1. Lý do chọn đề tài
Việt Nam là một dân tộc giàu truyền thống yêu nước, nó là một nét đặc
sắc trong văn hóa lâu đời của nước ta và được hun đúc, ăn sâu vào mỗi tâm
hồn con người Việt. Mặc dù có phải trải qua bao khó khăn vất vả, mất mát
nhưng những con người của dân tộc vẫn quyết giữ lấy non sông đất nước. Khi
đất nước chịu nhiều đau khổ, mất mát từ những cuộc chiến vô nghĩa của lũ
cướp nước, nhân dân tràn ngập trong khó khăn, nhưng chúng ta luôn đánh
đuổi được bọn tàn ác đó nhờ vào những tinh thần yêu nước của toàn nhân dân
nói chung và các tấm gương anh hùng của lịch sử như hai bà Trưng, bà Triệu,
Trần Hưng Đạo nói riêng. Cứ thế, truyền thống này cứ được nối tiếp từ thế
hệ này đến thế hệ khác đặc biệt nó lại được sôi sục lên khi Pháp và Mỹ tiến
hành chiến tranh xâm lược với ham muốn thôn tính Việt Nam về tay họ.
Không cam chịu sự bóc lột chèn ép của những chế độ thực dân đó nhân dân ta
đã đồng sức, đồng lòng đứng lên đấu tranh quyết giữ hòa bình.
Đã có biết bao nhiêu chàng trai, cô gái đã từ giã gia đình, vợ con, quê
hương, những người thân của họ để lên đường nhập ngũ với một tinh thần: “
quyết tử cho tổ quốc quyết sinh”. Họ sẵn sàng gạt lại phía sau lưng biết bao
niềm hạnh phúc riêng tư, những ước mơ, hoài bão đẹp đẽ của tuổi thanh xuân tất
cả cho tiền tuyến vì khát vọng độc lập tự do, vì lý tưởng cao đẹp độc lập cho
nước nhà. Và cũng từ đó phải đổi bằng xương máu của biết bao thế hệ đã ngã
xuống đã có nhiều chiến sỹ phải bị thương, tàn tật, nhưng đau thương và mất
mát hơn cả là nhiều chiến sỹ đã phải hy sinh lại tại chiến trường. Dân tộc ta
đã phải mất đi những người con đầy sự bản lĩnh, dũng cảm, kiên cường. Đau
thương hơn cả là có rất nhiều anh hùng dã hy sinh khi thi thể không còn
nguyên vẹn hay có rất rất nhiều người đã hy sinh nhưng đồng đội không thể
nhận dạng được , họ trở thành những liệt sỹ vô danh. Hy sinh và cống hiến
như vậy tuy nhiên họ lại không được chứng kiến cảnh đất nước hòa bình, độc
lập, không được tận hưởng cuộc sống tự do và đang càng ngày đổi mới.
Chiến tranh đã đi qua gần 40 năm với ngần ấy thời gian, Việt Nam đã
được ghi danh vào sử sách chống giặc ngoại xâm, và ngày đang từng bước đi
1
Nghi Liên, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An” làm đề tài báo cáo tốt nghiệp
của mình. Với mong muốn phần nào đó giúp gia đình các liệt sỹ vượt qua
được những khó khăn về kinh tế và nguôi ngoai về nỗi đau tinh thần mất mát
người thân.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Vốn có truyền thống “ uống nước nhớ nguồn”, chiến tranh kết thúc, đất
nước đã giành độc lập, nhưng người con của dân tộc không bao giờ quên
những công ơn của các bậc anh hùng hy sinh vì dân tộc. Vì thế chủ đề về
thương binh, liệt sỹ luôn là đề tài tiêu biểu không chỉ trong lĩnh vực nghệ
thuật như thơ ca, nhạc, họa , báo chí truyền thông mà trong các đề tài nghiên
cứu khoa học rất phổ biến. Đặc biệt từ khi nhà nước có chủ trương xây dựng
hệ thống các chính sách ưu đãi đối với những người có công và thân nhân của
những người có công với cách mạng thì đã có nhiều nhà khoa học tập trung
nghiên cứu về chính sách xã hội với người có công. Để đảm bảo chất lượng
và hiểu quả nghiên cứu về chính sách xã hội thì đã có nhiều trung tâm, tổ
chức xã hội được thành lập như: Viện khoa học lao động và xã hội, trung tâm
nghiên cứu và phân tích chính sách của trường đại học Khoa học xã hội và
nhân văn Hà Nội. Cùng với sự ra đời của các tổ chức, trung tâm nghiên cứu
đó thì các đề tài nghiên cứu khoa học về công tác thực hiện chính sách an sinh
xã hội lại càng đa dạng và phong phú.
