A3
47
ðồ thị 4.4. ðộng thái tăng trưởng về số nhánh của các mẫu giống mạch
môn ở mức tưới A1
69
Cây mạch môn (Mạch môn ñông) có tên khoa học là Ophiopogon
Japonicus Wall thuộc họ Liliaceae có nguồn gốc từ Nhật Bản và Triều Tiên.
Mạch môn là loại cỏ thảo sống lâu năm, rễ chùm. Lá mọc từ gốc, hẹp, gốc lá
hơi có bẹ, quả mọng. Mạch môn ñược trồng làm thuốc là chủ yếu ngoài ra
còn ñược trồng làm cảnh quan trong ñô thị, trồng bảo vệ ñất, chống xói mòn.
Sản phẩm thu hoạch làm thuốc là củ mạch môn. Trong củ mạch môn có các
thành phần dược liệu như: Ophiopogonin, Rucogenin, b-sitosterol…
Trong các tài liệu của Trung Quốc và Việt Nam, vị thuốc mạch môn
ñược sử dụng làm chủ vị hay kết hợp với các vị thuốc khác ñể tạo thành các
bài thuốc khác nhau chữa và dưỡng các loại bệnh về ñường hô hấp, tim mạch,
giải ñộc, giải khát và chữa bệnh tiểu ñường…
Trên thế giới cũng như ở Việt Nam những năm gần ñây do có sự bùng
nổ dân số, sự công nghiệp hóa ồ ạt làm cho môi trường sống của chúng ta trở
nên suy thoái nghiêm trọng kèm theo ñó là dịch bệnh phát triển. Biến ñổi khí
hậu ñang là một vấn ñề ñược cả thế giới quan tâm trong ñó Việt Nam là một
trong những nước chịu ảnh hưởng nặng nề. Chính vì vậy trong sản xuất nông
nghiệp nhiều loài cây trồng cũ dần ñang ñược thay thế bằng những cây trồng
mới có khả năng thích nghi cao với những ñiều kiện bất thuận ñó.
Mạch môn là cây trồng chịu hạn, chịu úng, chịu lạnh tốt và ưa ánh sáng
tán xạ nên nó thường ñược trồng xen dưới tán các cây công nghiệp và cây ăn
quả lâu năm như bưởi, cam, vải, chè, cao su…ñể giữ ẩm, hạn chế cỏ dại,
chống xói mòn bảo vệ ñất trồng. Người ta còn trồng mạch môn ñể trang trí
các công trình kiến trúc cảnh quan như ở Trung Quốc, Thái Lan, Mỹ, Úc…
Cây mạch môn là cây trồng có khả năng thích ứng cao và cũng là cây
có khả năng làm giảm thiểu các tác hại do biến ñổi khí hậu gây ra. Tuy nhiên
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ……………………… 2
- Kết quả nghiên cứu của ñề tài có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo
góp phần bổ sung cho quy trình kỹ thuật trồng và chăm sóc cây mạch môn tại
các vùng khô hạn và úng ngập.
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Từ việc xác ñịnh khả năng chịu hạn, chịu úng của các mẫu giống
mạch môn ñể từ ñó xác ñịnh giống thích hợp cho từng vùng sản xuất, mục
tiêu sử dụng góp phần tăng năng suất và hiệu quả kinh tế trong sản xuất
của người dân.
1.4. Giới hạn của ñề tài
ðề tài chỉ giới hạn nghiên cứu ñánh giá khả năng chịu hạn và chịu úng của
các mẫu giông mạch môn trồng trên ñất phù sa sông Hồng trong hộp xốp tại
nhà lưới tại Gia Lâm – Hà Nội trong thời gian 9 tháng.
