công tác giao đất, cho thuê đất đối với các tổ chức kinh tế trên địa bàn thành phố vinh, tỉnh nghệ an - Pdf 24

Luận văn tốt nghiệp Trường Đại học Kinh tế Quốc
dân
Lời mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Đất đai luôn là nguồn lực tự nhiên có vai trò quan trọng trong quá trình
phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. Trong giai đoạn hiện nay, nước ta
đang trong quá trình đổi mới, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước,
xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa
thì vai trò của đất đai và các quan hệ đất đai ngày càng được nhìn nhận đầy đủ
hơn, toàn diện hơn và khoa học hơn. Nhằm phát huy nguồn lực đất đai, khai
thác, bảo tồn và sử dụng có hiệu quả đất đai thì việc quản lý của Nhà nước đối
với đất đai là việc làm hết sức cần thiết. Là đại diện chủ sở hữu toàn bộ đất đai
trên phạm vi cả nước, Nhà nước có đầy đủ các quyền năng của chủ sở hữu, đó là
quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt đất đai. Tuy nhiên trên
thực tế, Nhà nước không trực tiếp khai thác lợi ích trên từng mảnh đất mà việc
làm này thuộc về các chủ thể được Nhà nước giao quyền sử dụng đất. Việc trao
quyền sử dụng đất cho các đối tượng sử dụng đất một mặt thể hiện ý chí của
Nhà nước đối với chức năng nắm quyền lực trong tay, mặt khác thể hiện ý chí
của Nhà nước với tư cách là chủ sở hữu đất đai. Nhà nước thực hiện việc trao
quyền sử dụng đất cho các đối tượng sử dụng thông qua công tác giao đất, cho
thuê đất. Chính vì vậy mà công tác giao đất, cho thuê đất không chỉ có ý nghĩa
quan trọng trong quản lý đất đai của Nhà nước mà nó còn có ý nghĩa, ảnh hưởng
tới đời sống của các chủ thể sử dụng đất được giao, được thuê.
Thành phố Vinh nằm trên trục giao lưu kinh tế - xã hội Bắc Nam, có
những lợi thế nhất định trong việc khai thác tiềm năng đất đai. Nằm ở trung tâm
của tỉnh Nghệ An, Thành phố Vinh chịu sự chi phối rất mạnh của các thành phố
lớn như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Đà Nẵng và các tỉnh trong khu vực, có ảnh
hưởng nhất định tới vùng Trung Lào. Với mục tiêu xác định vị trí, chức năng
của thành phố Vinh trong mối quan hệ phát triển kinh tế - xã hội với tỉnh Nghệ
Luận văn tốt nghiệp Trường Đại học Kinh tế Quốc
dân

văn tốt nghiệp của mình.
2. Mục tiêu nghiên cứu.
Khái quát hoá cơ sở khoa học về công tác giao đất, cho thuê đất đối với
các tổ chức kinh tế của Nhà nước.
Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý hoạt động giao đất, cho thuê đất
đối với các tổ chức kinh tế trên địa bàn thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An, từ đó chỉ
ra những kết quả đạt được và những hạn chế trong quản lý công tác giao đất, cho
thuê đất.
Trên cơ sở đánh giá những kết quả đã đạt được và những hạn chế trong
quản lý công tác giao đất, cho thuê đất trên địa bàn thành phố Vinh đề xuất một
số giải pháp và đưa ra một số kiến nghị nhằm tăng cường quản lý Nhà nước về
công tác giao đất, cho thuê đất đối với các tổ chức kinh tế.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu của chuyên đề là đất đai và các văn bản quy phạm
pháp luật về đất đai có liên quan tới quản lý Nhà nước đối với công tác giao đất,
cho thuê đất đối với các tổ chức kinh tế.
Do thời gian và trình độ nhận thức có hạn nên đề tài chỉ tập trung nghiên
cứu các quy định của Nhà nước, của UBND tỉnh Nghệ An về công tác giao đất,
cho thuê đất đối với các tổ chức kinh tế trên địa bàn thành phố Vinh, trên cơ sở
đó đối chiếu với thực tế quản lý đất đai ở thành phố Vinh.
4. Phương pháp nghiên cứu.
Luận văn tốt nghiệp Trường Đại học Kinh tế Quốc
dân
Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử làm
nền tảng nghiên cứu, kết hợp chặt chẽ phương pháp tổng hợp, phân tích, thống
kê, so sánh, trên cơ sở kế thừa một số công trình nghiên cứu khoa học đã có.
Luận văn có sử dụng lý thuyết một số môn học: Quản lý Nhà nước về đất
đai và nhà ở; Kinh tế tài nguyên đất, để nghiên cứu đề tài.
5. Kết cấu của Đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn

