quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn việt nam - Pdf 23

LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hoạt động tín dụng đã và đang là một trong những hoạt động kinh doanh
chính đem lại nguồn thu chủ yếu cho các ngân hàng thương mại. Tuy nhiên, cùng
với việc đem lại thu nhập đáng kể cho ngân hàng thì đây cũng chính là lĩnh vực
mang lại nhiều rủi ro nhất. Rủi ro trong cho vay còn được nhân lên gấp bội, vì ngân
hàng không những phải hứng chịu những rủi ro do những nguyên nhân chủ quan
của mình, mà còn gánh chịu những rủi ro do khách hàng và môi trường kinh doanh
gây ra. Hơn nữa, rủi ro tín dụng có thể gây ra những tổn thất to lớn cho nền kinh tế
vì tính chất lây lan của nó có thể làm rung chuyển toàn bộ hệ thống kinh tế của một
quốc gia và theo phản ứng dây chuyền nó tác động đến hầu hết tất cả các quốc gia
trên toàn thế giới.
Rủi ro tín dụng luôn song hành với hoạt động tín dụng, không thể loại bỏ hoàn
toàn rủi ro tín dụng mà chỉ có thể áp dụng các biện pháp quản trị, phòng ngừa hoặc
giảm thiểu thiệt hại tối đa khi rủi ro xảy ra. Đứng trên quan điểm quản lý toàn bộ
hoạt động ngân hàng nói chung và hoạt động tín dụng nói riêng, một tỷ lệ tổn thất
dự kiến đối với hoạt động tín dụng phải luôn được xác định trong chiến lược hoạt
động chung. Khi ngân hàng kinh doanh với một mức tổn thất thấp hơn hoặc bằng
mức tỷ lệ tổn thất dự kiến thì đó là sự thành công trong lĩnh vực quản trị rủi ro. Để
đạt được điều này, ngân hàng phải bằng nhiều biện pháp tác động đến hoạt động tín
dụng để hạn chế tối đa rủi ro tín dụng nhằm góp phần đạt tới mục tiêu hoạt động tín
dụng an toàn, hiệu quả trong tăng trưởng.
Thực tiễn hoạt động tín dụng tại NHNo&PTNT Việt Nam thời gian qua cho
thấy rủi ro tín dụng của toàn hệ thống chưa được kiểm soát một cách chặt chẽ và
đang có xu hướng ngày một gia tăng. Chính vì vậy, yêu cầu cấp bách đặt ra là rủi ro
tín dụng phải được quản lý, kiểm soát một cách bài bản và có hiệu quả, đảm bảo tín
dụng hoạt động trong phạm vi rủi ro chấp nhận được, giảm thiểu các thiệt hại phát
sinh, tăng thêm lợi nhuận kinh doanh của ngân hàng, góp phần nâng cao uy tín và
tạo ra lợi thế cạnh tranh của NHNo&PTNT Việt Nam. Đây là điều vô cùng quan
trọng giúp ngân hàng đạt được mục tiêu tăng trưởng và phát triển bền vững trong xu
thế hội nhập quốc tế.

5. Kết cấu của đề tài
Bài khóa luận tốt nghiệp bao gồm các nội dung được trình bày theo bố cục ba
chương như sau:
2
- Chương 1: Cơ sở lý luận chung về quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động
của các ngân hàng thương mại
- Chương 2: Cơ chế quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng Nông nghiệp và
Phát triển nông thôn Việt Nam
- Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản trị rủi ro tín dụng tại ngân
hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam
Người viết đề tài xin gửi lời cảm ơn chân thành và lòng biết ơn sâu sắc đến cô
Nguyễn Thị Quỳnh Nga, giáo viên hướng dẫn người viết viết khóa luận này. Em xin
cảm ơn cô vì cô đã tận tâm giúp đỡ em rất nhiều trong việc nghiên cứu và hoàn
thiện nội dung luận văn tốt nghiệp một cách tốt nhất.
Do sự hạn chế kiến thức, thời gian chuẩn bị và tài liệu tham khảo nên khóa
luận tốt nghiệp không thể tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót, mong Thầy/Cô và
người đọc đóng góp ý kiến để khóa luận tốt nghiệp được hoàn chỉnh hơn.
TP. Hồ Chí Minh, tháng 5 năm 2011
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Liên
3
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN
DỤNG
TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
I. Những vấn đề cơ bản về rủi ro tín dụng tại các Ngân hàng thương mại
1. Tìm hiểu chung về NHTM
1.1 Khái niệm
Với việc thi hành Nghị định số 53/HĐBT ngày 26/03/1988 của Hội đồng Bộ
trưởng cùng với pháp lênh ngân hàng 1990 và luật ngân hàng 1998 đã đánh dấu
bước phát triển mới của Hệ thống ngân hàng Việt Nam, từ đây Hệ thống ngân hàng

