THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP CỦA VIỆC SẢN XUẤT VÀ XUẤT KHẨU CÀ PHÊ TẠI TRUNG TÂM GIAO DỊCH CÀ PHÊ BUÔN MA THUỘT THUỘC SỞ CÔNG THƯƠNG TỈNH ĐắK LắK - Pdf 23

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY NGUYÊN
KHOA KINH TẾ
@&?
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
CỦA VIỆC SẢN XUẤT VÀ XUẤT KHẨU CÀ PHÊ TẠI
TRUNG TÂM GIAO DỊCH CÀ PHÊ BUÔN MA THUỘT
THUỘC SỞ CÔNG THƯƠNG TỈNH ĐắK LắK
Họ và tên sinh viên : Nguyễn Quốc Cường
Ngành học : Quản Trị Kinh Doanh
Khóa học : 2010 - 2013
Đắk Lắk, tháng 07 năm 2013

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY NGUYÊN
KHOA KINH TẾ
@&?
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
CỦA VIỆC SẢN XUẤT VÀ XUẤT KHẨU CÀ PHÊ TẠI
TRUNG TÂM GIAO DỊCH CÀ PHÊ BUÔN MA THUỘT
THUỘC SỞ CÔNG THƯƠNG TỈNH ĐắK LắK
Người hướng dẫn : Th.S. H’Wen Niê Kdăm
Họ và tên sinh viên : Nguyễn Quốc Cường
Ngành học : Quản Trị Kinh Doanh
Khóa học : 2010 - 2013
Đắk Lắk, tháng 07 năm 2013
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành Báo cáo thực tập tốt nghiệp này em xin chân thành cảm ơn đến:
- Quý Thầy, Cô giáo Trường Đại học Tây Nguyên nói chung, Thầy, Cô giáo
Khoa Kinh tế nói riêng đã truyền đạt những kiến thức chuyên môn bổ ích trong quá
trình em học tại Trường.

12. ĐT-XNK
13. Thái Hòa BMT
14. FOB
15. FDI
16. USD
17. iComex

18. VND
19. ĐVT

: Trung tâm Giao dịch Cà phê Buôn Ma Thuột
: Ngân hàng thương mại Cổ phần Kỹ thương Việt Nam
: Cổ phần xuất nhập khẩu
: Công ty giám định hàng hóa Cafecontrol
:Trách nhiệm hữu hạn
: Cổ phần
: Cơ quan phát triển Pháp
: Nông nghiệp và phát triển nông thôn
: Nghị định Chính Phủ
: Ủy ban nhân dân
: Buon Ma Thuot Coffee Exchange Center
: Đầu tư xuất nhập khẩu
: Công ty Cổ phần Thái Hòa Buôn Ma Thuột
: Free On Board
: Foreign Direct Investment
: United States dollar
: Phần mềm giao dịch tại Trung tâm Giao dịch Cà phê
Buôn Ma Thuột
Việt Nam đồng
Đơn vị tính

ii
MỤC LỤC
Trang
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT i
DANH MỤC BẢNG BIỂU ii
DANH MỤC SƠ ĐỒ ii
PHẦN THỨ NHẤT
MỞ ĐẦU 1
1.1 Lý do chọn chuyên đề nghiên cứu: 1
1.2. Mục tiêu nghiên cứu 3
1.3 Đối tượng nghiên cứu 3
1.4 Phạm vi nghiên cứu 3
1.4.1 Phạm vi thời gian 3
1.4.2 Phạm vi không gian 3
1.4.3 Phạm vi về nội dung 3
PHẦN THỨ HAI
TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 4
2. 1 Cơ sở lý luận 4
2.2 Cơ sở thực tiễn 13
2.2.1 Tổng quan tình hình sản xuất và xuất khẩu cà phê trên Thế giới 13
2.2.2 Tổng quan tình hình sản xuất và xuất khẩu cà phê ở Việt Nam 15
2.3 Tổng Quan về giao dịch kỳ hạn, và sở giao dịch hàng hóa 18
PHẦN THỨ BA
ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
3.1 Tổng quan chung về đặc điểm kinh tế, xã hội địa bàn nghiên cứu 23
3.2 Thuận lợi và khó khăn của địa bàn nghiên cứu 23
3.3 Tổng quan về Trung tâm giao dịch cà phê Buôn Ma Thuột 26
3.4 Phương pháp nghiên cứu 38
PHẦN THỨ TƯ
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 39