GCN QSD đất chính là chứng thư pháp lý xác lập mối quan hệ hợp pháp
giữa Nhà nước với người sử dụng đất. Quá trình tổ chức thực hiện việc cấp
GCN QSD đất là quá trình xác lập căn cứ pháp lý đầy đủ để giải quyết mọi quan
hệ về đất đai.
Lun vn tt nghip Trng i hc Kinh t Quc
dõn
V mt ý ngha phỏp lý cn cú s phõn bit gia hai khỏi nim: quyt nh
giao t v giy chng nhn quyn s dng t. Quyt nh giao t l c s
phỏt sinh quyn s dng t ca cỏc cỏ nhõn, h gia ỡnh v cỏc t chc, cũn
giy chng nhn quyn s dng t th hin mi quan h gia Nh nc v
ngi s dng t v mt phỏp lý.
S 1: Xỏc lp quyn s dng t
(1)
(1):
S hỡnh thnh v phỏt trin ca th trng bt ng sn trong cụng cuc i mi Vit
Nam NXB Khoa hc&K thut
Quyền sở hữu toàn
dân về đất đai
Quyền chiếm
hữu
Quyền định
đoạt
Quyền sử
dụng
Nhà nớc
Nhà nớc
giao đất,
cho thuê đất
Nhà nớc
thu hồi đất,

quyền sở hữu Nhà nước về đất đai được hình thành, Nhà nước là người đại diện
chung cho cộng đồng người trong việc chiếm hữu, bảo vệ và định đoạt các phần
đất đai của lãnh thổ nước đó. Từng cá nhân riêng lẻ chỉ có vai trò tiếp tục cải
tạo, bồi dưỡng đất đai trong quá trình sử dụng. Nhà nước với tư cách là người có
quyền sở hữu tối cao, sẽ giao một phần quyền sở hữu cho người dân và các tổ
chức trong xã hội mà trước hết là quyền sử dụng đất.
Vậy, quyền sử dụng đất là bộ phận cấu thành của quyền sở hữu đất đai.
Thông qua việc được độc quyền giao đất, cho thuê đất, Nhà nước trao cho người
Luận văn tốt nghiệp Trường Đại học Kinh tế Quốc
dân
sử dụng đất thực hiện trong thời hạn thuê đất, nhận giao đất những quyền và
nghĩa vụ nhất định, trong đó có sự phân biệt theo loại đất, theo đối tượng sử
dụng đất, theo hình thức thuê hoặc giao đất.
Đối với Việt Nam, Hiến pháp năm 1959 xác định: đất đai thuộc sở hữu
toàn dân, nhưng phải tới Luật Đất đai 1998 thì quyền sở hữu toàn dân về đất đai
và quyền sử dụng của người nhận đất từ Nhà nước mới được phân định rõ ràng
như hiện nay.
Luật Đất đai năm 1987 quy định: Nhà nước có quyền được giao đất và thu
hồi đất đã giao.
Luật Đất đai 1993 có một số sửa đổi, bổ sung so với Luật Đất đai 1987,
trong đó: Nhà nước không chỉ có quyền được giao đất và thu hồi đất mà còn có
quyền cho thuê đất. Đất đai ngày càng trở nên khan hiếm, nhu cầu sử dụng đất
đai ngày càng tăng thì xu hướng cho thuê sẽ trở nên phổ biến. Việc cho thuê đất
đai thực chất là cho thuê quyền sử dụng đất đai. Với quyền này, đối tượng sử
dụng đất đã được mở rộng khá lớn, bao gồm không chỉ những tổ chức, cá nhân
được giao đất mà cả những tổ chức và cá nhân được thuê đất. Nếu như người sử
dụng đất trong diện giao đất chủ yếu là hộ nông dân thì người sử dụng đất trong
diện thuê đất lại chủ yếu là các tổ chức, cá nhân ở đô thị. Đừy là một bước tiến
quan trọng trong quá trình sử dụng đất, đáp ứng nhu cầu sử dụng đất của các cá
nhân, tổ chức cũng như việc sử dụng đất ở các đô thị.