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ……………………… 4
2. TỔNG QUAN VỀ VẤN ðỀ NGHIÊN CỨU 2.1. Nguồn gốc, phân loại và ñặc ñiểm thực vật học của cây mạch môn
2.1.1. Nguồn gốc và vị trí phân loại
Cây mạch môn là một loài thực vật có nguồn gốc từ Triều Tiên và Nhật
Bản. Là cây sống lâu năm, sinh trưởng phát triển tốt ở những nơi râm mát
dưới tán các loại cây khác. Hiện nay, mạch môn ñược trồng ở nhiều nước trên
thế giới như Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, Mỹ, ðức và Việt Nam với
mục ñích chính là thu hoạch củ làm dược liệu và làm cây cảnh quan.
Tại Việt Nam, cây mạch môn mọc hoang và ñược trồng ở nhiều nơi ñể
lấy củ làm thuốc hay bảo vệ ñất, làm cảnh quan. Cây mạch môn ñược trồng
tập trung nhiều nhất là ở các tỉnh Phú Thọ và Yên Bái.
khoảng 0,3 - 0,6 cm, bề mặt lát cắt màu trắng, hơi trong, có lõi hẹp, vân dọc
mịn, củ non màu trắng, trắng ngà, củ già màu hồng.
Hoa thường mọc vào ñầu hè, ở giữa các lá. Cụm hoa là chùm dài 10 –
20 cm, cuống có cạnh, hoa màu lục nhạt hoặc lơ sáng, lá bắc không màu hoặc
trắng nhạt. Hoa nhỏ, màu trắng hoặc tím nhạt, hơi rủ xuống, tập trung thành 1
chùm trên cuống chung dài. Cành hoa mọc từ giữa bụi cây ngắn hơn so với lá,
màu xanh hay xanh tím. Hoa có 6 cánh, dài khoảng 5mm, 6 nhị ñực, chỉ nhị
rất ngắn, bao phấn hình mác, bầu nhị nằm ở phía dưới, 3 ngăn, ống nhị cái
của hoa dài khoảng 4mm, phần gốc rộng, thường có hình dùi tròn.
Quả mọng, hình cầu, ñường kính 5 – 7 mm, lúc ñầu có màu xanh lục,
khi chín sẽ chuyển sang màu lam sẫm chứa 1 - 2 hạt. Tại miền Bắc Việt Nam
hoa nở từ tháng 6 - 8, quả hình thành từ tháng 7 - 9 và chín vào tháng 2 - 4
trong năm sau.
2.2. Yêu cầu sinh thái của cây mạch môn
Mạch môn là cây ưa ẩm, ưa sáng nhưng cũng chịu hạn và chịu bóng rất
tốt. Cây có thể sinh trưởng tốt dưới bóng râm mà nhiều cây trồng khác không
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ……………………… 6
sinh trưởng ñược. Vì vậy rất thích hợp trồng xen dưới các tán cây ăn quả,
vườn nhà, dưới tán cây lâm nghiệp, cây công nghiệp, dưới tán cây chè Cây
mạch môn có khả năng phát triển trên mọi loại ñất: ñất thịt nhẹ nhiều màu, ñất
cát pha, tơi xốp, cao ráo, thoát nước tốt.
Cây mạch môn có thể chịu ñược nhiệt ñộ lạnh tới khoảng -20
0
C khi
ngủ ñông ở ñiều kiện trồng trên ñất thông thường. Nhưng khi nuôi ngầm dưới
mặt nước nó lại cần nhiệt ñộ từ 18 - 25
3 kinh: tâm, phế và vị. Công dụng và chủ trị: dưỡng tâm, nhuận phế, thanh
tâm, trừ phiền, ích vị, sinh tân dịch, trị ngũ lao thất thương, bệnh thời khí
làm nóng như: cuồng, lợi niệu giả nhiệt, trẻ em bí ñái, ñái rắt, gan nóng, hầu,
họng sưng ñau…
Trong y học cổ truyền Trung Hoa, củ mạch môn ñông là một loại thảo
dược có tác dụng bổ khí, trị viêm, có thể dùng ñể trị bệnh. Toàn bộ phần thân
và củ không chỉ dùng làm thuốc mà còn có thể làm thành loại nước uống có
tác dụng thanh nhiệt, tăng cường sức khỏe, ñược sử dụng rất rộng rãi. Trong
củ mạch môn có các thành phần hóa học như:
+ Ophiopogonin, Ruscogenin, b-Sitosterol, Stgmasterol (Trung Dược Học).