Đầu tiên phải kể đến đề tài nghiên cứu : “Một số vấn đề về chính sách
đảm bảo xã hội ở nước ta hiện nay”. Công trình này được thực hiện bởi nhiều
nhà khoa học tại Viện khoa học lao động và xã hội. Đề tài này chủ yếu tập
trung đi sâu vào nghiên cứu mục đích, ý nghĩa của các chính sách xã hội đối
với người có công thương binh, bệnh binh, liệt sỹ, nạn nhân chất độc gia cam
và thân nhân của những người có công Từ đó đề tài nghiên cứu này cũng
đưa ra các giải pháp chung cho việc xây dựng chính sách an sinh xã hội đối
với những đối tượng thuộc diện chính sách.
3
Công trình nghiên cứu: “Chính sách an sinh xã hội và vai trò của Nhà
nhưng các công trình này còn mang tính chất giành chung cho đối tượng
người có công. Tất cả các công trình nghiên cứu đều mong muốn hoàn thiện
hơn hệ thống chính sách an sinh xã hội và nâng cao hiểu quả của việc thực
hiện chính sách. Tuy nhiên số lượng công trình nghiên cứu giành riêng về lĩnh
vực thực hiện chính sách an sinh xã hội đối gia đình liệt sỹ lại còn đang rất
hạn chế, trong khi đó việc thực hiện chính sách cho các gia đình liệt sỹ lại
đang có rất nhiều vấn đề bức thiết.
Trên cơ sở kế thừa những thành quả nghiên cứu đó tôi thấy rằng đề tài :
“: Công tác thực hiện chính sách an sinh xã hội với gia đình liệt sỹ tại xã Nghi
Liên, Tp Vinh, tỉnh Nghệ An” là rất cần thiết
3. Mục tiêu nghiên cứu vấn đề
3.1. Mục tiêu tổng quát
Thông qua việc áp dụng các kiến thức lý thuyết về công tác xã hội cùng
với quá trình tiến hành thực tập, thực tế tại địa phương nhằm tìm hiểu về
những kết quả đạt được và những hạn chế của chính quyền địa phương trong
quá trình thực hiện các chính sách xã hội đối với gia đình liệt sỹ, đồng thời
kiến nghị các giải pháp nhằm giúp đỡ các gia đình liệt sỹ vượt qua khó khăn.
3.2. Mục tiêu cụ thể:
• Tìm hiểu về cuộc sống của các gia đình liệt sỹ
• Tìm hiểu việc thực hiện chính sách xã hội, các ưu đãi cho gia đình liệt
sỹ theo quy định của nhà nước tại xã Nghi Liên
• Phân tích những ưu, nhược điểm của việc thực hiện chính sách xã hội
đối với gia đình liệt sỹ
• Đề xuất các khuyến nghị đối với các cơ quan ban ngành nhằm nâng
cao hiểu quả công tác thực hiện chính sách với gia đình liệt sỹ
4. Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
4.1Đối tượng nghiên cứu
Cuộc sống của những gia đình liệt sỹ và sự hỗ trợ của chính quyền địa
phương đối với các gia đình liệt sỹ.
4.2. Khách thể nghiên cứu
những khó khăn của các gia đình liệt sỹ, những tâm lý, nhu cầu, nguyện vọng
của các gia đình liệt sỹ thì tôi đã tiến hành phỏng vấn sâu 4 gia đình có thân
nhân là liệt sỹ. Bên cạnh đó việc tiến hành phỏng vấn sâu còn giúp tôi biết
6
thêm được những khó khăn hay thuận lợi mà các gia đình gặp phải trong quá
trình tiếp cận tới chính sách, chế độ ưu đãi của nhà nước. Đồng thời để khai
thác được những ý kiến đánh giá của các gia đình liệt sỹ đối thái độ, phong
cách làm việc của cán bộ chính sách.