4.3.7.1 Khối lượng giao dịch cà phê kỳ hạn 60
4.3.7.2 Doanh thu của số lượng giao dịch cà phê kỳ hạn 61
4.3.8 Hoạt động kho vận lưu trữ hàng 62
4.3.9 Các hoạt động Truyền thông, phát triển thị trường của Trung tâm
iv
giao dịch cà phê BuônMaThuột năm 2012 63
4.4 Phân tích một số nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động giao dịch của
Trung tâm giao dịch cà phê Buôn Ma Thuột 63
4.4.1 Nhân tố khách quan 63
4.4.2 Nhân tố chủ quan 64
4.5 Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất và xuất khẩu 66
4.5.1 Quy hoạch ổn định vùng cà phê 66
4.5.2 Về khoa học công nghệ 66
4.5.3 Giải pháp công nghệ chế biến 67
4.5.4 Giải pháp về chính sách 67
4.5.5 Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giao dịch của Trung tâm
giao dịch cà phê Buôn Ma Thuột 68
4.5.5.1 Biện pháp nâng cao năng lực cạnh tranh 69
4.5.5.2 Phát triển Thành viên môi giới 69
4.5.5.3 Mở rộng hệ thống kho, giám định 69
4.5.5.4 Giao dịch từ xa 70
4.5.5.5 Đa dạng mặt hàng trong giao dịch giao ngay để tạo điểm tựa cho
giao dịch kỳ hạn 71
4.5.5.6 Thực hiện chuyển đổi từ mô hình đơn vị sự nghiệp có thu sang mô hình công
ty hạch toán độc lập, tiến tới thành lập Sở giao dịch hàng hóa 71
4.5.5.7 Gia tăng dịch vụ hỗ trợ 71
PHẦN THỨ NĂM
KẾT LUẬN 72
5.1 Kết luận 72
5.2 Đề xuất 73

trị kinh tế cao nên diện tích cà phê tỉnh Đắk Lắk hiện nay đã vượt quy hoạch của Bộ
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Người dân vẫn còn chưa ý thức sâu về tính bền
vững trong sản xuất nên tự phát trồng cà phê không theo quy hoạch, Phàn lớn diện tích
cà phê kinh doanh đang trở nên già cỗi có tuổi cây trung bình 15-20 năm nên năng suất
1
và sản lượng kém. Sản xuất đã và đang phải đối mặt với những rủi ro tiềm ẩn rất cao
từ: sâu bệnh, thiên tai, hệ quả của việc khai thác tài nguyên đất và môi trường kém bền
vững, giá của các yếu tố đầu vào ngày càng tăng cao và giá cà phê trên thị trường
thường xuyên biến động lên xuống. Những rủi ro nêu trên nếu không có biện pháp
giảm thiểu kịp thời chắc chắn hậu quả mang đến cho sản xuất sẽ không nhỏ và ảnh
hưởng mạnh mẽ đến thu nhập của người trồng cà phê.
Năm 2012 cũng là là năm kinh tế Việt Nam gặp nhiều biến động khó khăn.
Doanh nghiệp xuất khẩu tỉnh nhà phần lớn còn thiếu vốn, thiếu kinh nghiệm, kỹ năng
quản trị rủi ro trong giao dịch thanh toán xuất khẩu với cung cách kinh doanh theo
hình thức “trừ lùi, bán trước” thời gian vừa qua là một nguyên nhân dẫn đến tình trạng
luôn chịu thua thiệt trong giá trị thặng dư xuất khẩu nông sản mà điển hình niên vụ cà
phê năm 2011-2012 vừa qua một số doanh nghiệp cà phê Tỉnh nhà làm ăn thua lỗ,
thu hẹp phạm vi kinh doanh, bị phá sản,… kéo theo hệ lụy kép là người dân phải lao
đao do ký gửi cà phê và sự lớn mạnh của khối doanh nghiệp FDI có vốn đầu tư nước
ngoài trong thu gom mua cà phê nhân xuất khẩu.
Trước những thuận lợi và khó khăn trên chúng ta cần giải quyết những mặt còn
tồn tại nhằm hướng tới phát triển ngành cà phê một cách bền vững lâu dài, giúp người
dân nâng cao thu nhập, cải thiện môi trường sống, nâng cao giá trị gia tăng của ngành
cà phê. Trước thực trạng trên và được sự hướng dẫn khoa học của Thạc sĩ H'Wen
NiêKđăm. Em tiến hành nghiên cứu chuyên đề tốt nghiệp: “ Thực trạng và giải pháp
của việc sản xuất và xuất khẩu cà phê tại Trung tâm giao dịch cà phê
BuônMaThuột thuộc Sở Công thương tỉnh Đắk Lắk ” nhằm vận dụng kiến thức đã
được học, trau dồi khả năng nghiên cứu khoa học, đề xuất một số giải pháp thiết thực
trong sản xuất và kinh doanh.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu

