LỜI CẢM ƠN
Vì kiến thức còn hạn hẹp, đề tài mới mẻ, tài liệu còn hạn chế, thời gian tiếp xúc
với Ngân hàng không nhiều và đây cũng là một Ngân hàng còn khá mới nên luận văn
của em không tránh khỏi thiếu sót. Rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của quý
thầy cô và các bạn sinh viên để luận văn được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của:
Lãnh đạo LienVietPostBank - Chi nhánh Đông Đô
(Địa chỉ: Số 297 Kim Mã, Phường Giảng Vị, Quận Ba Đình)
Các anh chị tại LienVietPostBank - Phòng giao dịch Hồng Quốc Việt
(Địa chỉ: Số 1014 Hồng Quốc Việt, Từ Liêm, Hà Nội)
đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình thực tập.
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến:
Các thầy cô của trường Đại học Đại Nam, giảng viên hướng dẫn: Th.S Lê Thị
Thanh Hương đã nhiệt tình hướng dẫn, chỉ bảo tận tình, xem xét, đóng góp ý kiến cho
em trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài để em hoàn thiện luận văn này.
i
THUẬT NGỮ VIẾT TẮT
TMCP Thương mại cổ phần
LPB Ngân hàng Bưu Điện Liên Việt
NHTW
Ngân hàng trung ương
NHNN
Ngân hàng nhà nước
NHTM Ngân hàng thương mại
TCTD
Tổ chức tín dụng
TCKT
Tổ chức kinh tế
TGTK Tiền gửi tiết kiệm
NVHĐ
Nguồn vốn huy động
nước ta phát triển chậm, tỷ lệ sử dụng tiền mặt còn lớn, các loại dịch vụ ngân hàng
chưa đa dạng, nguồn vốn trong dân cư chưa được quan tâm đúng mức. Trong điều
kiện như vậy, chúng ta không thể không có những biện pháp, chính sách hợp lý để huy
động, khai thác hết mọi nguồn vốn tiềm tàng trong dân cư và trong các tổ chức kinh tế
để đáp ứng nhu cầu vốn cho xã hội, đồng thời mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh
của Ngân hàng.
Trong thời gian thực tập tại Ngân hàng TMCP Bưu điện Liên Việt - chi nhánh
Đông Đô (LPB Đông Đô), em đã tìm hiểu tình hình hoạt động kinh doanh của chi
nhánh. Thực tế trong những năm qua, nhìn chung LPB Đông Đô đã tập trung chú
trọng vào công tác mở rộng huy động vốn, coi thị trường huy động vốn là động lực
của kinh doanh, tổ chức tốt công tác huy động vốn, đáp ứng được nhu cầu của khách
hàng, có những biện pháp ứng xử phù hợp với sự thay đổi của vốn, đáp ứng nhu cầu
ngày càng đa dạng của khách hàng.
Tuy nhiên, những thành công đó vẫn chưa thể đảm bảo cho sự thành công trong
tương lai của LPB Đông Đô. Vì vậy việc tìm hiểu, nghiên cứu để mở rộng thị
trường huy động vốn sẽ giúp LPB Đông Đô giành được ưu thế hơn các đối thủ cạnh
tranh và tăng thị phần của mình. Chính vì vậy mà em đã chọn đề tài: “ Giải pháp
nâng cao hiệu quả hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng thương mại cổ phần
Bưu Điện Liên Việt - chi nhánh Đông Đô ” cho khóa luận của mình.
1
2.Mục đích nghiên cứu:
Nghiệp vụ huy động vốn là một trong những nghiệp vụ kinh doanh truyền thống
và đóng vai trị quan trọng cho sự phát triển của ngân hàng. Nắm rõ được vấn đề đó
nên mục tiêu của khóa luận là đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả huy động
vốn của ngân hàng.