+ Rễ gồm nhiểu loại Saponin, Axit amin, Vitamin A (Sổ Tay Lâm Sàng
Trung Dược).
Theo ðào Tư Cảnh thời nhà Lương, viết trong “Danh Y Biệt Lục”:
mạch môn có tác dụng trị phù chân, vàng mắt, tức ngực, mệt mỏi, miệng khô,
hóa nước, trị ho, chữa chân tay mệt mỏi, ñiều tiết dịch, an thần, tăng cường
sức khỏe. Thời nhà Tống, ðại Minh viết trong “Nhật Hoa Từ Bản Thảo” về
tác dụng y học của mạch môn ñông là trị mệt mỏi, tổn thương khí, an thần, trị
ñau ñầu, ho. ðời Minh, Ni Chu Mạc có viết trong “Bản Thảo Hối Ngôn” như
sau: Mạch môn ñông là cây có tác dụng thanh tâm, nhuận phế, trị khô miệng,
tăng cường trí nhớ, phục hồi hệ thần kinh bị tổn thương, trị ho ra máu, chống
mệt mỏi…
Theo Chinese Herbal Materia Madica, loại dược thảo này có vị cam
(ngọt), khổ (hơi ñắng) và hàn (lạnh); có tác dụng với các kinh tâm, phế, vị
(và bổ âm; chữa ho, khô lưỡi, khô miệng và táo bón. Mạch môn ñông có
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ……………………… 8
tác dụng thanh tâm, nhuận phế, tốt cho dạ dày, giảm viêm, trị ho (Daniel
ñịa 16g, mẫu ñơn 6g, ñơn sâm 6g, ngưu tất 6g, phục linh 6g, bạch thược 4g,
khương tán 1,6g. Sắc uống ngày 1 thang.
– Trị thổ huyết, chảy máu cam không cầm: mạch môn (bỏ lõi) 480g,
nghiền nát, ép lấy nước cốt, thêm ít mật ong chia làm 2 lần uống.
– Trị táo nhiệt hại phế, ho khan, ñờm dính, họng ñau: mạch môn 5g,
thạch cao 10g, tang diệp 12g, cam thảo 4g, mè ñen 4g, a giao 3g, hạnh nhân
3g, tỳ bà diệp 4g. Sắc uống.
– Trị nhiệt bệnh làm tổn thương phần âm, tâm phiền, khát, tinh hồng
nhiệt, ñơn ñộc phát ban, thần trí mê muội: mạch môn 12g, huyền sâm 20g, tê
giác 4g, sinh ñịa 24g, tinh tre 12g, ñan sâm 16g, kim ngân hoa 16g, liên kiều
16g, hoàng liên 4g, sắc uống.
2.3.2. Giá trị kinh tế
Cây mạch môn là cây dược liệu quý, ñược sử dụng làm thuốc chữa
nhiều bệnh cho con người. ðây là một loại cây thảo, rất dễ trồng và dễ sống,
ít bị sâu bệnh gây hại do vậy không cần sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực
vật, ñem lại hiệu quả kinh tế cao cho người trồng. Sau trồng từ 2 – 3 năm trở
lên là có thể cho thu hoạch, năng suất ñạt 400 – 500 kg/sào nơi ñất tốt.