pháp, đạt hiệu quả kinh tế cao và tiết kiệm.
Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước thì các tổ chức kinh tế
cũng ngày càng mở rộng và không ngừng lớn mạnh cả về quy mô, số lượng và
chất lượng. Do đó nhu cầu sử dụng đất cho các tổ chức kinh tế tăng lên là điều
không thể tránh khỏi. Chính vì vậy, để đáp ứng nhu cầu sử dụng đất trong từng
Luận văn tốt nghiệp Trường Đại học Kinh tế Quốc
dân
thời kỳ, Nhà nước không chỉ dừng lại ở việc Nhà nước giao đất mà còn tiến tới
cho thuê đất (lần đầu tiên trong Luật đất đai 1993 quy định về vấn đề cho thuê
đất.) Bên cạnh đó, như chúng ta biết, đất đai có giới hạn về mặt diện tích, trong
khi đó dân số lại tăng lên một cách rất nhanh chóng, điều này đã làm cho áp lực
trong việc sử dụng đất ngày càng tăng lên: đất đai được sử dụng để mở rộng sản
xuất, kinh doanh; đất sử dụng xây dựng trụ sở cơ quan; đất sử dụng vào mục
đớch quốc phòng, an ninh; đất cho các nhu cầu thiết yếu của con người…Xuất
phát từ đó, việc giao đất, cho thuê đất được quy định cụ thể là việc làm hết sức
cần thiết không chỉ trong giai đoạn hiện nay mà còn cả trong tương lai xa hơn.
4. Mối quan hệ giữa công tác giao đất, cho thuê đất và quản lý sử dụng đất
Đất đai là sản phẩm của tự nhiên, tuy nhiên khi kết tinh lao động của con
người vào trong đó thì đất đai lại trở nên quan trọng trong quá trình phát triển
kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. Các quan hệ về đất đai đã chuyển dần từ quan
hệ khai thác, chinh phục tự nhiên sang quan hệ kinh tế - xã hội về quyền sở hữu
và sử dụng một loại tư liệu sản xuất đặc biệt quan trọng. Các quan hệ về đất đai
là một trong những vấn đề được quan tâm nhất, vì nó liên quan tới các quá trình
phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích quốc gia,
lợi ích cộng đồng và lợi ích mỗi cá nhân. Ở nước ta, cùng với việc thực hiện
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xừy dựng và phát triển nền kinh tế thị
trường theo định hướng XHCN thì vai trò của đất đai và các quan hệ đất đai
ngày càng được nhìn nhận một cách phù hợp hơn. Do đó tăng cường vai trò
quản lý Nhà nước về đất đai trong thời kỳ mới là rất quan trọng và có ý nghĩa
hết sức to lớn.