1.2.2 Trung gian thanh toán và quản lý các phương tiện thanh toán
Ngày nay, khi hoạt động kinh doanh đẩy mạnh sự hợp tác giữa các đối tác
trong nước với các đối tác nước ngoài, dần xuất hiện các giao dịch với khối lượng
thanh khoản vô cùng lớn, thì nhu cầu về thanh toán trung gian qua ngân hàng ngày
được mở rộng. Thông qua phương thức này, đã làm giảm khối lượng tiền mặt lưu
thông và thời gian thanh toán được rút ngắn đến tối đa.
Khi làm trung tâm thanh toán, ngân hàng tạo ra những công cụ lưu thông và
độc quyền quản lý các công cụ đó (séc, thẻ thanh toán…), giúp tiết kiệm chi phí lưu
thông, đẩy nhanh tốc độ luân chuyển vốn, thúc đẩy quá trình lưu thông hàng hóa.
Đặc biệt trong hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu, thông qua thanh toán ngân
hàng bằng L/C, hối phiếu, bảo lãnh… giúp cho các doanh nghiệp trong nước giảm
thiểu rủi ro và nhanh chóng lấy lại tiền hàng để tiếp tục tái kinh doanh [10].
1.2.3 Tạo ra tiền ngân hàng trong hệ thống ngân hàng cấp hai
Kể từ khi có sự phân hoá hệ thống ngân hàng thành NHNN và NHTM thì các
NHTM này không còn giữ chức năng phát hành tiền nhưng thông qua hoạt động
của mình lại thực hiện chức năng tạo tiền cho nền kinh tế.
Sở dĩ thực hiện được điều này là bởi trong hoạt động trung gian thanh toán,
NHTM có khả năng tạo ra tiền ghi sổ (bút tệ) thể hiện trên tài khoản tiền gửi thanh
toán của khách hàng. Thông qua hoạt động tín dụng, ngân hàng lại sử dụng số vốn
huy động được để cho vay, số tiền cho vay lại được khách hàng sử dụng để mua
hàng hoá, dịch vụ, thanh toán… Việc thực hiện đồng thời chức năng huy động, cho
vay cùng với bút tệ đã giúp NHTM tạo tiền cho nền kinh tế. Như vậy, với một
khoản tiền gửi ban đầu, ngân hàng đã tạo ra lượng tiền lớn gấp nhiều lần cho nền
kinh tế [4].
5
Thực hiện chức năng tạo tiền, cho vay không có sự xuất hiện của tiền mặt đã
giúp điều tiết lượng tiền cung ứng phù hợp chính sách ổn định giá cả, tăng trưởng
kinh tế, giảm thất nghiệp, làm tăng tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế
đáp ứng nhu cầu chi trả của xã hội.
2. Tín dụng ngân hàng