Theo ñiều tra, ñánh giá của Nguyễn ðình Vinh, Nguyễn Thị Thanh Hải
(2011): ña số ý kiến ñánh giá cây mạch môn không có ảnh hưởng xấu ñến
sinh trưởng của cây trồng chính. Một số ý kiến còn cho rằng cây mạch môn
ảnh hưởng tốt ñến cây trồng chính như làm tăng ñộ ẩm ñất, tăng lượng mùn
trong ñất. Qua quan sát người dân ñánh giá các cây vải, cây bưởi, cây cam có
trồng xen mạch môn sinh trưởng tốt hơn các loại cây này không ñược trồng
xen cây mạch môn, ñặc biệt là vào các tháng mùa khô. [17]
Nguyễn ðình Vinh, Nguyễn Thị Thanh Hải (2011) năng suất củ mạch
môn trong ñiều kiện trồng phân tán dưới tán các loại cây ăn quả có thể ñạt từ
6,5 ñến 16 tấn củ tươi/ha, cho thu nhập từ 60 – 100 triệu ñồng/ha. Vì vậy việc
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ………………………
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ……………………… 11
Tại các bang ở vùng ðông Nam, Nam và bang Hawai của nước Mỹ
nhiều tác giả ñã khẳng ñịnh cây mạch môn có thể sử dụng làm cây che phủ
ñất và làm hàng rào chắn ñất có hiệu quả trong các vườn gia ñình hay công
viên, công sở. Tại ñây cây mạch môn ñược coi là cây ñược sử dụng vào
mục ñích làm cảnh quan và thương mại, và từ cây mạch môn ñem lại một
lợi nhuận lớn tới 75 triệu ñô la/năm. Cây mạch môn là cây che phủ ñất có
chiều cao thấp song có thể trải rộng với mật ñộ lá dày, cây có thể sinh
trưởng dưới bóng dâm, nơi mà nhiều cây trồng khác không sinh trưởng
ñược, cây có khả năng chịu hạn tốt và duy trì bộ tán lá thường xuyên. Do
vậy ngoài mục ñích che phủ, bảo vệ ñất cây mạch môn còn ñược xem là
cây trồng kiểm soát cỏ dại, sâu bệnh.
2.4.1.1. Nghiên cứu về phân loại giống
Nghiên cứu về nhân giống và phân loại giống, Jay Deputy và David
Hensly (1998) cho thấy ở bang Hawai của nước Mý có 7 dạng mạch môn
ñang ñược sử dụng với mục ñích làm cảnh quan là: Ophiopogon japonicus
(O.P) Mondo; O.P.var. ‘Nanus’; O.P. ‘Gyoku-ryu’; O.P. ‘Kijimafukiduma’;
Ophiopogon jaburan ‘variegatus’; Ophiopogon planiscapus ‘Nigrescens’;
Ophiopogon Jaburan ‘Evergreen Giant’. Các dạng này khác nhau về kích
thước lá và màu sắc hoa.
Năm 2007, Broussard M.C ñã tiến hành nghiên cứu về phân loại thực
vật và một số kỹ thuật trồng trọt cây mạch môn tại trường ðại học Tổng hợp
bang Louisiana – Mỹ. Tác giả ñã nghiên cứu về ñặc ñiểm hình thái và phân
loại 19 mẫu cây thuộc họ Liriope và Ophiopogon (họ mạch môn), nghiên cứu
về ảnh hưởng của mức ñộ che bóng, khả năng che bóng, tạo phong cảnh, kỹ
thuật bón phân, cắt lá ñến sinh trưởng và phát triển của các mẫu cây thu thập.