3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Hoạt động huy đông vốn là một nghiệp vụ vô cùng quan trọng và đòi hỏi kết hợp
rất nhiều yếu tố thì mới có thể làm tốt công tác này. Trong giới hạn đề tài nghiên cứu,
khóa luận tập trung vào việc tìm hiểu và đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả huy
động vốn của LPB Đông Đô.
hàng hóa phát triển mạnh mẽ đến giai đoạn cao nhất là nền kinh tế thị trường thì
NHTM cũng ngày càng được hoàn thiện và trở thành những định chế tài chính không
thể thiếu được.
Cho đến nay, ở mỗi nước khác nhau có khái niệm khác nhau về NHTM. Ở Việt
nam, theo điều 4, khoản 3 Luật các tổ chức tín dụng (Luật số 47/2010/QH12) có hiệu
lực thi hành kể từ 01/01/2011 có đưa ra khái niệm như sau: “NMTM là loại hình
ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh
doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận” . Trong đó,
“hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường một hoặc một số nghiệp
vụ sau đây: Nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản”.
*Vai trò của NHTM
NHTM ra đời do yêu cầu của sự phát triển nền kinh tế: là cơ sở cho nền sản xuất
và lưu thông hàng hóa và nền kinh tế ngày càng phát triển càng cần đến hoạt động của
các NHTM. Thông qua việc thực hiện các chức năng, vai trò của mình nhất là chức
năng trung gian tín dụng, NHTM đã trở thành một bộ phận nền kinh tế phát triển. Sự
đóng góp này thể hiện như sau:
Ngân hàng là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế.
Với hoạt động đứng ra huy động các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi ở mọi tổ chức,
cá nhân, mọi thành phần kinh tế (vốn tạm thời nhàn rỗi được giải phóng từ quá trình
sản suất, từ nguồn tiết kiệm của dân cư…) thông qua nghiệp vụ tín dụng, NHTM cung
cấp vốn cho nền kinh tế, đáp ứng đầy đủ kịp thời cho quá trình tái sản xuất. Chính nhờ
3
hoạt động của hệ thống NHTM, đặc biệt là hoạt động tín dụng, các doanh nghiệp có
điều kiện cải thiện hoạt động của mình góp phần nâng cao hiệu quả của cả nền kinh tế.
NHTM là công cụ để nhà nước điều tiết nền kinh tế.
Trong sự vận hành của nền kinh tế thị trường, hoạt động của NHTM nếu có hiệu
quả sẽ thực sự trở thành công cụ hữu hiệu để Nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế.
Thông qua hoạt động tín dụng và thanh toán giữa các NHTM trong hệ thống, các
NHTM đã góp phần mở rộng hay thu hẹp lượng tiền trong lưu thông. Hơn nữa bằng
việc cấp các khoản tín dụng cho nền kinh tế, NHTM thực hiện việc dẫn dắt các luồng
khác nhau. Với tư cách là một chủ thể hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ, đòi hỏi ngân
hàng phải luôn nắm bắt được thông tin, đa dạng các nghiệp vụ để cung cấp đầy đủ kịp
thời nguồn vốn cho nền kinh tế. Ngoài hình thức phổ biến là cho vay, ngân hàng còn
sử dụng vốn để đầu tư. Có hai hình thức chủ yếu mà các NHTM có thể tiến hành là:
Đầu tư vào các mua bán kinh doanh các chứng khoán hoặc đầu tư góp vốn vào các
doanh nghiệp, các công ty khác.
Đầu tư vào trang thiết bị tài sản cố định phục vụ cho hoạt động kinh doanh của
ngân hàng.
