TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG CHÈ VIỆT NAM - Pdf 23

LỜI NÓI ĐẦU
Hiện nay, trên thế giới xu hướng uống trà ngày càng tăng lên mãnh mẽ do những phát hiện mới ngày
càng nhiều hơn về lợi ích của trà đối với sức khoẻ con người. Tại Việt Nam cây chè không chỉ rất thân
quen gần gũi mà từ lâu thưởng trà, uống trà đã đi vào đời sống người Việt tạo nên một nét đẹp văn hóa
bình dị mà dài lâu. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng hiện nay của đất nước, cây
chè đã vượt ra ngoài biên giới quốc gia, sản xuất và xuất khẩu chè đang ngày càng đóng vai trò quan trọng
và trở thành ngành một trong những ngành xuất khẩu mũi nhọn của cả nước. Đây cũng là khu vực đang
trực tiếp giải quyết việc làm cho hàng triệu lao động cới thu nhập không nhỏ và kích thích, kéo theo hàng
loạt các ngành nghề khác cùng phát triển, đặc biệt là ngành công nghiệp chế biến, tạo ra động lực quan
trọng thúc đẩy các quan hệ kinh tế đối ngoại khác phát triển, thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa-hiện đại
hóa nông nghiệp nông thôn Việt Nam.
Với ưu thế về khí hậu, đất đai thổ nhưỡng, lao động và sự ưa chuộng của thị trường thế giới, Việt
Nam tự hào ghi tên mình trên bản đổ chè thế giới. Hiện nay, Việt Nam đứng thứ 5 thế giới về sản lượng
và kim ngạch xuất khẩu chè. Tuy nhiên, thực tiễn hoạt động sản xuất và xuất khẩu chè của nước ta vẫn
còn tồn tại nhiều bất cập, yếu kém cần khắc phục. Do đó vấn đề phân tích, đánh giá và đề ra những giải
pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của mặt hàng chè Việt Nam là một vấn đề mang tính thời sự cần
thiết. Chính vì lý do này mà nhóm nghiên cứu đã chọn chè là mặt hàng hấp dẫn để phân tích ưu thế cạnh
tranh.
Nhằm đáp ứng yêu cầu của môn học chính sách thương mại quốc tế, và trong khuôn khổ kiến thức
đã học về lý thuyết lợi thế cạnh tranh nhóm chúng em chỉ xin trình bày một đôi nét về khả năng canh tranh
của chè Việt Nam trên thị trường thế giới dựa trên những phân tích cơ bản từ lý thuyết về lợi thế cạnh
tranh quốc gia, lý thuyết Heckscher-Ohlin, lợi thế so sánh biểu hiện…Trong quá trình cập nhật số liệu,
nghiên cứu và phân tích đề tài chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót nhất định, nhóm rất mong nhận
được sự đóng góp và nhận xét từ phía các bạn và đặc biệt là cô giáo giảng dạy bộ môn
Chúng em hy vọng rằng bài viết sẽ cung cấp những tư liệu, thông tin thảm khảo hữu ích cho các bạn
sinh viên đang học môn chính sách thương mại quốc tế, giúp cho bài học trở nên sinh động, thú vị và sát
với thực tiễn hơn.
Nhóm thuyết trình : Nhóm 1- Lớp A12:
1) Nguyễn Hoài An ( 01 )
2) Nguyễn Ngọc Hà ( 09)
3) Lê Thanh Hằng (10)