2.1.1 Một số vấn đề cơ bản về sản xuất
2.1.1.1.Khái niệm về sản xuất:
Theo quan niệm phổ biến trên thế giới thì sản xuất được hiểu là quá trình tạo ra
sản phẩm hoặc dịch vụ. Một hệ thống sản xuất sử dụng các yếu tố đầu vào là nguyên
vật liệu thô, con người, máy móc, nhà xưởng, kỹ thuật công nghệ, tiền mặt và các
nguồn tài nguyên khác để chuyển đổi nó thành sản phẩm hoặc dịch vụ. Sự chuyển đổi
này là hoạt động trọng tâm và phổ biến của hệ thống sản xuất. Mối quan tâm hàng đầu
của các nhà quản trị hệ thống sản xuất, là các hoạt động chuyển hóa của sản xuất. Như
vậy, về thực chất sản xuất chính là quá trình chuyển hóa các yếu tố đầu vào biến chúng
thành các sản phẩm hoặc dịch vụ. Theo nghĩa rộng, sản xuất bao hàm bất kỳ hoạt động
nào nhằm thỏa mãn nhu cầu của con người. Nó có thể phân thành: sản xuất bậc 1; sản
xuất bậc 2 và sản xuất bậc 3.
- Sản xuất bậc 1 (sản xuất sơ chế): là hình thức sản xuất dựa vào khai thác tài
nguyên thiên nhiên hoặc là những hoạt động sử dụng các nguồn tài nguyên có sẵn, còn ở
dạng tự nhiên như khai thác quặng mỏ, khai thác lâm sản, đánh bắt hải sản, trồng trọt,
- Sản xuất bậc 2 (công nghiệp chế biến): là hình thức sản xuất, chế tạo, chế biến
các loại nguyên liệu thô hay tài nguyên thiên nhiên biến thành hàng hóa như gỗ chế
biến thành bàn ghế, quặng mỏ biến thành sắt thép. Sản xuất bậc 2 bao gồm cả việc chế
tạo các bộ phận cấu thành được dùng để lắp ráp thành sản phẩm tiêu dùng và sản phẩm
công nghiệp.
- Sản xuất bậc 3 (công nghiệp dịch vụ): Cung cấp hệ thống các dịch vụ nhằm
thỏa mãn nhu cầu đa dạng của con người. Trong nền sản xuất bậc 3, dịch vụ được sản
xuất ra nhiều hơn các hàng hóa hữu hình. Các nhà sản xuất công nghiệp được cung cấp
những điều kiện thuận lợi và dịch vụ trong phạm vi rộng lớn. Các công ty vận tải
chuyên chở sản phẩm của các nhà sản xuất từ nhà máy đến các nhà bán lẻ. Các nhà
bán buôn và nhà bán lẻ cung cấp các dịch vụ đến người tiêu dùng cuối cùng. Ngoài ra
còn nhiều loại dịch vụ khác như: bốc dỡ hàng hóa, bưu điện, viễn thông, ngân hàng, tài
chính, bảo hiểm, y tế, giáo dục, nhà hàng, khách sạn, ở đầu ra về sản xuất.
4
2.1.1.2.Đặc điểm của sản xuất hiện đại:

- Thứ chín, mô phỏng các mô hình toán học được sử dụng rộng rãi để hỗ trợ cho
việc ra quyết định sản xuất - kinh doanh.
2.1.2 Một số vấn đề cơ bản về xuất khẩu
2.1.2.1.Khái niệm về xuất khẩu:
Xuất khẩu là một hoạt động nhằm bán hàng hoá và dịch vụ trong nước ra thị
trường nước ngoài. Xuất khẩu là một hoạt động kinh tế đối ngoại cơ bản giúp gắn kết
thị trường đơn lẻ của các nước lại với nhau, tăng cường thông thương buôn bán, là
phương tiện thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng và phát triển. Hàng hoá, dịch vụ được
đem đi xuất khẩu phải là những hàng hoá có lợi thế so sánh cao hơn các hàng hoá -
dịch vụ khác về chất lượng, số lượng, khả năng cạnh tranh, giá cả nó cũng phản ánh
thế mạnh, nguồn lực tiềm năng của quốc gia xuất khẩu.
Trong xu thế hội nhập hiện nay, hoạt động xuất khẩu càng có ý nghĩa quan trọng
hơn nữa đối với nền kinh tế của mỗi quốc gia và giữ một vai trò hết sức quan trọng
cho sự tăng trưởng và phát triển kinh tế. Việc mở rộng xuất khẩu làm tăng thêm nguồn
thu ngoại tệ cho đất nước và cho nhu cầu nhập khẩu. Khuyến khích xuất khẩu còn
nhằm giải quyết việc làm, tăng thêm nguồn thu nhập cho người dân. Vì vậy, đẩy mạnh
xuất khẩu là vấn đề có ý nghĩa chiến lược để phát triển kinh tế của mỗi đất nước. Cụ
thể, vai trò của xuất khẩu được thể hiện dưới những khía cạnh sau:
- Thứ nhất, xuất khẩu tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu.
- Thứ hai, khai thác lợi thế so sánh trong cạnh tranh, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu
kinh tế và phát triển sản xuất.
- Thứ ba, xuất khẩu còn tác động đến nhiều mặt của đời sống xã hội:
+ Xuất khẩu tác động tích cực đến việc giải quyết công ăn việc làm và cải thiện
đời sống nhân dân. Việc đẩy mạnh xuất khẩu đòi hỏi gia tăng sản xuất hàng xuất khẩu;
hoạt động này đã thu hút hàng triệu lao động vào làm việc, giảm bớt tình trạng thất
nghiệp trong nước và tăng thu nhập cho người dân với mức thu nhập không thấp.
+ Xuất khẩu gia tăng làm tăng GDP, tăng thu nhập quốc dân làm tăng tiêu dùng
nội địa. Nhu cầu tiêu dùng hàng hóa càng tăng lên với chất lượng ngày càng cao. Việc
xuất khẩu hàng hóa cũng tạo thêm nguồn vốn hỗ trợ việc nhập khẩu những vật phẩm
tiêu dùng thiết yếu phục vụ đời sống và đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao của