0,46. Dựa trên mô hình phân tích cấu trúc cho thấy sự hiện diện của ba tiểu
quần thể, về cơ bản phù hợp với cở sở phân nhóm dựa vào khoảng cách di
truyền. ðây mới ñánh dấu sự phát triển EST-SSR sẽ có ích cho các nghiên
cứu xa hơn nữa như phân loại và nghiên cứu về nhân giống và sẽ tiếp tục
nâng cao sự hiểu biết khoa học của chúng ta về di truyền và bảo tồn của các
loài Liriope và Ophiopogon. [24]
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ……………………… 13
Kết quả nghiên cứu cho rằng: Liriope và Ophiopogon thường phân bố
phong phú ở vùng cận nhiệt ñới và ôn ñới, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản
và Ấn ðộ. Liriope bao gồm khoảng tám loài và Ophiopogon bao gồm khoảng
54 loài. Hai chi có liên quan chặt chẽ và tương tự nhau (Dai và Liang, 1991).
Theo cách truyền thống, Liriope ñược phân loại chủ yếu dựa trên các dữ liệu
hình thái học, ñược nhận dạng bởi sự kết hợp của hoa, lá và ñặc ñiểm hệ
thống rễ, kết quả của các hệ thống phân loại. Một số sự nhầm lẫn về cách ñặt
tên chính xác của các thực vật này là do khó khăn trong việc phân biệt chúng,
dẫn ñến việc thay thế thực vật, làm suy thoái giống cây trồng. Nghiên cứu
phân tử về các loài và giống sẽ cung cấp một bước tiến lớn, khẳng ñịnh các
mô tả về hình thái học, nhưng chỉ có một vài dấu hiệu di truyền ñã ñược khám
phá cho ñến nay. Nhiều nghiên cứu về phân loại ñã cố gắng ñể phân biệt
Liriope bằng cách sử dụng ñánh dấu phân tử khác nhau, chẳng hạn như sự
khuyếch ñại ngẫu nhiên của ADN ña hình (Huang et al, 2009). Mục tiêu của
sự khuyếch ñại ña hình (Zhang và Chen, 2010), lặp ñi lặp lại chuỗi ñơn
giản(Liu et al, 2010), và Yamashita và Tamura (2001) cho thấy một mối quan
hệ gần giữa Ophiopogon jaburan và Ophiopogon japonicus dựa trên chuỗi dữ
liệu DNA lục lạp. Những nghiên cứu này ñã làm rõ các mối quan hệ phát sinh
loài và ña dạng di truyền giữa các loài Liriope và Ophiopogon là khác nhau,
ñược tiệt trùng rồi cho vào trong MS trung bình ở các tỷ lệ 0:0,5:1,0:1,5 và
2,0 mg/l BA. Kết quả cho thấy MS ở mức 2mg/l BA sẽ cho số lượng rễ cao
nhất, ra 3 rễ trong vòng 60 ngày. Rễ dùng ñể nhân giống ñược xử lý MS với
NAA ở tỷ lệ 0:0,1:0,5:1,0 mg/l. Nồng ñộ NAA phù hợp cho rễ phát triển là
0,1mg/l. [22]
2.4.1.3. Nghiên cứu về bón phân
Nghiên cứu về bón phân cây mạch môn ñã có nhiều tác giả kết luận
như sau: Midcap và Clay (1988) cho thấy bón phân cho cây mạch môn vào
ñầu mùa xuân sẽ cho sức sống của cây tốt nhất, ngược lại bón vào giữa mùa
hè sức sống của cây giảm. Mills và Jones (1996), cho thấy rằng việc xác ñịnh
loại phân bón, thời ñiểm bón, lượng phân, vị trí bón phân có ảnh hưởng rất
lớn ñến sinh trưởng của cây mạch môn và môi trường. Giliam (1980); Deputy
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ……………………… 15
& Hensley (1998) nhận ñịnh: phân ñạm có thể là nguyên nhân gây tổn thương
ñến ñỉnh sinh trưởng của cây mạch môn. Sinh trưởng của cây mạch môn tốt
hơn khi bón 6kg hỗn hợp (6N : 6P
2
O
5
: 6K
2
O) cho mỗi m
3
ñất làm vườn ươm.
Theo Berry (1995), cây mạch môn sinh trưởng tốt trong dung dịch ñất có