Lý thuyết và thực tế về quản trị tài sản lưu động tại Công ty giày Thượng Đình - Pdf 23

LỜI MỞ ĐẦU
Trong các doanh nghiệp, giá trị TSLĐ thường chiếm tỷ trọng khá lớn trong tổng giá trị tài
sản. Vì vậy, quản lý và sử dụng một cách hợp lý các loại TSLĐ có ảnh hưởng rất lớn đến việc
thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp. Thực tế cho thấy, mặc dù hầu hết các vụ phá sản, làm ăn
thua lỗ trong kinh doanh là hệ quả của nhiều yếu tố chứ không phải chỉ lo việc kinh doanh
TSLĐ yếu kém, nhưng có thể khẳng định rằng sự bất lực trong việc hoạch định, kiểm soát
TSLĐ và các khoản nợ là một nguyên nhân quan trọng dẫn đến sự thất bại của nhiều công ty.
Chính vì vậy, nhóm 3 đã nghiên cứu đề tài “Lý thuyết và thực tế về quản trị tài sản lưu
động tại Công ty giày Thượng Đình”.
Nội dung bài thảo luận bao gồm 3 chương :
Chương I : Lý thuyết về quản trị tài sản lưu động
Chương II : Thực tế về quản trị TSLĐ của công ty giày Thượng Đình
Chương III : Giải pháp và kiến nghị
* *
*
Chương I : Lý thuyết về quản trị tài sản lưu động (TSLĐ)
1.1 TÀI SẢN LƯU ĐỘNG :
1.1.1 Khái niệm :
Ở Việt Nam hiện nay, theo hệ thống chuẩn mực kế toán, chuẩn mực số 21 về “trình bày báo
cáo tài chính”, tài sản ngắn hạn (hay TSLĐ) là những tài sản thỏa mãn một trong các điều kiện
sau :
- Được dự tính để bán hoặc sử dụng trong khuôn khổ của chu kỳ kinh doanh bình thường
của doanh nghiệp.
- Được nắm giữ chủ yếu cho mục đích thương mại, hoặc cho mục đích ngắn hạn và dự kiến
thu hồi hoặc thanh toán trong vòng 1 tháng kể từ ngày kết thúc niên hộ kế toán.
- Là tiền hoặc tài sản tương đương tiền mà việc sử dụng không gặp một hạn chế nào.
Như vậy, TSLĐ của doanh nghiệp là toàn bộ những tài sản thuộc quyền sở hữu của doanh
nghiệp có thời gian sử dụng, thu hồi, hoặc luân chuyển giá trị trong vòng một năm, hoặc
một chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
1
1.1.2 Đặc điểm của TSLĐ :

• Ở Việt Nam, theo quy chế quản lý tài chính doanh nghiệp hiện hành, TSLĐ của các
doanh nghiệp bao gồm :
- Tiền, bao gồm : tiền mặt tồn quỹ, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển.
2
- Các khoản phải thu, bao gồm : phải thu từ khách hàng (người mua), phải thu từ nhà
cung cấp (người bán) trong trường hợp trả trước tiền hàng, phải thu từ nhà nước về thuế giá trị
gia tăng được hoàn thuế, phải thu nội bộ, các khoản phải thu khác và dự phòng các khoản phải
thu khó đòi.
- Vật tư, hàng tồn kho, bao gồm : Hàng mua đang đi trên đường, nguyên liệu, vật liệu,
công cụ, dụng cụ, thành phẩm, hàng hóa tồn kho, hàng gửi bán, dự phòng giảm giá hàng hóa
tồn kho.
- TSLĐ khác, bao gồm : tạm ứng, chi phí trả trước, tài sản thiếu chờ xử lý, các khoản
cầm cố, ký cược, ký quỹ ngắn hạn.
Viêc phân loại TSLĐ có ý nghĩa quan trọng trong công tác quản trị tài chính doanh nghiệp.
Qua nghiên cứu giúp nhà quản trị thấy được tính hợp lý hoặc không hợp lý của các bộ phận tài
sản cũng như cơ cấu vốn đầu tư của doanh nghiệp, từ đso có biện pháp điều chỉnh cho phù hợp.
Tình hình TSLĐ của doanh nghiệp trong mỗi thời kỳ được phản ánh tổng quát ở bảng cân
đối kế toán của doanh nghiệp trong thời kỳ đó.
1.2 QUẢN TRỊ TIỀN :
1.2.1 Động cơ của việc giữ tiền :
• Bất cứ doanh nghiệp nào cũng cần giữ một lượng tiền nhất định bởi các lý do chính sau
đây :
- Một là, để thực hiện các giao dịch : Động cơ chủ yếu của nắm giữ tiền trong doanh
nghiệp là để làm thông suốt các giao dịch kinh doanh. Tiền là tài sản có tính lỏng cao nhất. Từ
tiền, doanh nghiệp có thể chuyển ngay sang hàng hóa khác. Nếu doanh nghiệp không giữ tiền
mà chỉ giữ các tài sản khác thì các chi phí giao dịch có thể rất cao, hơn nữa lại mất nhiều thời
gian cho một giao dịch kinh doanh thông thường vì các tài sản khác có tính thanh khoản thấp
hơn. Từ tài sản đang nắm giữ doanh nghiệp phải chuyển nó thành tiền, sau đó mới dùng tiền để
mua hàng hóa mà doanh nghiệp cần. Động cơ này gọi là động cơ kinh doanh.
- Hai là, để đáp ứng nhu cầu chỉ trả và thanh toán : Ngoài nhu cầu sử dụng tiền để mua