dụng đất thì không thể không nói tới quyền sử dụng đất và thị trường quyền sử
dụng đất (thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp). Với phạm vi nghiên cứu của
đề tài, chỉ xem xét thị trường sơ cấp. Thị trường quyền sử dụng đất sơ cấp là thị
trường trong đó Nhà nước là người đại diện sở hữu toàn dân về đất đai thực hiện
việc cung đất cho các nhu cầu của các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân trong xã
Luận văn tốt nghiệp Trường Đại học Kinh tế Quốc
dân
hội sử dụng. Trong thị trường này, Nhà nước thực hiện vai trò của người cung
duy nhất về đất cho nhu cầu sử dụng đất của toàn xã hội.
Từ quyền sử dụng đất đến thị trường quyền sử dụng đất (sơ cấp) là một
bước phát triển về chất của quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập
trung sang nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN trong lĩnh vực đất đai
ở Việt Nam. Bước phát triển này được khởi đầu từ tiến triển của Nhà nước trong
việc giao đất không thu tiền, rồi giao đất có thu tiền, rồi cho thuê đất. Những
giao dịch về đất đai giữa Nhà nước với người sử dụng đất từ hình thức hiện vật
đã bắt đầu chuyển sang hình thức giỏ trị tuy còn sơ khai. Nếu như việc giao đất
không thu tiền sử dụng đất do Nhà nước thực hiện còn mang nặng tính phân
phối hiện vật, duy trì công bằng xã hội, bảo đảm ổn định chính trị thì việc Nhà
nước cho các tổ chức và hộ gia đình, cá nhân thuê đất hoặc nhận giao đất có thu
tiền sử dụng đã làm cho các giao dịch về đất giữa Nhà nước và người sử dụng
đất dần dần mang tính chất thị trường. Thị trường này có đặc điểm là bên cung
chỉ có một người, đó là Nhà nước, còn bên cầu lại là hàng triệu người, đó là
những tổ chức, cá nhân, hộ gia đình cần có đất để ở, sản xuất kinh doanh, xây
dựng công trình công cộng,…Một đặc điểm khác cũng rất quan trọng là thị
trường này đã tạo ra hàng triệu người (tổ chức, hộ gia đình, cá nhân) có quyền
sử dụng đất mặc dù không phải là những người có quyền sở hữu đối với diện
tích đất được sử dụng. Chính vì vậy, đồng thời với việc giao đất, cho thuê đất thì
Nhà nước cũng cần phải quản lý sử dụng đất. Do đó giữa công tác giao đất, cho
thuê đất với quản lý sử dụng đất có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau, tạo
điều kiện cho nhau và thúc đẩy nhau cùng phát triển. Công tác giao đất, cho thuê

Môi trường nơi có đất đã giao, đã cho thuê để xác minh mức độ chấp hành pháp
luật về đất đai của người sử dụng đất trong quá trình thực hiện các dự án đã
được Nhà nước giao đất, cho thuê đất.
c. Quy hoạch sử dụng đất chi tiết hoặc kế hoạch sử dụng đất chi tiết hoặc
quy hoạch xây dựng đô thị hoặc quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn đã
được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt.
Luận văn tốt nghiệp Trường Đại học Kinh tế Quốc
dân
Trường hợp chưa có quy hoạch sử dụng đất chi tiết hoặc kế hoạch sử
dụng đất chi tiết thì căn cứ vào quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ
quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt.
5.2. Đối tượng được giao đất, thuê đất
5.2.1. Giao đất
a. Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất trong các trường hợp:
 Tổ chức sử dụng đất vào mục đớch nghiên cứu, thí nghiệm, thực nghiệm
về nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, làm muối.
 Tổ chức sử dụng đất để xây dựng nhà ở phục vụ tái định cư theo các dự
án của Nhà nước.
 Hợp tác xã nông nghiệp sử dụng đất làm mặt bằng xây dựng trụ sở hợp
tác xã, sân phơi, nhà kho; xây dựng các cơ sở dịch vụ trực tiếp phục vụ sản xuất
nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, làm muối.
b. Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất trong các trường hợp:
 Tổ chức kinh tế được giao đất sử dụng vào mục đớch xây dựng nhà ở để
bán hoặc cho thuê.
 Tổ chức kinh tế được giao đất sử dụng vào mục đớch đầu tư xây dựng kết
cấu hạ tầng để chuyển nhượng hoặc cho thuê.
 Tổ chức kinh tế được giao đất làm mặt bằng xây dựng cơ sở sản xuất,
kinh doanh.
 Tổ chức kinh tế được giao đất để sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi
trồng thuỷ sản