thường phải lớn hơn giá trị lúc cho vay. Để tuân thủ theo nguyên tắc này, yêu cầu
ngân hàng phải đưa ra được những quyết định cho vay đúng đắn, định kỳ đánh giá
rủi ro và xếp hạng tín dụng khách hàng [1]. Có như vậy mới đảm bảo được sự tín
nhiệm của khách hàng và đẩy mạnh sự phát triển của ngân hàng theo hướng an
toàn.
3. Rủi ro tín dụng
3.1 Khái niệm
Theo điều 02 quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ban hành ngày 22/04/2005
của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng
để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng nêu rõ:
“Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng là khả năng xảy ra
tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực
hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết” [15].
Đây còn được gọi là rủi ro mất khả năng chi trả hay rủi ro sai hẹn, là loại rủi ro
liên quan đến chất lượng hoạt động quản trị rủi ro tín dụng của ngân hàng.
3.2 Tác động của RRTD
3.2.1 Tác động đến ngân hàng gặp rủi ro
Quan hệ tín dụng được hiểu là quan hệ giữa hoạt động đi vay và cho vay [13].
Khi RRTD xảy ra, ngân hàng không thu được vốn và lãi đúng hạn, trong khi đó
ngân hàng vẫn phải trả đủ vốn và lãi cho khoản vốn huy động đến hạn. Từ khoản
vay không thu được dẫn đến một bộ phận tài sản của ngân hàng bị đóng băng, làm
giảm thu nhập của ngân hàng do không được sử dụng khoản vay này đi tái cho vay
hay đi tái đầu tư. Mặt khác, chi phí thì lại tăng lên do có thêm nhiều chi phí phát
sinh từ khoản nợ xấu này như chi phí gặp gỡ khách hàng, chi phí đòi nợ, chi phí
theo dõi giám sát, chi phí pháp lý đối với các khoản nợ mà ngân hàng không thể đòi
được phải nhờ đến tòa án kinh tế. Điều này sẽ làm mất cân đối trong việc thu chi
của ngân hàng, làm tăng khoản trích lập dự phòng rủi ro, gây ảnh hưởng đến tốc độ
vòng quay vốn tín dụng và làm giảm lợi nhuận của ngân hàng.
RRTD đã làm giảm uy tín của ngân hàng, gây mất niềm tin ở khách hàng. Một
khi tỷ lệ RRTD ngày càng tăng, đến một chừng mực nào đấy, ngân hàng không còn

Biểu đồ 1.1: Tỷ trọng các tiêu chí gây ra rủi ro tín dụng
(Nguồn: [6])
3.3.1 Nguyên nhân từ phía khách hàng
 Sử dụng vốn sai mục đích, không có thiện chí trả nợ
Đây là một trong những nguyên nhân khó kiểm soát nhất hiện nay. Nhiều
doanh nghiệp khi vay vốn ngân hàng đã lập ra các phương án kinh doanh cụ thể,
khả thi và vạch ra kế hoạch hoàn chỉnh để được ngân hàng cấp tín dụng. Tuy nhiên,
đó chỉ là một cách trá hình, trong thực tế nhiều khách hàng đã sử dụng vốn vay sai
mục đích đã cam kết trong hợp đồng tín dụng. Thậm chí có cả trường hợp sau khi
kết thúc chu kỳ kinh doanh, mặc dù có lợi nhuận nhưng khách hàng vẫn cố tình
chây ỳ, không chịu trả nợ nhằm mục đích chiếm dụng vốn ngân hàng và điều này đã
gây khó khăn trong quá trình thu hồi nợ, làm mất nhiều thời gian và chi phí của các
ngân hàng, đôi khi còn làm giảm uy tín của ngân hàng khi có sự can thiệp pháp lý.
 Khả năng quản lý kinh doanh kém, tình hình tài chính thiếu minh
bạch
Theo điều tra sơ bộ về tình hình quản trị tín dụng tại các NHTM Việt Nam cho
thấy nguyên nhân cao nhất dẫn đến RRTD đó là hành vi lừa đảo tinh vi của các
doanh nghiệp đã tạo số liệu ảo trong báo cáo tài chính doanh nghiệp, khai man về
sự tồn tại của tài sản đảm bảo, ngụy tạo uy tín để lợi dụng vay tiền… Điều này xuất
9
phát từ năng lực điều hành quản lý kinh doanh tại các doanh nghiệp còn yếu kém,
quản lý vốn không có hiệu quả gây nên thất thoát vốn cho công ty, từ đó nảy sinh ra
các phương cách lừa đảo để huy động vốn, gây ảnh hưởng đến hoạt động của ngân
hàng đồng thời đã đẩy công ty kinh doanh theo hướng vụ lợi trái pháp luật [14].
3.3.2 Nguyên nhân từ phía ngân hàng
 Lỏng lẻo trong công tác kiểm tra nội bộ
Một số chi nhánh và phòng giao dịch của các NHTM không có bộ phận giám
sát nội bộ, một số nơi công việc kiểm toán nội bộ hầu như chỉ tồn tại trên hình thức,
chưa triệt để và nghiêm túc, do đó vẫn chưa thật sự hiệu quả trong việc QTRRTD.
 Bố trí cán bộ thiếu đạo đức và trình độ chuyên môn nghiệp vụ