Ba là nghiệp vụ ngân quỹ:
Lợi nhuận luôn là mục tiêu cuối cùng mà các chủ thể khi tham gia tiến hành sản
xuất kinh doanh mong muốn. Tuy nhiên, đằng sau mục tiêu quan trọng đó là hàng loạt
các nhân tố cần quan tâm. Một trong những nhân tố đó là tính an toàn. Nghề ngân
hàng là một nghề kinh doanh đầy mạo hiểm, trong hoạt động của mình, ngân hàng
không thể bỏ qua sự an toàn. Vì vậy ngoài việc cho vay và đầu tư để thu được lợi
nhuận, ngân hàng còn phải sử dụng một phần nguồn vốn huy động được để đảm bảo
an toàn về khả năng thanh toán và thực hiện các quy định về dự trữ bắt buộc do trung
ương đề ra.
1.1.2.3.Nghiệp vụ khác
Là trung gian tài chính ngân hàng có rất nhiều lợi thế. Một trong những lợi thế đó
là ngân hàng thay mặt khách hàng thực hiện thanh toán giá trị hàng hóa và dịch vụ. Để
thanh toán nhanh chóng, thuận tiện và tiết kiệm chi phí, ngân hàng đưa ra cho khách
hàng rất nhiều hình thức thanh toán như thanh toán bằng séc, ủy nhiệm chi, nhờ thu,
các loại thẻ,….cung cấp mạng lưới thanh toán điện tử, kết nối các quỹ và cung cấp tiền
mặt khi khách hàng cần. Mặt khác các NHTM còn tiến hành môi giới, mua bán chứng
cho khách hàng và làm đại lý phát hành chứng khoán cho công ty. Ngoài ra ngân hàng
còn thực hiện các dịch vụ ủy thác như ủy thác cho vay, ủy thác đầu tư, ủy thác cấp
phát, ủy thác giải ngân và thu hộ….
5
Như vậy các dịch vụ trên nếu thực hiện tốt sẽ đảm bảo cho ngân hàng tồn tại và
phát triển vững mạnh trong môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt như hiện nay. Vì
1.2.2.1.Đối với nền kinh tế
Nghiệp vụ huy động vốn của NHTM nhằm thu hút vốn tiền tệ nhàn rỗi trong lưu thông
để đầu tư vào sản xuất kinh doanh, tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển bền vững.
Huy động vốn tạo điều kiện thanh toán không dung tiền mặt ngày càng mở rộng,
giảm lượng tiền mặt trong lưu thông, tiết kiệm chi phí lưu thông tiền tệ.
Hơn nữa, nguồn vốn huy động là cơ sở cho các khoản vay mà từ đó các dự án khả
thi được thực hiện khiến các ngành nghề mới được ra đời, các doah nghiệp mở rộng
sản xuất kinh doanh tạo thêm công ăn việc làm giúp tăng thu nhập, cải thiện cuộc sống
cho người lao động.
Ngoài ra, qua nghiệp vụ phát hành giấy tờ có giá NHTM tạo thêm hàng hóa cho
thị trường vốn, thúc đẩy thị trường tài chính, tiền tệ phát triển.
1.2.2.2.Đối với bản thân NHTM
Hoạt động cơ bản của NHTM là đi vay để cho vay cho nên nghiệp vụ huy động
vốn có vai trò rất quan trọng trong quá trình phát triển của các NHTM:
+ Tạo điều kiện tăng thêm nguồn vốn cho NHTM, để NHTM có nguồn vốn cho
vay các doanh nghiệp và cá nhân.
Tăng thêm lợi nhuận cho NHTM
+ Tạo điều kiện để NHTM thực hiện được các nghiệp vụ ngân hàng khác như: tín
dụng, thanh toán,…
Tóm lại: vốn đóng vai trị hết sức quan trọng trong quá trình hoạt động kinh doanh
của NHTM, vì vậy hoạt đông huy động vốn của NHTM sẽ ảnh hưởng tới khả năng
thanh toán, quy mô cũng như phạm vi hoạt động của ngân hàng. Huy động vốn là
nghiệp vụ truyền thống của NHTM, do vậy dư thừa huy động vốn, NHTM vẫn phải
duy trì bền vững nghiệp vụ này.