Ngoài ra đề có được những thông số cơ bản về số lượng liệt sỹ, giới
tính, năm sinh, địa điểm hy sinh của các chiến sỹ đã hy sinh tôi đã tiến hành
phỏng vấn sâu cán bộ chính sách xã Nghi liên tại phòng làm việc của Ban
chính sách xã. Đồng thời ttooi cũng đã tiến hành phỏng vấn sâu cán bộ chính
sách để có thêm những hiểu biết về các quyết định, các chế độ chính sách ưu
đãi của nhà nước dành cho các gia đình liệt sỹ
5.2.2. Phương pháp quan quan sát
Quan sát vừa được xem như là một phương pháp nghiên cứu và cũng là
một kỹ năng của nhân viên công tác xã hội. Bởi để quan sát được, thu thập
được thông tin mang tính chính xác cao, và mang tính khách quan thì đòi hỏi
người quan sát cần linh động trong quan sát. Trong quá trình nghiên cứu này
tôi đã sự dụng kết hợp giữa quan sát công khai và quan sát bí phương pháp
này xuyên suốt quá trình thực hiện đề tài này của mình.
Trước hết thì tôi tiến hành quan sát công khai và tìm hiểu các điều kiện
tự nhiên, kinh tế, xã hội, các phong tục tập quán, đời sống sinh hoạt, lối sống
của người dân trên địa bàn nghên cứu. Đồng thời tôi đã quan sát về hoàn cảnh
sống, hoạt động sản xuất (đối với gia đình tham gia sản xuất nông nghiệp)
thực tại của các gia đình liệt sỹ trên địa bàn.
Bên cạnh đó tôi tiến hành quan sát bí mật về thái độ, cử chỉ, cách đối
xử của những người dân xung quanh đối với các gia đình liệt sỹ. Không
những thế tôi đã tiến hành quan sát bí mật những buổi làm việc của cán bộ
chính sách xã với những gia đình có thân nhân liệt sỹ. Thông qua phương
Đề tài này được nghiên cứu trên các khía cạnh: hoàn cảnh của các gia
đình liệt sỹ, những khó khăn của các gia đình liệt sỹ trong việc tiếp cận và
hưởng các chế độ chính sách của nhà nước, việc thực hiện các chính sách xã
hội của các cấp chính quyền địa phương cho các gia đình liệt sỹ. Vì vậy
8
Đối với xã hội: Đề tài nghiên cứu mong muốn góp phần nâng cao
truyền thống “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc nhằm thúc dục những người
dân trong cộng đồng xã hội luôn tạo điều kiện thuận lợi, quan tâm tới các gia
đình liệt sỹ hơn.
Đối với chính quyền địa phương: đề tài giúp cho chính quyền địa
phương đưa ra được những giải pháp thực hiện hiểu quả các chính sách an
sinh xã hội mà nhà nước đã xây dựng. Đồng thời giúp chính quyền địa
phương xây dựng thêm một số chương trình, chính sách giúp đỡ các gia đình
liệt sỹ phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế cũng như văn hóa của địa
phương.
Ngoài ra thông qua việc thực tập, thực tế, nghiên cứu đề tài này giúp
bản thân tôi rút được những kinh nghiện thực tiễn cuộc sống, từ đó hoàn thiện
hơn công tác sau này.
7.Bố cục của đề tài
Nội dung của bài niên luận này ngoài phần lời nói đầu, kết luận, danh mục
tài liệu tham khảo, mục lục và các phần phụ lục thì được chia làm 3 chương chính:
Chương 1 Tổng quan về các vấn đề nghiên cứu và các khái niệm lý
thuyết liên quan
Chương 2 Tình hình thực hiện chính sách an sinh xã hội đối với gia
đình liệt sỹ tại xã Nghi Liên, Tp Vinh, tỉnh Nghệ An
Chương 3. Vai trò của nhân viên CTXH trong việc thực hiện chính
sách an sinh xã hội đối với gia đình liệt sỹ
9
10
NỘI DUNG
chức của Việt Nam trong các cuộc phỏng vấn đã xác nhận con số gần đây từ
tài liệu giải mã, và số chiến binh tử trận của Quân đội Nhân dân Việt Nam
vào khoảng 1,1 triệu, bao gồm 300.000 mất tích chưa tìm được thi thể. [19].