3.3.3 Nguyên nhân từ môi trường kinh doanh
Các doanh nghiệp Việt Nam luôn phải chịu sự ảnh hưởng rất lớn từ những
biến động kinh tế xã hội trong và ngoài nước. Khi một nền kinh tế lâm vào tình
trạng suy thoái hay khi tình hình lạm phát tăng cao làm giá cả biến động sẽ đồng
thời làm sức mua của thị trường bị giảm sút, ảnh hưởng trực tiếp đến đầu ra của sản
phẩm, có thể dẫn đến doanh nghiệp bị giảm lợi nhuận hoặc thua lỗ. Hay chỉ cần một
một thông tin sai lệch gây e ngại từ thị trường cũng có thể làm doanh nghiệp mất
doanh thu từ đó không thể thực hiện việc trả nợ cho ngân hàng theo đúng thoả
thuận.
Xu hướng hội nhập khu vực và thế giới hiện nay đang gắn kết nền kinh tế các
nước lại với nhau, mở ra những cơ hội mới cho các doanh nghiệp trong nước hội
nhập và phát triển, tuy nhiên sự cạnh tranh cũng sẽ ngày càng gay gắt. Môi trường
kinh doanh biến động với những thay đổi diễn ra nhanh chóng và khó dự báo một
cách chính xác có thể là thời cơ cũng có thể là nguyên nhân làm khách hàng của
ngân hàng hoạt động không hiệu quả, gián tiếp tác động đến hoạt động của ngân
hàng [6]. Các biến động của tình hình chính trị - quân sự trên thế giới đều có thể
làm ảnh hưởng giá cả các loại nguyên nhiên liệu, đồng thời sự xâm nhập của hàng
hóa, dịch vụ nước ngoài dẫn đến nguy cơ các doanh nghiệp trong nước hoạt động
không hiệu quả, gia tăng rủi ro trong hoạt động tín dụng của Ngân hàng.
3.3.4 Nguyên nhân từ môi trường pháp lý
 Sự kém hiệu quả của cơ quan pháp luật cấp địa phương
Đến nay nhà nước ta đã ban hành nhiều luật, văn bản dưới luật hướng dẫn thi
hành luật liên quan đến hoạt động tín dụng ngân hàng. Tuy nhiên, luật và các văn
bản đã có song việc triển khai vào hoạt động ngân hàng thì lại hết sức chậm chạp và
còn gặp phải nhiều vướng mắc bất cập như một số văn bản về việc cưỡng chế thu
hồi nợ. Những văn bản này đều có quy định: Trong những trường hợp khách hàng
không trả được nợ, NHTM có quyền sử dụng các biện pháp xử lý tài sản đảm bảo
11
nợ vay. Trên thực tế, các NHTM không làm được điều này vì ngân hàng là một tổ
chức kinh tế, không phải là cơ quan quyền lực nhà nước, không có chức năng

Nợ quá hạn là khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và/hoặc lãi đã quá
hạn. Đây là thước đo quan trọng nhất đánh giá sự lành mạnh thể chế. Nó tác động
tới tất cả các hoạt động chính của ngân hàng [2]. Quy định hiện nay của NHNN cho
phép dư nợ quá hạn của các NHTM không được vượt quá 5%, nghĩa là trong 100
đồng vốn ngân hàng bỏ ra cho vay thì nợ quá hạn tối đa chỉ được phép là 5 đồng.
Để có thể đánh giá một cách chính xác về tình hình nợ quá hạn, ngân hàng,
cần phải đánh giá kèm theo chỉ tiêu vòng quay của các khoản nợ quá hạn. Nếu tỷ lệ
nợ quá hạn cao nhưng vòng quay các khoản nợ quá hạn cao thì khả năng ngân hàng
gặp RRTD sẽ thấp và ngược lại ngân hàng sẽ gặp RRTD.
3.4.2 Tỷ lệ nợ xấu/tổng dư nợ cho vay
Nợ xấu là khoản mang các đặc trưng sau:
- Khách hàng đã không thực hiện nghĩa vụ trả nợ với ngân hàng khi các cam
kết này đã hết hạn.
- Tình hình tài chính của khách hàng đang và có chiều hướng xấu dẫn đến có
khả năng ngân hàng không thu hồi được cả gốc lẫn lãi.
- Tài sản đảm bảo (thế chấp, cầm cố, bảo lãnh) được đánh giá là giá trị phát
mãi không đủ trang trải nợ gốc và lãi.
- Thông thường về thời gian là các khoản nợ quá hạn ít nhất là 90 ngày.
Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ là tỷ lệ để đánh giá chất lượng tín dụng của ngân
hàng.
3.4.3 Vòng quay vốn tín dụng
Chỉ tiêu này đo lường tốc độ luân chuyển vốn tín dụng của ngân hàng, cho biết
thời gian thu hồi nợ của ngân hàng là nhanh hay chậm. Vòng quay vốn tín dụng
càng nhanh thì được coi là tốt và việc đầu tư càng được an toàn.
3.4.4 Hệ số rủi ro tín dụng
13
Doanh số thu nợ
Vòng quay vốn tín dụng = × 100%
Dư nợ bình quân
Nếu tỷ lệ này càng cao chứng tỏ khi đó các khoản mục tín dụng chiếm một tỷ