của công chứng nhà nước; trường hợp dự án đầu tư của tổ chức không sử dụng
vốn ngân sách nhà nước hoặc không phải dự án có vốn đầu tư nước ngoài thì
phải có văn bản thẩm định về nhu cầu sử dụng đất của Sở Tài nguyên và Môi
trường nơi có đất theo quy định của pháp luật.
- Trường hợp dự án thăm dò, khai thác khoáng sản phải có giấy phép kèm
theo bản đồ thăm dò, khai thác mỏ; trường hợp sử dụng đất vào mục đớch sản
xuất gạch ngói, làm đồ gốm phải có quyết định hoặc đăng ký kinh doanh sản
Luận văn tốt nghiệp Trường Đại học Kinh tế Quốc
dân
xuất gạch ngói hoặc dự án đầu tư được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét
duyệt.
- Văn bản xác nhận của Sở Tài nguyên và Môi trường nơi có đất về việc
chấp hành pháp luật về đất đai đối với các dự án đã được Nhà nước giao đất, cho
thuê đất trước đó.
5.4. Thẩm quyền giao đất, cho thuê đất.
Theo quy định của Luật Đất đai 2003 thì Uỷ ban nhân dân tỉnh là cơ quan
có thẩm quyền quyết định giao đất, cho thuê đất đối với các tổ chức kinh tế. Cơ
quan này không được uỷ quyền trong việc quyết định giao đất, cho thuê đất đối
với các tổ chức kinh tế.
Ngoài ra, Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về
thi hành Luật Đất đai cũng đã quy định cụ thể thẩm quyền điều chỉnh quyết định
giao đất, cho thuê đất đối với đất đã giao, đã cho thuê trước ngày Luật Đất đai
có hiệu lực thi hành (01/7/2004):
Cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao đất, cho thuê đất như đã nêu trên là
cơ quan có thẩm quyền quyết định điều chỉnh đối với trường hợp người sử dụng
đất đã có quyết định giao đất, cho thuê đất trước ngày Luật Đất đai 2003 có hiệu
lực thi hành.
5.5. Thời hạn và hình thức giao đất, cho thuê đất.
5.5.1. Thời hạn giao đất, cho thuê đất
- Thời hạn giao đất, cho thuê đất đối với tổ chức kinh tế để sử dụng vào

phải giải phóng mặt bằng đối với các tổ chức kinh tế
 Người có nhu cầu xin giao đất, thuê đất liên hệ với cơ quan được
Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương giao nhiệm vụ thoả
thuận địa điểm hoặc tổ chức phát triển quỹ đất nơi có đất để được giới thiệu địa
điểm sử dụng đất.
 Sau khi có văn bản thoả thuận địa điểm hoặc văn bản cho phép đầu
tư hoặc văn bản đồng ý cho xây dựng công trình của cơ quan nhà nước có thẩm
quyền trên địa điểm đã được xác định, người xin giao đất, thuê đất nộp hai (02)
bộ hồ sơ tại Sở Tài nguyên và Môi trường nơi có đất
Luận văn tốt nghiệp Trường Đại học Kinh tế Quốc
dân
 Việc giao đất, cho thuê đất được quy định như sau:
- Sở Tài nguyên và Môi truờng có trách nhiệm thẩm tra và chỉ đạo Văn
phòng đăng ký quyền sử dụng đất làm trích lục bản đồ địa chính hoặc trích đo
địa chính khu đất đối với nơi chưa có bản đồ địa chính (đối với các dự án sử
dụng đất để xây dựng các công trình trên phạm vi rộng như đê điều, thuỷ điện,
đường điện, đường bộ, đường sắt, đường dẫn nước, đường dẫn dầu, đường dẫn
khí thì được dùng bản đồ địa hình được thành lập mới nhất có tỷ lệ không nhỏ
hơn 1/25.000 để thay thế bản đồ địa chính), trích sao hồ sơ địa chính.
- Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất có trách nhiệm gửi số liệu địa
chính cho cơ quan thuế để xác định nghĩa vụ tài chính.
- Sở Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm thẩm tra hồ sơ địa chính;
xác minh thực địa; trình uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
quyết định giao đất, cho thuê đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; ký
hợp đồng thuê đất đối với các trường hợp được thuê đất; chỉ đạo Phòng Tài
nguyên và Môi trường, Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tổ chức
bàn giao trên thực địa.
 Thời gian thực hiện các công việc quy định nói trên là không quá
hai mươi (20) ngày làm việc ( không kể thời gian người sử dụng đất thực hiện
nghĩa vụ tài chính) kể từ ngày Sở Tài nguyên và Môi trường nhận đủ hồ sơ hợp