1.2.3.Các hình thức huy động vốn của NHTM
1.2.3.1.Huy động vốn qua hình thức nhận tiền gửi
Các dịch vụ nhận tiền gửi mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng gửi tiền bao gồm:
* Tiền gửi không kỳ hạn:
Là loại tiền gửi mà khách hàng – người gửi tiền có thể gửi vào và rút ra bất cứ lúc
nào và ngân hàng phải thỏa mãn nhu cầu đó của khách hàng. Chính vì tính không ổn
8
Xét về bản chất, đây là một phần thu nhập của cá nhân người lao động chưa sử
dụng cho tiêu dung. TGTK là một dạng đặc biệt để tích lũy tiền tệ trong lĩnh vực tiêu
dung cá nhân.
Từ lâu, TGTK được coi là công cụ huy động vốn truyền thống của các NHTM.
Vốn huy động từ các tài khoản tiết kiệm thường chiếm một tỉ trọng đáng kể trong tiền
gửi ngân hàng ( ở Mỹ chiếm khoảng 25% tổng tiền gửi ngân hàng). Trên thực tế, trong
nền kinh tế thị trường, TGTK được phat hành dưới hai loại hình tiết kiệm sau:
- TGTK không kỳ hạn: là khảo tiền gửi tiết kiệm của khách hàng có thể rút ra bất
kỳ lúc nào song không được sử dụng các công cụ thanh toán để chi trả cho người khác.
Thực chất đây là khoản TGTK thông thường. Đối với khoản tiền gửi này, chủ tài
khoản có thể rút ra bất cứ lúc nào mà không phải báo trước. Tuy nhiên, số dư tài khoản
này thường không lớn, nhưng có ưu điểm hơn so với các tài khoản tiền gửi giao dịch ở
chỗ: số dư này ít biến động. Chính vì vậy, đối với loại tiền gửi này, các NHTM thường
trả lãi suất cao hơn so với tiền gửi thanh toán.
- TGTK có kỳ hạn: là khoản tiền gửi tiết kiệm có thỏa thuận về thời hạn rút tiền,
có mức lãi suất cao hơn so với TGTK không kỳ hạn.
Loại hình tiết kiệm này khá quen thuộc ở Việt Nam. Các NHTM ở Việt Nam
thương huy động tiết kiệm với kỳ hạn từ 3 tháng đến 1 năm hoặc nhiều hơn. Nhưng do
áp lực cạnh tranh và do nhu cầu về vốn ngày càng tăng thêm nên các NHTM tăng dần
lãi suất TGTK và đa dạng hóa thời hạn gửi tiền ( tháng, tuần và thậm chí theo ngày…)
với các mức lãi suất khác nhau.
Hơn nữa, về nguyên tắc một khi khách hàng hàng gửi tiền vào tài khoản nay họ sẽ
không được rút ra (cả gốc vã lãi) trừ khi hết hạn gửi tiền. Để tăng cường sức cạnh
tranh trong thu tiền gửi, các NHTM vẫn cho phép khách hàng rút tiền trước hạn.
Tiền gửi tiệt kiệm có hình thức huy động khác nhau nhằm thu hút nguồn vốn nhàn
rỗi trong dân cư như: tiết kiệm có thường, tiết kiệm gửi gốc linh hoạt,…
Tiết kiệm gửi gốc linh hoạt: loại tiết kiệm này phổ biến ở một số nước công
nghiệp, nhằm thu hút số tiền nhàn rỗi trong thời han dài. So với các loại hình tiết kiệm
khác, đối với loại tiết kiệm này, bất kỳ lúc nào chủ tài khoản cũng có thể gửi tiền vào
Trái phiếu gồm nhiều loại: trái phiếu ghi danh, trái phiếu không ghi danh, trả lãi
trước, trả lãi sau, có thể chuyển nhượng,…các loại trái phiếu có đặc trưng là mệnh giá
được xác định trước (ghi trên trái phiếu), nagyf đáo hạn được công bố khi phát hành.