Hay dựa vào số lượng mộ ở nghĩa trang liệt sỹ Trường Sơn - nghĩa trang liệt
sỹ lớn nhất của cả nước có hơn 7.000 ngôi mộ. Mặc dù chưa có được con số
chính xác về số lượng các chiến sỹ đã hy sinh nhưng chúng ta có thẻ thấy
được sự hy sinh đó không phải là một con số nhỏ. Không những các chiến sỹ
đã hy sinh trong trận chiến mà nhiều chiến sỹ đã hy sinh do bệnh tật, tai nạn,
kiệt sức, rắn cắn, thú dữ trên đường hành quân. Trong lúc bận rộn tiếp tục
hành quân hay tiếp tục chiến đấu nhiều chiến sỹ không may đã hy sinh nhưng
được các đồng chí, đồng đội tiến hành chôn cất chu đáo. Nhưng bên cạnh đó
cũng có nhiều chiến sỹ hy sinh trong hoàn cảnh cấp bách, cuộc chiến đang
diễn ra căng go, nên các đồng đội đành phải ngậm ngùi nước mắt mà không
thể thực hiện việc chôn cất các chiến sỹ đã hy sinh của chúng ta. Bên cạnh đó
cũng có nhiều chiến sỹ trong khi làm nhiệm vụ bị bắt cóc, giam cầm rồi giết
hại mà đồng đội không hề hay biết. Chính vì vậy có rất nhiều chiến sỹ chúng
ta sau khi hy sinh nhưng không thể toàn thi, không có nấm mộ để yên nghỉ.
Có thể nói rằng các chiến sỹ đã anh dũng hy sinh vì non sông đát nước mà
không màng đến danh lợi, hạnh phúc riêng tư cùng gia đình.
Sự ra đi của các chiến sỹ là nỗi đau chung của cả dân tộc, để lại trong
mỗi người dân những niềm tiếc thương vô hạn đối với các chiến sỹ. Sự hy
sinh của các chiến sỹ để lại phía sau họ gia đình yêu dấu, mẹ già, vợ hiền, con
thơ. Chính vì thế hơn ai hết thì chính gia đình của các đồng chí, thân nhân của
họ mới phải chịu nhiều mất mát lớn. Nhiều liệt sỹ khi hy sinh họ để lại người
vợ với đứa con chưa kịp cất tiếng khóc chào đời, người vợ của họ cùng lúc
phải gánh trên vai trách nhiệm vừa làm cha vừa làm mẹ. Hay nhiều gia đình
chỉ còn lại những người cha mẹ già tự phải an ủi chăm sóc qua tuổi già. Khi
12
các chiến sỹ đã hy sinh thân nhân của họ chỉ còn có thể biết ngậm ngùi
thương đau, vươn lên để sống những cuộc sống tốt với đời và trọn nghĩa cử
chế độ ưu đãi đó đã được ban hành trong các pháp lệnh ưu đãi người có công,
nghị định chi tiết hướng dẫn thi hành pháp lệnh, thông tư liên tịch, quyết định
hỗ trợ người có công và được triển khai thực hiện trên phạm vi cả nước.
Bao gồm:
Về trợ cấp tuất thân nhân liệt sỹ
Liệt sỹ là những người đã anh dũng chiến đấu bảo vệ sự nghiệp chung
của Tổ quốc mà sẵn sàng hy sinh gia đình, bản thân nhưng họ không được
hưởng quyền lơi. Vì vậy Đảng và nhà nước phải có trách nhiệm bù đắp thiệt
thòi của họ thông qua việc chăm lo cuộc sống yên ổn về vật chất, tinh thần
cho gia đình của các liệt sỹ. Nhằm góp phần tạo mọi điều kiện để gia đình có
mức sống ngang bằng với mức sống trung bình trong cộng đồng.
Tại Nghị định số 101/2013/NĐ-CP ngày 04/9/2013 của Chính phủ quy
định mức trợ cấp, phụ cấp ưu đãi đối với thân nhân của liệt sỹ củ thể như sau:
Thân nhân của một liệt sỹ được hưởng tiền trợ cấp tiền tuất hàng
tháng bằng một lần mức chuẩn là 1.220.000 đồng/tháng
Thân nhân của 2 liệt sỹ được hưởng tiền trợ cấp tiền tuất hàng tháng
bằng hailần mức chuẩn là 2.440.000 đồng/tháng
Thân nhân của 3liệt sỹ trở lên được hưởng tiền trợ cấp tiền tuất
hàng tháng bằng ba lần mức chuẩn là 3.660.000 đồng/tháng
Vợ hoặc chồng liệt sỹ lấy chồng hoặc vợ khác thì được hưởng trợ
cấp hàng tháng bằng một lần mức chuẩn là 1.220.000 đồng/tháng
Thân nhân của liệt sỹ đang được hưởng trợ cấp tiền tuất hàng tháng
mà chết, người tổ chức mai tang phí, đại diện thân nhân được hưởng trợ cấp
một lần bằng ba tháng trợ cấp ưu đãi là 3.660.000 đồng/tháng
cha đẻ, mẹ đẻ, vợ hoặc chồng, người có công nuôi dưỡng liệt sĩ, con
từ đủ 18 tuổi trở lên sống cô đơn không nơi nương tựa hoặc con dưới 18 tuổi
mồ côi cả cha mẹ đang hưởng trợ cấp tiền tuất hàng tháng được hưởng thêm
trợ cấp tiền tuất nuôi dưỡng là 976.000 đồng/tháng.