của ngân hàng, mà còn là một nguồn lợi thế cạnh tranh và là một công cụ tạo ra giá
trị, góp phần tạo ra các chiến lược kinh doanh hiệu quả hơn.
2. Chức năng của hoạt động QTRRTD
Dù được thiết kế và vận hành như thế nào đi chăng nữa, hoạt động QTRRTD
luôn phải thực hiện những vai trò và chức năng cơ bản sau:
- Đề ra mục tiêu, kế hoạch chiến lược cho hoạt động tín dụng trong từng năm,
từng giai đoạn, từng thời kỳ; xác định mức rủi ro mà ngân hàng có thể chấp nhận
được, thiết lập các chính sách tín dụng và chính sách QTRRTD.
- Xây dựng các quy chế, hướng dẫn cách thức thực hiện, cách thức đo lường
hiệu quả hoạt động các bộ phận và thực hiện chức năng giám sát đảm bảo việc tuân
thủ các quy định nội bộ, quy định của cơ quan chủ quản và pháp luật hiện hành.
- Tổ chức bộ máy vận hành từ trên xuống dưới, thiết kế công việc cho từng bộ
phận, từng vị trí nhân sự cho phù hợp; kiểm soát các quyết định quan trọng trong
hoạt động tín dụng.
- Nhận diện, đánh giá, đo lường, đề xuất biện pháp xử lý rủi ro, hỗ trợ hoặc
trực tiếp xử lý rủi ro, đồng thời báo cáo với cấp trên và các bộ phận liên quan.
- Đối chiếu và đánh giá kết quả đạt được với kế hoạch mục tiêu đã đề ra.
3. Mô hình QTRRTD tại NHTM
Mô hình QTRRTD chính là hệ thống các mô hình bao gồm mô hình tổ chức
quản trị rủi ro, mô hình đo lường rủi ro và mô hình kiểm soát rủi ro được xây dựng
và vận hành một cách đầy đủ, toàn diện và liên tục trong hoạt động quản trị tín dụng
của ngân hàng [7]. Mô hình QTRRTD phản ánh một cách hệ thống các vấn đề về
cơ chế, chính sách, quy trình nghiệp vụ nhằm thiết lập các giới hạn hoạt động an
toàn và các chốt kiểm soát rủi ro trong một quy trình thực hiện nghiệp vụ; các công
cụ đo lường, phát hiện rủi ro; các hoạt động giám sát sự tuân thủ và nhận diện kịp
thời các loại rủi ro mới phát sinh và các phương án, biện pháp chủ động phòng
ngừa, đối phó một khi có rủi ro xảy ra.
3.1 Mô hình tổ chức quản trị rủi ro tín dụng
3.1.1 Cơ cấu tổ chức bộ máy QTRRTD
Một điểm mấu chốt trong QTRRTD hiệu quả là xây dựng được một cơ cấu tổ