đất phi nông nghiệp cho người sử dụng đất biết về lý do thu hồi, thời gian và kế
hoạch di chuyển, phương án bồi thường, giải phóng mặt bằng
- Trước khi hết thời gian thông báo ít nhất là hai mươi (20) ngày, Tổ chức
phát triển quỹ đất hoặc Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc
tỉnh có trách nhiệm trình phương án bồi thường, giải phóng mặt bằng và Sở Tài
nguyên và Môi trường có trách nhiệm trình quyết định thu hồi đất lên Uỷ ban
nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyết định. Quyết định thu hồi
đất phải bao gồm nội dung thu hồi diện tích đất cụ thể đối với từng thửa đất do
tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức nước
Luận văn tốt nghiệp Trường Đại học Kinh tế Quốc
dân
ngoài, cá nhân nước ngoài sử dụng và nội dung thu hồi đất chung cho tất cả các
thửa đất do hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư sử dụng.
- Trong thời hạn không quá mười lăm (15) ngày làm việc kể từ ngày nhận
được tờ trình, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có trách
nhiệm xem xét, ký và gửi cho Sở Tài nguyên và Môi trường, Uỷ ban nhân dân
huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh hoặc Tổ chức phát triển quỹ đất quyết
định thu hồi đất, quyết định xét duyệt phương án bồi thường, giải phóng mặt
bằng.
Trường hợp trên khu đất thu hồi có diện tích đất do hộ gia đình, cá nhân
đang sử dụng thì trong thời hạn không quá ba mươi (30) ngày làm việc kể từ
ngày nhận được quyết định thu hồi đất của Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực
thuộc trung ương, Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có
trách nhiệm quyết định thu hồi diện tích đất cụ thể đối với từng thửa đất do hộ
gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư sử dụng.
- Tổ chức phát triển quỹ đất có trách nhiệm thực hiện việc bồi thường, giải
phóng mặt bằng đối với trường hợp thu hồi đất sau khi quy hoạch, kế hoạch sử
dụng đất được công bố mà chưa có dự án đầu tư, Uỷ ban nhân dân huyện, quận,
thị xã, thành phố thuộc tỉnh có trách nhiệm tổ chức thực hiện việc bồi thường,
giải phóng mặt bằng đối với trường hợp thu hồi đất để giao hoặc cho thuê thực