Chính sách ưu đãi về y tế, chăm sóc sức khỏe
14
+ Trợ cấp một lần hàng năm để mua sách vở, đồ dùng học
tập:600.000đồng
Chính sách giải quyết việc làm
15
Theo quy định thì những người thân nhân là bố, mẹ, vợ hoặc chồng của
liệt sỹ, người có công nuôi dưỡng liệt sỹ trên 10 năm được miễn 100% thuế
sử dụng đất nông nghiệp để sản xuất, lao động. bên cạnh đó là chính sách ưu
tiên tuyển dụng lao động đối với những con em của liệt sỹ.
Chính sách ưu đãi về nhà ở
Theo điều 55 của Nghi định số 31/2013/NĐ – CP nêu rõ:
Thân nhân liệt sỹ được hỗ trợ cải thiện nhà ở tùy theo hoàn cảnh,
công lao đóng góp của từng người và khả năng của Nhà nước, địa phương.
Việc hỗ trợ cải thiện nhà ở căn cứ vào chế độ ưu đãi cao nhất mà người đó
được hưởng và chỉ giải quyết một lần
Người có công với cách mạng và thân nhân liệt sỹ nếu mua nhà ở
thuộc sở hữu nhà nước thì được miễn, giảm tiền sự dụng đất theo quy định
của pháp luật về đất đai
Các hệ thống chính sách an sinh xã hội đó đã góp phần lớn trong việc
hỗ trợ, giúp đỡ các gia đình liệt sỹ vượt qua được những khó khăn về mặt
kinh tế, đồng thời xoa dịu bớt những nỗi đau, mất mát của các gia đình, cũng như
tạo dựng được niềm tin của gia đình vào đường lối của Đảng và Nhà nước.
1.2. Một số khái niệm, lý thuyết liên quan
1.2.1. Một số khái niệm
1.2.1.1. Liệt sỹ
Liệt sỹ là người đã hy sinh vì sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc,
bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế hoặc vì lợi ích của nhà nước, của
nhân dân và được nhà nước truy tặng bằng “Tổ quốc ghi công” thuộc một
trong các trường hợp sau đây:
Chiến đấu hoặc trực tiếp phục vụ chiến đấu
Trực tiếp đấu tranh chính trị, đấu tranh binh vận có tổ chức với địch
An sinh xã hội đã được hình thành và tồn tại dưới nhiều hình thức khác
nhau và ở tất cả các quốc gia lại có các mô hình của an sinh xã hội khác
nhau. Do tính chất phức tạp và đa dạng của ASXH nên vẫn còn nhiều nhận
thức khác nhau và có nhiều khái niệm về ASXH khác biệt giữa các quốc gia.:
Theo H. Beveridge, nhà kinh tế học và xã hội học người Anh (1879-
1963), ASXH là sự bảo đảm về việc làm khi người ta còn sức làm việc và bảo
đảm một lợi tức khi người ta không còn sức làm việc nữa.
Trong Đạo luật về ASXH của Mỹ, ASXH được hiểu khái quát hơn, đó
là sự bảo đảm của xã hội, nhằm bảo tồn nhân cách cùng giá trị của cá nhân,
đồng thời tạo lập cho con người một đời sống sung mãn và hữu ích để phát
triển tài năng đến tột độ.
Tổ chức lao động quốc tế (ILO) đang sử dụng: ASXH là sự bảo vệ của
xã hội đối với các thành viên của mình thông qua một loạt biện pháp công
cộng, nhằm chống lại những khó khăn về kinh tế và xã hội do bị ngừng hoặc
giảm thu nhập, gây ra bởi ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, thất nghiệp,
thương tật, tuổi già và chết; đồng thời đảm bảo các chăm sóc y tế và trợ cấp
cho các gia đình đông con.