- Chúng ta cần phải tạo ra những mặt hàng , nhóm hàng xuất khẩu chủ lực đáp
ứng những nhu cầu thị trường thế giới và của khách hàng về số lượng cũng như chất
lượng nhằm tạo lập niềm tin với khách hàng và mở rộng thị trường xuất khẩu.
7
Về cơ cấu hàng xuất khẩu: Chúng ta không chỉ chú trọng vào số lượng mặt hàng
xuất khẩu mà còn cần chú trọng nhiều hơn nữa tới chất lượng hàng xuất khẩu. Cần chủ
động gia tăng xuất khẩu những sản phẩm đã qua chế biến với lợi thế cạnh tranh cao,
chú trọng tới nhóm hàng có hàm lượng khoa học công nghệ cao, giảm tỷ trọng hàng
thô, đa dạng mẫu mã, tăng cường các hoạt động dịch vụ xuất khẩu.
2.1.2.3.Các hình thức xuất khẩu
- Hình thức xuất khẩu trực tiếp: là hoạt động bán hàng của một quốc gia cho
một quốc gia.
- Hình thức xuất khẩu gián tiếp: là hình thức bán hàng của một quốc gia cho một
quốc gia khác thông qua trung gian.
- Hình thức buôn bán đối lưu: là hình thức xuất khẩu kết hợp chặt chẽ với nhập
khẩu, người bán đồng thời cũng là người mua.
- Hình thức gia công quốc tế: là hoạt động bên đặt gia công giao hoặc bán toàn
bộ nguyên liệu hoặc bán thành phẩm cho bên nhận gia công. Sau một thời gian thỏa
thuận, bên nhận gia công nộp hoặc bán lai thành phẩm cho bên nhận gia công, bên đặt
phải trả phí gia công.
- Hình thức tái xuất khẩu: hình thức xuất khẩu ra nước ngoài những hàng hóa
trước đây đã nhập khẩu.
- Hình thức chuyển khẩu: là hình thức tái xuất khẩu, hàng hóa nước xuất khẩu
chuyển trực tiếp sang nước nhập khẩu, nước tái suất trả tiền cho nước xuất khẩu và
thu của nước nhập khẩu.
- Hình thức xuất khẩu tại chỗ: là hình thức doanh nghiệp bán hàng cho người
nước ngoài ngay trên lãnh thổ nước ta.
2.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất và xuất khẩu
Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất và xuất khẩu. Nhưng tựu
chung lại thì có một số nhân tố tác động chính sau.

Bất kể hàng hóa nào cũng vậy, nếu chất lượng tốt thì có sức cạnh tranh cao và
bán chạy hơn. Với cà phê cũng vậy nếu chất lượng cà phê không tốt thì không những
tiêu thụ cà phê kém mà nếu có xuẩt khẩu được cũng bị ép gía thấp nên giá trị xuất
khẩu là không cao. Ngược lại, chất lượng tốt không những xuất khẩu được nhiều mà
giá cả còn cao nên giá trị xuất khẩu sẽ lớn. Giá cả luôn tác động tới quan hệ cung cầu.
Giá thấp thì khối lượng xuất khẩu sẽ tăng nhưng giá trị lại không tăng đáng kể thậm
9
chí là giảm. Ngược lại khi giá cà phê cao thì khối lượng xuất khẩu có thể không tăng
những giá trị xuất khẩu lại có thể tăng mạnh.
- Kênh và dịch vụ phân phối:
Một kênh phân phối hợp lý sẽ không những giảm chi phí trong hoạt động, nâng
cao sức cạnh tranh của cà phê xuất khẩu mà còn giúp cho quá trình xuất khẩu cà phê
được nhanh chóng dễ dàng và nắm bắt tốt thông tin phản hồi từ thị trường nước nhập
khẩu cũng như của người cung ứng.
- Môi trường cạnh tranh:
Môi trường cạnh tranh như các thể chế, quy định, các rào cản đối với kinh doanh
cà phê của nước nhập khẩu cà phê, số lượng các đối thủ cạnh tranh trên thị trường
nước nhập khẩu cà phê cũng hưởng rất lớn đến hoạt động xuất khẩu cà phê của nước
xuất khẩu. Cho dù người tiêu dùng nước đó có nhu cầu cao về cà phê của chúng ta
nhưng chính sách của Chính phủ nước đó bảo hộ thị trường trong nước, dựng lên các
hàng rào phi thuế quan, hạn ngạch gây cản trở cho hoạt động xuất khẩu thì chúng ta
cũng khó có thể thúc đẩy xuất khẩu vào thị trường này được.
+ Phương thức giao thông vận tải, thông tin liên lạc: Giao thông vận tải và
thông tin liên lạc là một phần không thể thiếu trong xuất nhập khẩu, nó ảnh hưởng trực
tiếp tới chi phí cho hoạt động này và sự đảm bảo chất lượng cho hàng hóa. Giao thông
vận tải đa dạng, nhanh, giá rẻ là yếu tố cần thiết nhằm nâng cao sức cạnh tranh của các
doanh nghiệp. Hệ thống thông tin càng phát triển, hoàn thiện và chính xác thì càng tạo
điều kiện tốt cho các doanh nghiệp mở rộng thị trường.
- Chính sách quản lý vĩ mô của nhà nước:
+ Chính sách thuế: Chính sách thuế của nhà nước tác động tới cả cung và cầu