10
Như vậy, trái phiếu, kỳ phiếu ngân hàng là những hình thức huy động rất tiện lợi,
tùy theo tính cân đối nguồn vốn và cho vay từng thời kỳ với mức lãi suất hấp dẫn của
NHTM.
1.2.3.3.Huy động vốn qua đi vay:
* Vay NHTW:
- Vốn vay ngắn hạn bổ sung: Là hình thức các NHTM vay vốn bổ sung vốn ngắn
hạn cho mình. Trong hình thức vay này, cac NHTM chỉ được vay khi còn hạn mức tín
dụng và trong hạn mức tín dụng đã thỏa thuận.
- Vốn vay để thanh toán: các NHTM vay NHTW đẻ thực hiện công tác thanh
toán giữa các ngân hàng nhằm bù đắp thiếu hụt tạm thời trong thanh toán (thời hạn vay
thường ngắn).
- Tái cấp vốn: NHTW cho NHTM vay trên cơ sở chứng từ có giá. Các chứng từ
này phải là các chứng từ có chất lượng, tức phải thỏa mãn những điều kiện: hợp pháp,
hợp lệ, đảm bảo an toàn. Tái cấp vốn bao gồm 2 hình thức:
Cho vay tái chiết khấu: NHTW nhận các chứng từ có giá mà các NHTM đó chiết
khấu trước đây để thực hiện các nhiệm vụ giống như các NHTM đó làm. Ty nhiê, việc
cho vay tái chiết khấu đối với ngân các NHTM đó được giới hạn trong mức cho phép
(hạn mức tái chiết khấu) để thực hiện chính sách tiền tệ của Nhà nước.
Cho vay có đảm bảo: là hình thức các NHTM đem các chứng từ có giá đến
NHTW để đảm bảo xin vay vốn. Căn cứ trên tổng mệnh giá các chứng từ có giá làm
đảm bảo, NHTW sẽ cho vay theo tỷ lệ nhất định tuy theo quản lý của Nhà nước.
Trong số đó, hình thức thường gặp là vay tái chiết khấu. Với vai trò là người cho
vay cuối cùng, NHTW luôn cho các NHTM vay với một mức giá nhất định: đó là lãi
suất chiết khấu. Lãi suất tái chiết khấu được NHTW thực hiện như một công cụ điều
tiết vĩ mô, tùy theo yêu cầu điều tiết của nền kinh tế mà lãi suất này có thể nâng cao
hoặc hạ thấp. Để hạn chế tình trạng các NHTM ố ạt vay vốn, NHTW sử dụng các công
1.3.2.Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả huy động vốn của NHTM.
1.3.2.1.Các chỉ tiêu trực tiếp
- Lợi nhuận kinh doanh từ vốn huy động (Lãi ròng từ cho vay, đầu tư):
Lợi nhuận kinh doanh từ vốn huy động là khoản thu nhập của NHTM thu được từ
12
hoạt động cho vay và đầu tư sau sau khi trừ chi phí huy động và chi phí hoạt động
khác. Chỉ tiêu này phản ánh lợi nhuận ròng thu được từ hoạt động huy động vốn của
NHTM trong kỳ báo cáo.
Chỉ tiêu lợi nhuận kinh doanh từ vốn huy động có ý nghĩa quan trọng trong việc
đánh giá hiệu quả nghiệp vụ huy động vốn. Thông qua việc phân tích và so sánh chỉ
tiêu này ta đánh giá được lợi nhuận thực tế của nguồn vốn huy động.