thu hồi như thế nào và danh mục cho vay được quản lý như thế nào. Chính sách cho
vay không nên quá chặt nhưng dù sao vẫn phải đảm bảo các khoản cho vay là đáng
tin cậy và không nằm ngoài các thông số hướng dẫn. Chính sách tín dụng có thể
linh hoạt qua từng thời kỳ.
Một chính sách tín dụng chặt chẽ phải xác định rõ ràng các khía cạnh sau:
16
- Thị trường mục tiêu và khách hàng mục tiêu mà chiến lược đã đề ra.
- Giới hạn tỷ lệ cho vay trên vốn tự có, tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản ngân
hàng, tỷ lệ cho vay trên lượng tiền gửi, tỷ lệ cho vay trung dài hạn bằng nguồn vốn
ngắn hạn, tỷ lệ cho vay trên tài sản bảo đảm; hạn mức đối với từng khách hàng,
nhóm khách hang liên quan, từng ngành nghề kinh doanh, từng khu vực địa lý, từng
loại hình cho vay, loại kỳ hạn cho vay.
- Thu thập thông tin, xác minh, xử lý và sử dụng thông tin cho việc phân tích,
đánh giá rủi ro về khách hàng; quy trình thẩm định tín dụng và tái thẩm định tín
dụng, quy trình thẩm định tài sản đảm bảo; quy định điều kiện về tài sản đảm bảo.
- Thẩm quyền cấp tín dụng và quy trình xét duyệt cho vay; cơ sở định giá cho
vay và các hướng dẫn về phí, lãi phạt trả chậm, lãi phạt trả trước hạn…
- Hướng dẫn cách giám sát, xử lý, thu hồi các khoản vay trong trường hợp
bình thường và đặc biệt.
3.1.3 Quy trình tín dụng
Việc xác lập một quy trình tín dụng và không ngừng hoàn thiện nó đặc biệt
quan trọng đối với một NHTM [12]. Một quy trình tín dụng hợp lý sẽ giúp cho ngân
hàng nâng cao chất lượng tín dụng và giảm thiểu RRTD.
Bước 1: Lập hồ sơ yêu cầu cấp tín dụng
Để có được một quyết định chính xác khi cấp tín dụng, việc tìm hiểu và phân
tích thông tin liên quan đến khách hàng là vô cùng quan trọng. Đây là giai đoạn
hình thành đầy đủ các giấy tờ, văn bản chứng tỏ khách hàng thực sự có nhu cầu về
vốn tín dụng, cũng như chứng minh được tính hợp pháp về nhân thân khách hàng và
tính tự nguyện xin cấp tín dụng của khách hàng.
Tùy thuộc vào loại khách hàng, kỹ thuật cấp tín dụng và quy mô tín dụng mà

NHNN;
- Nguồn cho vay của ngân hàng khi ra quyết định;
- Kết quả thẩm định bảo đảm tín dụng.
Bước 4: Giải ngân
Tùy thuộc vào nội dung các cam kết của hợp đồng, đối tượng và mục đích đi
vay mà nhân viên tín dụng có thể giải ngân theo một trong hai cách sau đây [16]:
18
- Giải ngân là nghiệp vụ cấp tiền thuần túy: ngân hàng cấp tiền cho khách
hàng trong phạm vi mức tín dụng đã ký kết mà không đòi hỏi thêm những điều kiện
khác.
- Giải ngân là quyết định cho vay phụ kèm theo với việc cấp tiền: dựa vào
những điều kiện ràng buộc trong việc giải ngân, ngân hàng có thể từ chối cấp tiền
vay mặc dù đã ký hợp đồng tín dụng nếu khách hàng chưa thực hiện đúng các quy
định hay doanh nghiệp gặp phải vấn đề liên quan đến thuế và chính sách đầu tư.
Bước 5: Giám sát và thanh lý tín dụng
Nội dung của giai đoạn cuối này chủ yếu gồm:
- Giám sát tín dụng: Để kiểm tra việc thực hiên các điều khoản đã cam kết
theo hợp đồng tín dụng.
- Thu nợ: Khách hàng có trách nhiệm và nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng đúng
hạn và đầy đủ như trong cam kết theo hợp đồng. Tùy theo tính chất mà có nhiều
phương pháp thu nợ khác nhau.
- Tái xét tín dụng và phân hạng tín dụng: Ngân hàng tiến hành nghiên cứu, dự
đoán những khả năng đối lập với hiện trạng tài chính của khách hàng, thẩm định
khả năng trả nợ của khách hàng, đánh giá lại năng lực của khách hàng trong lĩnh
vực kinh doanh của họ và cách thức xử lý trong những tình huống mới [7].
3.2 Mô hình đo lường rủi ro
3.2.1 Đánh giá rủi ro và xếp hạng tín dụng
Việc đánh giá rủi ro và xếp hạng tín dụng được thực hiện thông qua hệ thống
xếp hạng tín dụng của ngân hàng. Các thông tin đầu vào để thực hiện đánh giá và
xếp hạng phải đảm bảo tính chính xác, đầy đủ, bản chất và thiết thực. Kết quả xếp