nước nào đều cần tìm hiểu rõ về vẫn đề này để có những thiết kế hay chất cung cấp
những mặt hàng có chất lượng phù hợp.
+ Hệ thống pháp luật: Hành lang pháp lý của một quốc gia càng thông thoáng,
minh bạch và cụ thể, phù hợp với thông lệ quốc tế thì càng tạo điều kiện thuận lợi và
giảm thiểu chi phí trung gian trong xuất nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ. Hiện nay việc
gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO) khiến các quốc gia phải từng bước thay
đổi hệ thống pháp luật trong kinh tế của mình sao cho phù hợp với thông lệ quốc tế đã
làm cho thương mại quốc tế ngày càng thuận lợi hơn.
+ Tỷ giá hối đoái và chính sách tỷ giá hối đoái: Tỷ giá hối đoái tác động tới
nhiều mặt khác nhau của nền kinh tế, qua trọng nhất là hoạt động xuất nhập khẩu, đầu
11
tư, tín dụng quốc tế. Tỷ giá hối đoái tác động trực tiếp tới hoạt động ngoại thương
thông qua kênh giá cả. Thông qua tỷ giá hối đoái ta có thể tính giá xuất nhập khẩu của
một loại hàng hóa của một nước theo tiền tệ của một nước khác.
+ Hệ thống tài chính, ngân hàng: Yếu tố này đóng vai trò quan trọng trong kinh
doanh ngoại thương. Mọi thanh toán trong kinh doanh quốc tế đều thông qua hệ thống
ngân hàng. Chính vì vậy hệ thống tài chính và ngân hàng càng phát triển thì càng giúp
giảm thiểu rủi ro trong việc thanh toán của các doanh nghiệp kinh doanh ngoại thương,
đồng thời giúp các doanh nghiệp nhanh chóng nắm bắt được cơ hội kinh doanh.
Trên đây là những nhân tố chính có ảnh hưởng nhiều nhất tới hoạt động sản
xuất và xuất khẩu. Vì vậy, mỗi quốc gia muốn thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu bền
vững và hiệu quả đều phải quan tâm đến tất cả những nhân tố trên.
2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Tổng quan tình hình sản xuất và xuất khẩu cà phê trên Thế giới
2.2.1.1 Tình hình sản xuất, giống, sản lượng
Hiện nay cà phê là một mặt hàng quan trọng trong nền kinh tế thế giới và có
khoản 75 quốc gia sản xuất cà phê trong đó có 45 quốc gia hầu hết là thành viên xuất
khẩu của tổ chức cà phê thế giới (ICO) cung cấp trên 97% sản lượng của thế giới. ICO
phân loại sản xuất cà phê làm bốn nhóm dựa trên các loại cà phê chủ yếu mà mỗi quốc
gia sản xuất mặc dù có nhiều quốc gia sản xuất cả hai loại Arabica và Robusta, bao