Phương pháp tính toán chỉ tiêu này như sau:
Lợi nhuận
kinh doanh từ
vốn huy động
=
Thu từ lãi cho vay
và đầu tư
-
Chi phí trả lãi tiền gửi,
tiền vay và chi phí
hoạt động khác
- Tỷ suất lợi nhuận kinh doanh từ vốn huy động (Tỷ suất lãi ròng từ cho vay,
đầu tư):
Chỉ tiêu này cho biết trong kỳ phân tích, từ 100 đồng nguồn vốn huy động được,
qua quá trình cho vay và đầu tư, NHTM thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận. Chỉ tiêu
này được càng cao thì hiệu quả sử dụng vốn huy động của NHTM càng tốt, góp phần
nâng cao mức lợi nhùn trong kỳ.
Chỉ tiêu này được xác định như sau:
Tỷ suất lợi nhuận
dụng để cho vay và đầu tư. Qua đó phản ánh sự phù hợp giữa huy động vốn và sử
dụng vốn xét về quy mô.
Hệ số sử dụng vốn huy động được tính toán như sau:
Hệ số sử dụng vốn
=
Tổng dư nợ cho vay và đầu tư
huy động Tổng nguồn vốn huy động
- Chỉ tiêu cơ cấu nguồn vốn huy động:
Quy mô nguồn vốn huy động cho ta biết quy mô cũng như vị thế của một ngân
hàng. Trong khi đó, việc tính toán cơ cấu từng loại nguồn vốn trong tổng nguồn vốn
của NHTM giúp ngân hàng đánh giá được sự phù hợp giữa cơ cấu nguồn vốn huy
động với cơ cấu sử dụng vốn huy động.
Cơ cấu nguồn vốn huy động của NHTM là tỷ trọng và mối quan hệ của từng loại
nguồn vốn huy động so với tổng nguồn vốn của NHTM tại một thời điểm nhất định.
NHTM hoạt động có hiệu quả khi nguồn vốn huy động có cơ cấu hợp lý.
Thuần túy về mặt công thức thì:
Tỷ trọng nguồn vốn thứ i =
Số dư nguồn vốn thứ i
100
Tổng nguồn vốn huy động
1.3.3.Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả huy động vốn của NHTM
1.3.3.1.Nhân tố khách quan:
* Hành lang pháp lý
Những bộ phận tác động đến hoạt động kinh doanh của NHTM như: luật các
14
TCTD, luật Ngân hàng Nhà nước, luật đầu tư nước ngoài, các chính sách tài chính tiền
tệ,…Những luật này quy định tỷ lệ huy động vốn so với vốn tự có, quy định việc phát
hành trái phiếu, kỳ phiếu, quy định mức cho vay của NHTM đối với một khách
hàng…hoặc của NHTM không đượcNHTM không được nhận tiền gửi hoặc cho vay
bằng cách tăng giảm lãi suất, mà phải dựa vào lãi suất do ngân hàng Nhà nước đưa ra
phù hợp với lãi suất cho vay để tránh việc huy động với giá cao mà đầu tư giá thấp.
Các NHTM thường chia nhỏ lãi suất theo thời hạn khác nhau, và không để ứ đọng vốn
họ lại giảm lãi suất cho vay, nhưng vẫn phải đảm bảo kinh doanh có lãi.
* Sự đa dạng và tiện ích của các dịch vụ do ngân hàng cung cấp cho khách hàng
Nếu một ngân hàng đưa ra các dịch vụ tốt và đa dạng thường có lợi thế hơn các
ngân hàng có dịch vụ giới hạn. Trong điều kiện địa bàn thiếu bãi đậu xe, nếu ngân
hàng có bãi đậu xe tiện nghi rộng rãi cũng là một lợi thế. Hay như ngân hàng có quầy
thu cạnh đường, dịch vụ ngân hàng qua thư, các hệ thống chi trả tự động, làm việc suốt
ngày đêm và các dịch vụ nhận tiền gửi được cải tiến và tốn ít thời gian,… sẽ là một lợi
thế cho ngân hàng trong việc thu hút khách hàng.