cáo mà khách hàng nộp định kỳ cho ngân hàng, qua mối quan hệ với các khách
hàng khác, thông tin đại chúng, thông tin tín dụng, cơ quan thuế…) hoặc giám sát
tại chỗ (tiếp xúc trực tiếp khách hàng, kiểm tra tình hình tài sản bảo đảm tại cơ sở
sản xuât kinh doanh). Ngân hàng có thể tiến hành giám sát sát định kỳ, thường
xuyên hoặc đột xuất doanh nghiệp sau khi cấp tín dụng. Việc tổ chức giám sát cần
phải được đặc biệt quan tâm. Ngân hàng phải xem xét phân công cán bộ tín dụng
thực hiện công việc giám sát sao cho hợp lý. Sau khi thực hiện giám sát phải có báo
cáo hoặc biên bản về kết quả giám sát trình các cấp quản trị để có những xử lý kịp
thời.
- Phân loại nợ:
Phân loại nợ là phân chia danh mục nợ theo một tiêu chí nào đó. Theo quy
định 493 của NHNN thì hiện tại trong hệ thống ngân hàng có hai cách phân loại nợ
chính là phân loại nợ theo tuổi nợ và theo mức rủi ro các khoản vay đối với tất cả
các khoản vay toàn ngân hàng. Về bản chất, phân loại nợ là nhằm vào mục đích
đánh giá rủi ro của hoạt động cho vay và làm cơ sở để trích lập dự phòng rủi ro chứ
không chỉ dừng lại ở việc thống kê báo cáo cho các cơ quan giám sát ngành [25].
20
Phương pháp phân loại hợp lý nhất đó là phương pháp phân loại nợ theo mức
độ rủi ro của các khoản vay (tức là theo kết quả xếp hạng tín dụng). Phương pháp
này sẽ tập hợp các khoản nợ có cùng mức rủi ro vào cùng một nhóm, như vậy các
khoản vay rủi ro khác nhau sẽ được phân vào các nhóm rủi ro tương ứng. Do vậy,
danh mục phân loại nợ nhạy cảm với rủi ro và phản ánh đúng thực chất hơn về tình
trạng rủi ro của ngân hàng. Theo cách phân loại này, nợ chia làm 5 nhóm như sau:
+ Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm các khoản nợ được tổ chức tín dụng
đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi đúng hạn.
+ Nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm các khoản nợ được tổ chức tín dụng đánh
giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi nhưng có dấu hiệu khách hàng
suy giảm khả năng trả nợ.
+ Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm các khoản nợ được tổ chức tín dụng
đánh giá là không có khả năng thu hồi nợ gốc và lãi khi đến hạn. Các khoản nợ này

- Tài sản đảm bảo của bên đi vay: Đây là đối tượng cần được quản lý phổ biến
nhất trong các hợp đồng cho vay. RRTD lúc này được chuyển thành rủi ro của tài
sản đảm bảo [26]. Giá trị tài sản đảm bảo thay đổi tức là RRTD thay đổi và các tài
sản đảm bảo khác nhau sẽ có sự biến động về giá trị khác nhau, việc đưa ra các biện
pháp để quản lý đối với các loại tài sản này như thế nào là vô cùng quan trọng.Quản
lý tài sản đảm bảo tốt sẽ đóng góp tích cực cho hoạt động QTRRTD của toàn ngân
hàng.
- Bảo đảm của bên thứ ba: Bao gồm mức tín nhiệm và cả tài sản bảo đảm của
bên thứ ba bảo lãnh cho cá nhân, doanh nghiệp, định chế tài chính đi vay. Việc
thẩm định, xếp hạng tín dụng đối với bên thứ ba cũng phải được quan tâm như là
đối với người đi vay. Vì nguồn tiền cuối cùng để bù đắp rủi ro trong trường hợp này
là từ phía người bảo lãnh chứ không phải người đi vay. Nếu người bảo lãnh không
đủ độ tín nhiệm thì việc yêu cầu tài sản đảm bảo từ phía người bảo lãnh cũng là hết
sức chính đáng.
- Các giao kèo: Đây chính là các cam kết, thỏa thuận trước giữa khách hàng
và ngân hàng. Nó có ý nghĩa quan trọng giúp ngân hàng xử lý nhanh trước các tình
huống có nguy cơ gây tổn thất cho ngân hàng mà không cần phải có sự đồng ý của
doanh nghiệp. Giao kèo được xem như một sự bảo đảm cho ngân hàng khi khoản
vay có dấu hiệu rủi ro [6].
3.3 Mô hình kiểm soát rủi ro
Mục đích của việc kiểm tra và giám sát tín dụng độc lập là:
- Ngày càng nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng của ngân hàng, đảm bảo
tuân thủ các chiến lược tín dụng, chính sách phê duyệt tín dụng và cơ cấu dư nợ tín
dụng theo quy định của ngân hàng.
22
- Tài sản đảm bảo nợ vay phải được thực hiện đầy đủ tính pháp lý và phù hợp
với quy định của ngân hàng.
- Các khoản nợ gốc, lãi, phí tiền vay phải được tính và hạch toán đầy đủ.
- Nợ khó đòi/nợ xấu phải được phân loại và dự phòng đầy đủ theo quy định
của pháp luật.