- Mục đích (như thu tiền)
- Chiến thuật :
+ Tận dụng tối đa thời gian chậm thanh toán trong thời hạn cho phép.
+ Lựa chọn phương thức, phương tiện và địa điểm thanh toán thích hợp.
+ Thay vì dùng tiền thanh toán sớm các hóa đơn mua hàng, người quản lý tài chính có thể
trì hoãn việc thanh toán trong phạm vi thời gian mà các chi phí tài chính, tiền phạt hay sự suy
giảm vị thế tín dụng của doanh nghiệp thấp hơn những lợi ích từ việc thanh toán chậm mang
lại…
c. Lập ngân sách thu chi tiền tệ :
• Tổng lượng tiền thu được trong kỳ thường bao gồm :
- Bán hàng kỳ trước thu tiền trong kỳ này (tiền hàng bán chịu kỳ trước)
- Bán hàng kỳ này thu tiền trong kỳ này (tiền hàng bán trả ngay).
- Bán hàng kỳ sau thu tiền trong kỳ này (tiền hàng người mua trả trước)
4
- Các khỏa thu khác…
• Tổng lượng tiền chi trong kỳ thường bao gồm :
- Mua hàng kỳ trước trả tiền trong kỳ này (tiền hàng mua chị kỳ trước)
- Mua hàng kỳ này trả tiền trong kỳ này (tiền hàng mua trả ngay)
- Mùa hàng kỳ sau trả tiền trong kỳ này (tiền hàng trả trước người bán)
- Trả lương cán bộ công nhân trong kỳ.
- Tiền thuế phải nộp trong kỳ.
- Lãi vay phải trả trong kỳ.
- Các khoản chi khác…
d. Mô hình dự trữ tiền tối ưu :
Sau đây chúng ta xem xét nội dung cơ bản của mô hình về mức dự trữ tiền tối ưu của doanh
nghiệp do nhà kinh tế học người Mỹ Wiliam J. Baumol đưa ra năm 1952.
Trước hết, mô hình này dựa trên một số giả định sau :
- Số tiền vượt quá một mức tiêu chuẩn nhất định sẽ được đầu tư vào các chứng khoán khả
hoán.
- Lượng tiền dự trữ ổn định trong kỳ là xác định.

trong 8 tuần là 2% (lấy lãi suất trên thị trường là 13%/năm : 52 tuần x 8 tuần). Khi đó kim
ngạch chuyển hoán tối ưu là :
C* = = 100 triệu đồng.
Điều này có nghĩa là cán cân tiền sẽ được bổ sung hai lần một lần bằng cách bán các loại
chứng khoán có giá trị 100 triệu đồng. Trong 8 tuần, theo kế hoạch sẽ có 4 lần giao dịch (400 tr
: 100 tr) và chi phí giao dịch là 4 x 0,25 tr = 1 trđ, chi phí cơ hội là (100/2) x 0,02 = 1 trđ, của C
khác 100 trđ thì doanh nghiệp đều phải chịu một lượng chi phí lớn hơn.

1.2.3 Quản trị đầu tư chứng khoán có tính thanh khoản cao
Việc quản lí tiền liên quan chặt chẽ với việc quản lý các loại tích sản gần với tiền – các loại
chứng khoán có khả năng thanh khoản chuyển đổi thành tiền (tính thanh khoản) cao. Các loại
tích sản này đóng vai trò như một lớp đệm cho tiền : số dư tiền có thể dễ dàng đầu tư vào các
6
loại chứng khoán có tính thanh khoản cao đồng thời các loại chứng khoán này có thể được bán
rất nhanh với chi phí thấp để thỏa mãn những nhu cầu cấp bách về tiền.
Mối quan hệ giữa dòng tiền và chứng khoán
Các loại chứng khoán thanh khoản cao thường có thu nhập thấp hơn các loại tài sản đang
hoạt động. Mặc dù vậy, các doanh nghiệp vẫn đầu tư vào các loại chứng khoán này bởi các lý
do sau :
- Dùng để thay thế tiền dưới hình thức tài sản gần tiền. Khi hết tiền, doanh nghiệp có thể
dễ dàng bán chứng khoán để tái tạo vốn tiền tệ cần thiết.
- Là hình thức đầu tư tạm thời. Hình thức này thường xuất hiện trong một số doanh
nghiệp kinh doanh có tính mùa vụ.
Khi đầu tư vào chứng khoán, cần xem xét, cân nhắc kỹ các biến số sau :
• Tính thanh khoản : tức là khả năng chuyển đổi chứng khoán thành tiền.Đặc tính này
được xét trên 2 mặt : giá bán của chứng khoán và thời gian cần thiết để bán chúng. Hai yếu tố
này có mối quan hệ với nhau, chẳng hạn thời gian sẽ bán rất ngắn nếu có một sự nhượng bộ về
giá bán. Một chứng khoán được coi là có tính thanh khoản cao nếu nó có thể được chuyển
nhượng nhanh chóng mà người bán không phải có những nhượng bộ quan trọng về giá bán.
• Tính rủi ro : bao gồm :