* Mạng lưới phục vụ cho công tác huy động vốn
Với những ngân hàng sát địa bàn dân cư hoặc gần trung tâm thương mại thì sẽ
thuận lợi khi thu hút vốn. Mạng lưới huy động thường được biểu hiện qua việc tổ chức
các quỹ tiết kiệm. Khi dân chúng có tiền nhàn rỗi sẽ ra quầy tiết kiệm gần nhà nhất để
gửi tiền nhằm tiết kiệm chi phí và thời gian đi lại. Vì vậy, mạng lưới huy động cần
rộng rãi, tạo điều kiện thuận lợi cho người gửi tiền. Mạng lưới nên mở ra cả ở nhiều
nơi như: nông thôn, vùng sâu, vùng xa,…
* Công nghệ trong thanh toán và tin học
Nhờ có hệ thống tin học hiện đại ngân hàng có thể thu thập các thông tin tốt về
khách hàng, về thị trường, qua đó xác định được thị trường đầu tư vốn có hiệu quả,
phát triển nghiệp vụ và các dịch vụ của mình, giúp hạn chế rủi ro, tăng lợi nhuận, tạo
điều kiện cho ngân hàng mở rộng vốn tự có.
* Nguồn nhân lực
Khi cán bộ ngân hàng có năng lực tốt, trình độ nghiệp vụ cao thì mọi nghiệp vụ
đều được thực hiện nhanh chóng, chính xác và có hiệu quả. Ngoài ra, nếu ngân hàng
hoạt động tốt, có danh tiếng lâu đời, các nhân viên luôn cởi mở, nhiệt tình sẽ tạo uy tín
tốt cho khách hàng, sẽ ngày càng có nhiều khách hàng đến giao dịch, gửi tiền và
16
ngược lại.
* Mức độ thâm niên và uy tín của một ngân hàng
điện ở 63 tỉnh thành trên cả nước
Ngay từ thời điểm thành lập năm 2008, nền kinh tế thế giới đối mặt với cuộc
khủng hoảng tài chính thế kỷ xuất phát từ bong bóng bất động sản ở Mỹ. Khu vực
ngân hàng của Việt Nam gặp vấn đề về thanh khoản. Trong bối cảnh khó khăn như thế
nhưng LienVietPostBank đã đạt được lợi nhuận khá cao. Sau 10 tháng hoạt động kể từ
18
tháng 05/2008, LienVietPostBank đã đạt lợi nhuận gần 600 tỷ đồng, tổng tài sản đạt
gần 10.000 tỷ đồng.
Cổ đông sáng lập của LienVietPostBank: Công ty TNHH Him Lam (nay là Công
ty cổ phần Him Lam), Tổng Công ty Thương mại Sài Gòn (SATRA) và Công ty dịch
vụ Hàng không sân bay Tân Sơn Nhất (SASCO).
Năm 2010 đánh dấu sự thay đổi nhanh chóng của LienVietPostBank về mặt thể
chế và mạng lưới. Mạng lưới toàn quốc của Ngân hàng tiếp tục mở rộng ở cả 3 miền.
Đồng thời LienVietPostBank cũng đã xây dựng được mô hình tổ chức phù hợp với sự
phát triển toàn diện, khai thác các thế mạnh sẵn có và các thế mạnh mới được tạo dựng
(nguồn vốn, khách hàng, cơ hội kinh doanh mới). LienVietPostBank tiến hành
chuyển đối cơ cấu tổ chức theo hướng tiếp tục phát huy tính đúng đắn của mô hình
quản lý theo khối chức năng kết hợp với sự tham gia quản trị và sâu rộng hơn của toàn
bộ các thành viên Hội đồng quản trị.
Đại hội đồng cổ đông LienVietPostBank ngày 28/03/2010 tại thành phố Đà Nẵng
đã chính thức thông qua chủ trương sáp nhập Công ty dịch vụ tiết kiệm bưu điện
(VPSC), 1 thành viên của Tổng công ty bưu chính Việt Nam (VNPost), Tập đoàn bưu
chính viễn thông Việt Nam (VNPT) vào LienVietBank.