bao chiếm 39,2% còn Arabica giảm 3% so với niên vụ trước. (xem phụ lục 2)
2.2.1.3 Tình hình giá cả
Năm 2008 đạt mức cao nhất kể từ giai đoạn khủng hoảng cà phê và đến năm
2009 giá lại đi xuống rồi dần phục hồi trở lại từ năm 2010 đến nay và đạt đỉnh năm
2011. Qua số liệu tổng hợp (xem phụ lục 3)cho thấy mức độ tăng giá cà phê Arabica
vẫn lớn hơn so với Robusta từ mức chênh lệnh 1,4 lần vào năm 2008 lên 2,53 lần năm
2011 nên ảnh hưởng bất lợi cho các nước chuyên xuất khẩu cà phê Robusta như là
Việt Nam.
Có thể thấy nguyên nhân giá tăng là do thời tiết biến đổi bất lợi cho cà phê ở
nhiều nước. Sản lượng cà phê tăng không theo dự báo. Cung không đủ cầu niên vụ
2011-2012 cung chỉ đạt 132,7 triệu bao trong khi nhu cầu lên 137,9 triệu bao. Mặc
khác, cũng do đồng USD mất giá do các gói kích cầu kinh tế của Mỹ. Sản lượng cà
phê của Brazil, Việt Nam tăng hay giảm đều ảnh hưởng đến giá cà phê trên thế giới.
13
2.2.1.4 Tình hình tiêu dùng
Lượng tiêu dùng niên vụ năm 2011-2012 đạt mức 139 triệu bao, tăng 4,5% so
với năm 2008. Các nước xuất khẩu có mức tăng tiêu dùng mạnh nhưng một số nước
nhập khẩu có mức tiêu dùng giảm nhẹ Xu thế hiện nay là tăng tỷ trọng cà phê
Robusta pha trộn trong cà phê thành phẩm để giảm giá thành sản phẩm. Vì vậy, tiêu
thụ cà phê Robusta tăng nhanh và hiện chiếm khoảng 36,5% tổng tiêu thụ cà phê toàn
cầu. (xem phụ lục 4)
Theo dự báo dự đoán nhu cầu cà phê robusta vào niên vụ 2012-2013 (bắt đầu từ
tháng 10/2012) ở hầu hết các quốc gia sẽ vượt quá nguồn cung, nguyên nhân do tiêu
thụ cà phê trên thế giới gia tăng và sản lượng cà phê giảm sút ở Việt Nam, nước trồng
cà phê lớn nhất thế giới. Hãng tin Bloomberg trích lời nhận định của Công ty nghiên
cứu và kinh doanh cà phê Amtrada Holding BV, chủ sở hữu hãng cà phê Nedcoffee
BV tại Amsterdam. Khác với cân bằng cung cầu trong niên vụ 2011-2012, sản lượng
cà phê hạt robusta, được sử dụng chế biến cà phê hòa tan và cà phê espresso trong niên
vụ này sẽ thiếu hụt so với lượng tiêu thụ khoảng 300.000 bao (loại 60kg). Tiêu thụ cà
phê robusta trên toàn cầu sẽ tăng 3% trong niên vụ này, nhanh hơn tốc độ tăng trưởng