giữa lợi nhuận kỳ vọng và rủi ro có mối liên hệ với nhau, rủi ro cang cao thì lợi nhuận kỳ vọng
càng lớn . So với cổ phiếu, trái phiếu công ty và các công cụ đầu tư dài hạn khác, các chứng
khoán ngắn hạn có mức rủi ro thấp nên tính thanh khoản của chúng cao hơn.
• Khả năng chịu thuế : Phạm vi chịu thuế của những khoản lợi nhuận do đầu tư chứng
khoán mạng lại là một sự cân nhắc quan trọng khi đánh giá lợi nhuận kỳ vọng của các chứng
khoán.
• Thời gian đáo hạn : Khi cần phải bán gấp một loại chứng khoán nào đó thì việc phải
nhượng bộ về giá cả là điều khó tránh khỏi. Để hạn chế đến mức thấp nhất việc phải bán mục
đầu tư chứng khoán có nhiều mức đáo hạn khác nhau phù hợp với nhu cầu tài chính của doanh
nghiệp.
1.3 QUẢN TRỊ KHOẢN PHẢI THU
1.3.1 Chính sách tín dụng và các nhân tố ảnh hưởng đến chính sách tín dụng
a. Chính sách tín dụng :
- Tiêu chuẩn tín dụng : mức chất lượng tín dụng tối thiểu để một đối tác được chấp nhận
cấp tín dụng.
- Chiết khấu thanh toán : khuyến khích đối tác thanh toán sớm trước thời hạn để được
hưởng chiết khấu.
- Thời hạn bán chịu (thời hạn tín dụng) quy định về độ dài thời gian của các khoản tín
dụng.  Chiết khấu thanh toán và thời gian bán chịu chỉ rõ hình thức của khoản tín dụng.
Ví dụ : một thương vụ mua bán có quy định 2/10 net 30. Điều đó có nghĩa là doanh nghiệp
áp dụng tỷ lệ chiết khấu 2% nếu hóa đơn bán hàng được thanh toán trong vòng 10 ngày kể từ
ngày giao hàng. Mặt khác, số tiền hàng phải được thanh toán trong vòng 30 ngày, nếu không
đúng sẽ phải chịu lãi suất phạt (lãi suất quá hạn).
b. Các yếu tố tác động đến chính sách tín dụng :
8
Có nhiều yếu tố tác động đến chính sách tín dụng của doanh nghiệp. Sau đây là một số yếu
tố cơ bản :
- Điều kiện của doanh nghiệp : Đặc điểm về sản phẩm, ngành nghề kinh doanh tiêu thụ
và tiềm lực tài chính là nhữn yếu tố tác động trực tiếp đến chính sách tín dụng của doanh
nghiệp. Doanh nghiệp có quy mô lớn, có tiềm lực tài chính mạnh, sản phẩm có thời gian sử

9
- Nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn/không thu hồi được) : các khoản nợ quá hạn > 360
ngày và các khoản nợ đã cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn trên 180 ngày theo thời hạn cơ cấu
lại.
Ngoài ra, để theo dõi các khoản phải thu (KPT) có thể sử dụng các công cụ sau :
a. Kỳ thu tiền bình quân (ACP)
Kỳ thu tiền
bình quân
= =
=
b. Phân tích tuổi các khoản phải thu
- Xác định doanh thu bán chịu các tháng
- Xác định cơ cấu các KPT chưa thu được
- Xác định tổng các KPT đến ngày thu
- Xác định tuổi các KPT với dãn cách 30 ngày ứng với tỷ trọng trong tổng các KPT
- Phát triển các phân tích.
c. Mô hình số dư KPT :
Phương pháp này đo lường quy mô doanh số bán chịu chư thu được tiền tại thời điểm cuối
các tháng do kết quả bán hàng của tháng và của các tháng trước đó.
1.3.3 Phòng ngừa rủi ro và xử lý đối với khoản phải thu khó đòi.
a. Phòng ngừa rủi ro :
- Cấu trúc rủi ro :
+ Rủi ro do không thu hồi được nợ (rủi ro tín dụng)
+ Rủi ro do tác động của sự thay đổi tỷ giá, lãi suất…
- Biện pháp phòng ngừa :
+ Nghiên cứu khách hàng để giới hạn tín dụng
+ Sử dụng các giải pháp kiểm soát rủi ro
+ Căn cứ vào kết quả phân loại nợ phải thu doanh nghiệp cần phải lập dự phòng đối với
khoản phải thu khó đòi
+ Sử dụng các giải pháp phòng ngừa rủi ro hối đoái đối với khoản phải thu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status