LienVietPostBank đã hình thành mạng lưới các đối tác, khách hàng chiến lược,
trong đó có thể kể đến một số tên tuổi như: Công ty cổ phần bảo hiểm ngân hàng nông
nghiệp (ABIC), Công ty cổ phần bất động sản điện lực dầu khí (PV Power Land),
Công ty cổ phần sành sứ thủy tinh Việt Nam (Vinaceglass), Tổng công ty thương mại
Hà Nội (Hapro), Tổng công ty lương thực Việt Nam 2 (Vinafood II), Công ty TNHH
một thành viên tài chính than - khoáng sản Việt Nam, Công ty cổ phần đầu tư và kinh
doanh nhà (Intresco),
Từ năm 2012, hai Phòng giao dịch trực thuộc là Nguyễn Chí Thanh và Thái Thịnh
tách ra khỏi LPB Đông Đô để phát triển thành Phòng giao dịch đặc thù nên Chi nhánh chỉ
còn lại hai Phòng giao dịch là Giảng Vị và Hồng Quốc Việt.
2.1.2.Cơ cấu tổ chức của ngân hàng TMCP Bưu Điện Liên Việt – Chi nhánh Đông Đô
Tính đến 31/12/2012, tổng số cán bộ nhân viên của LPB Đông Đô là 92 người trong
đó có 88 nhân viên chính thức và 04 nhân viên thử việc. Trong thời gian qua, Chi nhánh
rất chú trọng đến công tác đào tạo để nâng cao năng lực chuyên môn nghiệp vụ của nhân
viên. Chi nhánh đã cử cán bộ, nhân viên tham gia đầy đủ các khó học do Ngân hàng Bưu
điện Liên Việt tổ chức trên toàn hệ thống.
20
Về cơ cấu, trình độ cán bộ, nhân viên: Chi nhánh có 92 cán bộ nhân viên trong đó 05
người có trình độ trên đại học, 67 người có trình độ đại học, chiếm 77%, số còn lại có
trình độ cao đẳng và trung cấp. Hầu hết CBNV đã từng công tác trong ngành ngân hàng.
Sơ đồ 1.1.Cơ cấu tổ chức chi nhánh LBP Đông Đô
- Giám đốc chi nhánh: Là người có quyền lực cao nhất và quyết định những công
việc quan trọng, chịu trách nhiệm về Chi nhánh trước Hội sở chính, đưa ra định hướng
và quyết định phương hướng kinh doanh của Chi nhánh. Giám đốc có quyền giao
nhiệm vụ, công việc cho cấp dưới và ủy quyền cho các Phó giám đốc thực hiện công
việc dưới thẩm quyền của mình.
- Phó giám đốc chi nhánh: Là người có thẩm quyền và chức vụ sau Giám đốc,
thực hiện các công việc do Giám đốc giao, thay mặt Giám đốc chịu trách nhiệm về Chi
nhánh trước Hội sở chính, quản lý các phòng ban, chỉ đạo và quyết định các công việc
và các hoạt động kinh doanh của Chi nhánh.
- Phòng khách hàng: Đây là phòng thuộc sự quản lý trực tiếp của Giám đốc,
thực hiện chức năng kinh doanh tại Chi nhánh thông qua nghiệp vụ cấp tín dụng,
huy động vốn, thanh toán và các nghiệp vụ ngân hàng khác theo quy định của ngân
hàng và pháp luật.
- Phòng kế toán ngân quỹ: Thuộc sự quản lý trực tiếp của Phó giám đốc phụ
trách kế toán ngân quỹ. Phòng trực tiếp thực hiện các công việc về hạch toán kế toán
theo chuẩn mực và nguyên tắc kế toán của Ngân hàng nhà nước và của Ngân hàng
21