Như vậy, về mặt bản chất, ASXH là góp phần đảm bảo thu nhập và đời
sống cho các công dân trong xã hội. Phương thức hoạt động là thông qua các
biện pháp công cộng. Mục đích là tạo ra sự “an sinh” cho mọi thành viên
trong xã hội và vì vậy mang tính xã hội và tính nhân văn sâu sắc.
18
1.2.1.5. Ưu đãi xã hội
Ưu đãi xã hội là sự phản ánh trách nhiệm của Nhà nước, cộng đồng và
toàn xã hội, là sự đãi ngộ đặc biệt ưu tiên hơn mức bình thường về mọi mặt trong
đời sống vật chất và tinh thần đối với người có công lao đặc biệt với đất nước
1.2.2. Các lý thuyết liên quan
Để trở thành một ngành khoa học thực sự thì một trong những yếu tố
quan tọng không thể thiếu là các cơ sở lý thuyết của ngành đó. Nó sẽ trở
thành cơ sở khoa học để ứng dụng vào quá trình nghiên cứu, thí nghiệm, thực
kiếm, đánh giá đúng được chính xác những nhu cầu thiết thực của các gia
đình liệt sỹ, Để thông qua đó đưa ra những giải pháp kiến nghị về xây dựng
chính sách phù hợp với tâm tư, nguyện vọng của các gia đình liệt sỹ.
1.2.1.3. Lý thuyết hệ thống trong công tác xã hội
Các sự kiện, hiện tượng, quá trình xã hội cũng như các vấn đề xã hội có
thể xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau, mỗi cách tiếp cận cho phép chúng
ta giải thích vấn đề theo những khía cạnh khác nhau. Và theo lý thuyết hệ
thống xã hội cho rằng: hệ thống là toàn bộ các thành tố, các thành phần, các
bộ phận và các mối liên hệ giữa chúng theo một kiểu nào đó tạo thành một
chỉnh thể, toàn vẹn.Trong hệ thống đó con người được xem như bị lôi cuốn
vào sự tương tác không dứt với nhiều hệ thống khác nhau trong môi
trường.Vì vậy con người cần phải biết cải thiện mối quan hệ tương tác trong
hệ thống đó. Từ nội dung, ý nghĩa của lý thuyết tôi đã ứng dụng vào để tài
nghiên cứu của mình nhằm phân tích chỉ ra sự tác động mà các tổ chức, chính
sách, các cộng đồng, nhóm cá nhân ảnh hưởng đến các thân nhân, gia đình lệt
20
sỹ. Thông qua đó cũng đựa vào sự tác động của các hệ thống xã hội này để
đưa ra giải pháp phù hợp với các thân nhân liệt sỹ.
1.2.1.4. Lý thuyết về hành động xã hội
Quan điểm của lý thuyết này cho rằng: Hành động xã hội là sự trao đổi
trực tiếp giữa các cá nhân cũng như các khuôn mẫu quan hệ được cấu trúc hóa
bên trên các nhóm, tổ chức, thiết chế và xã hội. Một thực tế có thể quan sát
được trong mọi tình huống cá nhân và công cộng hàng ngày là hành động xã
hội của con người diễn ra theo những quy tắc nhất định và trong những hình
thái nhất định, những quy tắc và hình thái này có một sứ bất biến tương đối.
Đối với các cá nhân, những điều trên là rõ ràng và hiển nhiên, dựa trên nhận
thức và kinh nghiệm thực tiễn. Do vậy tôi dựa vào lý thuyết này để tìm hiểu
được nguyên nhân của những thành công trong công tác thực hiện chính sách
xã hội cho gia đình liệt sỹ. Đồng thời dựa vào lý thuyết này đua ra các giải
pháp mang tính giáo dục hành động cho các thành viên xã hội cùng hướng
đây cũng chính là một trong những trận địa oanh liệt của cả nước trong cuộc
kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ.
Địa hình
Nghi Liên là một xã nằm ở khu vực đồng bằng, địa hình bằng phẳng,
đặc biệt Nghi Liên là một xã tương đối thuận lợi về giao thông vận tải bởi trên
địa bàn xã có có sân bay Vinh, có tuyến đưường Quốc lộ 1A và đường sắt
Bắc Nam chạy qua.