tiền sử dụng đất.
- Hợp đồng thuê đất và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
 Việc chuyển từ hình thức thuê đất sang hình thức giao đất có thu
tiền sử dụng đất được quy định như sau:
-Trong thời hạn không quá năm (05) ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ
hợp lệ, Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất có trách nhiệm thẩm tra; đối với
trường hợp đủ điều kiện thì làm trích sao hồ sơ địa chính và gửi kèm theo hồ sơ
đến cơ quan tài nguyên và môi trường cùng cấp; gửi số liệu địa chính cho cơ
quan thuế để xác định nghĩa vụ tài chính.
Luận văn tốt nghiệp Trường Đại học Kinh tế Quốc
dân
-Trong thời hạn không quá ba (03) ngày làm việc kể từ ngày người sử dụng
đất thực hiện xong nghĩa vụ tài chính, cơ quan tài nguyên và môi trường có trách
nhiệm chỉnh lý giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
 Trường hợp người sử dụng đất có nhu cầu chuyển từ hình thức thuê
đất sang hình thức giao đất có thu tiền sử dụng đất kết hợp với việc chuyển mục
đớch sử dụng đất thì phải thực hiện thủ tục chuyển mục đớch sử dụng đất trước
khi thực hiện thủ tục chuyển từ hình thức thuê đất sang hình thức giao đất có thu
tiền sử dụng đất.
Luận văn tốt nghiệp Trường Đại học Kinh tế Quốc
dân
Chương II:
Thực trạng công tác giao đất, cho thuê đất đối với các tổ
chức kinh tế trên địa bàn thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.
1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An
ảnh hưởng đến nhu cầu sử dụng đất của các tổ chức kinh tế.
1.1. Điều kiện tự nhiên
1.1.1. Vị trí địa lý và địa hình, địa mạo:
Thành phố Vinh có vị trí là 18
0

ra những hạn chế trong việc sử dụng đất của các đối tượng nói chung và của các
tổ chức kinh tế nói riêng. Tình trạng khụ, núng và hạn hán làm cho việc đầu tư
vào đất trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản
gặp nhiều khó khăn, gây ra những thiệt hại đáng kể cho những người sử dụng
đất. Bên cạnh đú, chớnh thời tiết, khí hậu này cũng làm giảm khả năng thu hút
đầu tư của các nhà đầu tư lớn vào thực hiện các dự án đầu tư sản xuất, kinh
doanh, đặc biệt là các nhà đầu tư nước ngoài.
1.1.3. Tài nguyên các loại:
Không chỉ có quỹ đất tự nhiên rộng lớn màu mỡ, thuận lợi cho phát triển
cây lúa, rau màu, cói và xây dựng các khu đô thị hiện đại, văn minh, thành phố
Vinh còn có tài nguyên rừng với khu lâm viên Núi Quyết - sơn thuỷ hữu tình -
rộng 50 ha và rừng bần ngập mặn Hưng Hoà rộng hơn 68 ha, nơi cư trú của
hàng trăm loài chim đến từ nhiều vùng miền khác nhau. Hai khu rừng này cùng
với nhiều cảnh quan hấp dẫn, nhiều di tích lịch sử - văn hoá có giá trị là những
điều kiện quan trọng cho phát triển các loại hình du lịch, nhất là du lịch sinh
thái. Bên cạnh đó, thành phố Vinh cũng có khá nhiều khoáng sản. Trong đó,
nhiều nhất là đá xây dựng, đất sét làm gạch ngói, thích hợp cho phát triển công
nghiệp vật liệu xây dựng.
Hiện tại, dân số thành phố có 226 nghìn người, trong đó 54% đang trong
độ tuổi lao động. Số người đang làm việc trong các ngành kinh tế là 84 nghìn
người, đông nhất là các ngành dịch vụ với 52,4%, tiếp đến là công nghiệp – xây
dựng 33,3% và nông – lâm - thuỷ sản 14,3%. Số người có trình độ cao đẳng, đại
học và sau đại học là 26.498 người, chiếm 12,4% dân số (Nguồn: Uỷ ban nhân
dân thành phố).
1.1.4. Thực trạng cảnh quan, môi trường
Với cảnh quan phong phú, đa dạng có nhiều nét đặc sắc đã tô điểm thêm
vẻ đẹp thiên nhiên của thành phố Vinh.
Luận văn tốt nghiệp Trường Đại học Kinh tế Quốc
dân
Tuy nhiên, các hoạt động của con người cũng đã có những tác động đến


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status