2.2.2.2 Diện tích, sản lượng cà phê Việt Nam
Diện tích, năng suất, sản lượng cà phê của Việt Nam biến động mạnh theo diễn
biến của giá cà phê trên thị trường: (xem phụ lục 5, 6,7)
- Giai đoạn từ 1995 – 1999: Diện tích cà phê ở mức dưới 400 nghìn ha, chủ yếu
phát triển ở những vùng đất thuận lợi và giá cà phê xuất khẩu duy trì ở mức trên
1.200USD/tấn, người dân tăng cường đầu tư thâm canh nên năng suất đạt bình quân
trên 22tạ/ha, riêng năm 1997 đạt 24,1 tạ/ha. Sản lượng bình quân đạt 387 nghìn
tấn/năm.
- Giai đoạn 2000 – 2005: Do hiệu ứng tăng giá cà phê của giai đoạn trước, diện
tích cà phê tăng nhanh (trên 550 nghìn ha) và nhiều diện tích phát triển trên những
chân đất không phù hợp, đồng thời giai đoạn này giá cà phê xuống rất nhanh (dưới
1.000USD/tấn, thậm chí các năm 2001, 2002 chỉ đạt bình quân dưới 500USD/tấn),
người sản xuất hạn chế đầu tư thâm canh:về năng suất giảm mạnh: bình quân chỉ đạt
16,7 tạ/ha, giảm 5,3 tạ/ha (24%). Sản lượng bình quân đạt 784 nghìn tấn, tăng 400
nghìn tấn gấp 2 lần so bình quân giai đoạn 1995 - 1999.
15
- Giai đoạn 2006 – 2011: Do giá cà phê tăng trở lại và duy trì ở mức trên
1.200USD/tấn, cùng với mở rộng diện tích, người dân tiếp tục đầu tư thâm canh: Năng
suất được phục hồi năm 2011 đạt bình quân 21,9 tạ/ha (tăng 2,0% so năm 2010); Sản
lượng cà phê năm 2011 đạt khoảng 1.167,9 nghìn tấn tăng 5,0% so với năm 2010. Sản
lượng bình quân cả giai đoạn 2006 - 2011 đạt khoảng 1.025 nghìn tấn/năm, tăng 241
nghìn tấn so bình quân giai đoạn 2000 - 2005.
- Giai đoạn hiện nay năm 2012: diện tích gieo trồng cả nước đạt 614.545 ha
(tăng so với niên vụ trước trên 66 nghìn ha); diện tích cà phê kinh doanh đạt 549.130
ha (tăng so với niên vụ trước trên 35 nghìn ha). Năng suất trung bình cả nước ước đạt
23,20 tạ nhân/ha (tăng so với niên vụ trước 1,6 tạ/ha) và sản lượng đạt 1.273.012 tấn
(tăng so với niên vụ trước khoảng 170 nghìn tấn). (xem phụ lục 8)
So với quy hoạch đến năm 2020 theo Quyết định số 1987/QĐ/BNN-TT của Bộ
Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, thực trạng cho thấy:
- Diện tích cà phê của cả nước hiện nay đã vượt quy hoạch trên 140 nghìn ha.

2.3 Tổng Quan về giao dịch kỳ hạn, và sở giao dịch hàng hóa
2.3.1 Vai trò của giao dịch kỳ hạn
Hiện nay ở các Sở giao dịch hàng hóa trên thế giới, giao dịch hợp đồng kỳ hạn
(giao dịch tương lai) là giao dịch chiếm trị giá đa số trong các giao dịch (khoảng 90%)
trong số các giao dịch khác như giao dịch hợp đồng giao ngay, hợp đồng quyền chọn,
v.v Giao dịch kỳ hạn ngày càng có vai trò quan trọng trong thương mại và trong nền
kinh tế. Hiện nay, thế giới có hơn 50 Sở giao dịch hàng hóa, giao dịch hơn 90 loại hàng
hóa. Hàng hoá phi kim loại hay còn gọi là “hàng mềm” (“soft commodities”) được giao
dịch chủ yếu ở Châu Á, Mỹ Latin. Hàng kim loại phần lớn giao dịch ở London, New
York, Chicago và Thượng Hải. Các hợp đồng năng lượng được tập trung giao dịch ở
New York, London, Tokyo và các nước Trung Đông. Trung Quốc và Mỹ có 03 Sở giao
dịch đứng đầu trong số 10 Sở giao dịch lớn nhất thế giới, Anh có một Sở giao dịch, Nhật
Bản và Ấn Độ mỗi nước có một Sở giao dịch nằm trong số này.
*Duy trì giao dịch kỳ hạn có những vai trò chính như sau:
- Liên kết và tập trung hóa: Sở giao dịch hàng hóa đóng vai trò liên kết và tập
trung các thành phần tham gia trên thị trường lại với nhau (người sản xuất hàng hóa,
người chế biến, người đầu tư,…) thông qua các sản phẩm do Sở giao dịch hàng hóa
cung cấp cho thị trường (giao ngay, hợp đồng kỳ hạn (giao sau), quyền chọn,…).
17

Trích đoạn Doanh thu của số lượng giao dịch cà phê kỳ hạn Nhân tố khách quan Nhân tố chủ quan Về khoa học công nghệ Giải pháp về chính sách
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status