trợ của các tố chức tài chính tín dụng quốc tế như World Bank, Asia Development
Bank, ngân hàng tái thiết Đức… Tiếp nhận và triển khai có hiêu quả 50 dự án nước
ngoài với tổng số vốn trên 1.300 triệu USD, chủ yếu đầu tư vào khu vực kinh tế
nông nghiệp, nông thôn. Ngoài hệ thống thanh toán quốc tế qua mạng SWIFT,
NHNo đã thiết lập được hệ thống thanh toán chuyển tiền điện tử và rút tiền tự động
ATM.
Năm 2001 là năm đầu tiên NHNo triển khai thực hiện đề án tái cơ cấu với các
nội dung chính sách là cơ cấu lại nợ, lành mạnh hoá tài chính, nâng cao chất lượng
tài sản có, chuyển đổi hệ thống kế toán hiện hành theo chuẩn mực quốc tế, sắp xếp
lại bộ máy tổ chức theo mô hình NHTM hiện đại, tăng cường đào tạo cán bộ, tập
trung đổi mới công nghệ ngân hàng, xây dựng hệ thống thông tin quản lý hiện đại.
Năm 2003, NHNo&PTNT Việt Nam đã đẩy nhanh tiến độ thực hiện đề án tái
cơ cấu nhằm đưa hoạt động của ngân hàng phát triển với quy mô lớn chất lượng
hiệu quả cao. Với những thành tích đặc biệt xuất sắc trong thời kỳ đổi mới, đóng
góp tích cực và rất có hiệu quả vào sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của đất nước,
sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp - nông thôn. Chủ tịch nước đã
ký quyết định số 226/2003/QD/CTN ngày 07/05/2003 phong tặng danh hiệu Anh
hùng lao động thời kỳ đổi mới cho NHNo&PTNT Việt Nam.
Đến cuối năm 2005, vốn tự có của NHNo&PTNT Việt Nam đạt 7.702tỷ VND,
tổng tài sản có trên 190 ngàn tỷ, hơn 2.000 chi nhánh trên toàn quốc và 29.492 cán
bộ nhân viên (chiếm 40% tổng số cán bộ công nhân viên toàn hệ thống ngân hàng
Việt Nam), ứng dụng công nghệ hiện đại, cung cấp những sản phẩm, dịch vụ ngân
hàng hoàn hảo… Đến nay, tổng số dự án nước ngoài mà NHNo tiếp nhận và triển
khai là 68 dự án với tổng số vốn 2.486 triệu USD, trong đó giải ngân qua NHNo là
1,5 tỷ USD. Hiện nay Ngân hàng đã có quan hệ đại lý với 932 ngân hàng đại lý tại
112 quốc gia và là thành viên của nhiều tổ chức, hiệp hội tín dụng có uy tín lớn.
Năm 2008 là năm ghi dấu chặng đường 20 năm xây dựng và trưởng thành của
NHNo và cũng là năm có tính quyết định trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế
theo chủ trương của Đảng, Chính phủ. Trong chiến lược phát triển của mình, NHNo
24

25

Trích đoạn Tại Trung tâm thông tin tín dụng tại Trung tâm điều hành NHNo:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status