22
Khí hậu
Là một xã nằm trong khu vực của Miền Trung, vì vậy khí hậu của xã
mang đầy đủ những nét đặc trưng riêng của khí hậu Miền trung: khí hậu nhiệt
đới gió mùa, khắc nghiệt, biến đổi thất thường, chịu tác động của gió phơn
Tây Nam khô nóng ( từ thangs4 đến tháng 8).
Đất đai
Với tổng diện tích là 946,6 ha, phần lớn là đất sản xuất nông nghiệp.
thổ nhưỡng nhìn chung là đất sét, đất cát pha ít bazan thuận lợi cho việc trồng
lúa nước và thâm canh hoa màu. Tuy nhiên một số vị trí do chịu ảnh hưởng
của chiến tranh, bom mìn tàn phá nên đất đai bị khô cằn, bạc màu, hay thậm
chí thành những hố sau nguy hiểm.
Tài nguyên khoán sản
Một trong những hạn chế lớn nhất của xã về điều kiện tự nhiên là hạn
chế về tài nguyên. Vì vậy xã chỉ có thể tận dụng vào tài nguyên đất màu mỡ,
phù sa cùng với nguồn nước dồi dào từ các trạm bơm để phát triển kinh tế
nông nghiệp, phát triển các cây hoa màu.
2.1.2. Điều kiện kinh tế- văn hóa- xã hội
Cơ sở hạ tầng
Nghi Liên từ một xã thuộc huyện Nghi Lộc, sau hơn 5 năm sát nhập
vào TP Vinh (2008) Nghi Liên có những bước phát triển đáng khích lệ. Thực
hiện Chương trình quốc gia về xây dựng nông thôn mới và thực hiện chỉ thị
05-CT/Th U ngày 2508/2011 của Thành Ủy Vinh thì Nghi Liên đã tích cực
bản của nhân dân trên địa bàn xã, nhưng khi so sánh với các phường xã khác
trên địa bàn thành phố thì xã Nghi liên cần phải cố gắng hơn nữa trong công
tác xây dựng cơ sở hạ tầng. Đặc biệt các dịch vụ cung cấp nước sạch cho
người dân.
Kinh tế
Phát huy những kết quả đã đạt được những năm qua , xã Nghi Liên đã
quyết tâm khai thác tốt hơn nữa những tiềm năng lợi thế, tập trung một số giải
pháp để tiếp tục đưa kinh tế xã đi lên. Trong đó quan tâm nhất vẫn là khuyến
khích các nhà đầu tư, các doanh nghiệp tập trung đầu tư vào địa bàn xã để sản
xuất kinh doanh., cùng với việc chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp cho
24
người dân. Nhờ vậy tốc độ tăng trưởng kinh tế của xã đã có sự chuyển biến
tích cực: tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2013 đạt 9,1%( năm 2012 : 8,8%) ,
giá trị sản xuất tăng 12% so với năm 2013. Trong đó giá trị sản xuất nông
nghiệp đạt 56,2 tỷ đồng chiếm 15,71%, công nghiệp-tiểu thủ CNXD ước đạt
229 tỷ đồng chiếm 64,11%; dịch vụ thương mại đạt 72 tỷ đồng chiếm
20,16%. [ 2]
Văn hóa xã hội
Bên cạnh những thành công trên lĩnh vực kinh tế thì văn hóa - xã hội
của xã đều gặt hái được nhiều thành quả đáng khen ngợi. Kinh tế phát triển
tạo tiền đề vững chắc cho các hoạt động văn hoá, thể dục thể thao phát triển
cả bề sâu lẫn chiều rộng. Các hoạt động về văn hoá – TDTT cũng diễn ra
thường xuyên, sôi nổi. Nghị quyết 06 về nếp sống văn hoá đô thị được tổ
chức thực hiện tốt. Liên hoan tiếng hát Làng Sen, hội diễn Hoa phượng đỏ,
hội khỏe Phù đổng, các ngày lễ lớn được tổ chức chu đáo, thiết thực,thiết chế
văn hóa được tăng cường: trong đó có 13/19 nhà văn hóa được xây dựng lại
khang trang. Ngoài ra xã còn tuyên truyền, phổ biến và thực hiện tốt các
phong trào: “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa mới”, “Uống
nước nhớ nguồn”.
2.1.3. Dân cư và nguồn gốc dân cư