chất. Từ năm 1990 đến nay, Tổng công ty chè Việt Nam chỉ nhập kho sản phẩm tiêu chuẩn thấp nhất là
loại hai, chính vì vậy chất lượng chè xuất khẩu của Tổng công ty tăng lên đáng kể, thị trường chè Việt
Nam nhờ đó mà được mở rộng do nâng cao được năng lực cạnh tranh trên thương trường quốc tế.
Tuy nhiên hiện nay chất lượng chè Việt Nam còn thấp so với mặt bằng thế giới. Nhìn chung khâu
chế biến chưa giữ gìn và phát huy tính tốt của nguyên liệu, các thông só kỹ thuật bị vi phạm ở nhiều công
đoạn dẫn đến chất lượng sản phẩm chè còn nhiều khuyết tật, số lượng chè bị trả lại cao
1.2 Tình hình xuất khẩu chè Việt Nam
1.2.1 Quy mô xuất khẩu
Quy mô xuất khẩu thể hiện qua khối lượng và kim ngạch tăng với tốc độ khá cao. Với ưu thế về khí
hậu, nguồn tài nguyên đất đai, lao động và sự ưa chuộng của thị trường thế giới, sản xuất chè đã trở thành
tập quán canh tác cùa nông dân Việt Nam và ngày càng khắng định vị trí xứng đáng trong nền kinh tế
quốc dân nói chung cũng như trong sản xuất nông nghiệp nói riêng, đặc biệt là trong hoạt động xuất khẩu.
Năm 2007 tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu chè trên tổng kim ngạch của cả nước là 0,27% đóng góp vào
GDP (71,46 tỷ $) là 0,19%, góp phần quan trọng vào tạo nguồn vốn bằng ngoại tệ để nhập khẩu vật tư
thiết bị phục vụ cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Sang năm 2008, theo thống kê, 6
tháng đầu năm xuất khẩu chè đạt 127,3 triệu USD, với hơn 264.000 tấn chè, tăng 180,43% về trị giá và
72,71% về lượng so cùng kỳ. Giá chè xuất khẩu trung bình 6 tháng đầu năm đạt khoảng 1.312 USD/tấn,
tăng 37% so cùng kỳ. Hiện nay, Việt Nam đứng hàng thứ 5 trên thế giới cả về sản lượng và xuất khẩu.
1.2.2 Cơ cấu thị trường xuất khẩu
Tính đến thời điểm này, sản phẩm chè Việt Nam đã có mặt tại hơn 118 quốc gia và vùng lãnh thổ.
Năm 2005 chiếm 5,74% thị phần chè của thế giới. Năm 2006 con số này là 6,78%. Nhận thức được tầm
quan trọng của công tác thị trường đối với sự ổn định và phát triển của sản xuất và xuất khẩu, nên các
doanh nghiệp đã tổ chức tốt công tác nghiên cứu, xúc tiến thương mại nhằm mở rộng và đa dạng hóa thị
trường xuất khẩu. Bên cạnh đó cơ cấu thị trường tuy đang được thay đổi theo hướng đa dạng hóa nhưng
vẫn tập trung đột phá vào các thị trường trọng điểm như Irac, Pakistan, Đài Loan, Ấn Độ…vốn là những
thị trường lớn hàng năm nhập hơn 2000 tấn chè.
Bảng 1-3: Một số thị trường xuất khẩu chủ yếu của chè Việt Nam năm 2006
Tên nước Tháng 12/06 12 tháng 2006
Lượng (tấn) Trị giá (USD) Lượng (tấn) Trị giá (USD)
Ấn Độ 305 237.857 11.074 8.203.748

/ E w )
Trong đó: E
XA :
là kim ngạch xuất khẩu sản phẩm X của nước A; E
A
:là tổng kim ngạch xuất khẩu
của nước A; E
XW
: là kim ngạch xuất khẩu sản phẩm X của toàn thế giới; Ew: là kim ngạch xuất khẩu của
toàn thế giới. Nếu RCA > 2.5 thì sản phẩm có lợi thế so sánh rất cao;RCA nằm trong khoảng 1 đến 2.5 thì
sản phẩm có lợi thế so sánh;RCA < 1 thì sản phẩm bất lợi thế so sánh.
2.1.2 Thị phần
- Thị phần nói lên độ lớn của thị trường và vai trò, vị trí của quốc gia. Khi dung lượng thị trường
đang lên mà phần thị trường của quốc gia không thay đổi tức là thị trường đã nằm ngoài vòng kiểm soát
hay một phần của thị trường đã rơi vào đối thủ cạnh tranh cho nên các DN của quốc gia cần phải xem xét
lại chiến lược kinh doanh của mình để mở rộng thị trường hiện tại, có giải pháp lôi kéo các đối tượng tiêu
dùng tương đối, đối tượng không thường xuyên, lôi kéo khách hàng từ thị trường của đối thủ cạnh tranh
với mình.
- Công thức tính:
Thị phần =( Kim ngạch XK sản phẩm của quốc gia) / ( Tổng kim ngạch XK sản phẩm của toàn thế giới)
2.2 Một số lý thuyết về năng lực cạnh tranh
2.2.1 Lý thuyết H-O ( Heckscher-Ohlin)
- Mặt hàng X được coi là có hàm lượng lao động cao nếu :
L
X
/ K
X
> L
Y
/ K

- Khối kim cương: Hình 2-1: Khối kim cương của M. Porter
III) ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA MẶT HÀNG CHÈ XUẤT KHẨU VIỆT
NAM
3.1 Đánh giá theo chỉ số định lượng
3.1.1 Đánh giá theo chỉ số RCA
Bảng 3-1: Chỉ số RCA mặt hàng chè của một số nước trên thế giới năm 2007
STT Tên nước KN XK chè (triệu USD) Tổng KN XK (triệu USD) RCA
1. Kenya 428,3 4054 822,16
2. SriLanka 359,6 8139 343,84
3. Ấn Độ 181,9 150800 9,39
4. Indonesia 143,9 118000 9,49
5. Việt Nam 130,0 48070 21,05
Thế giới 1800,3 14010000
(Tổng hợp từ nhiều nguồn và tính toán cả nhóm nghiên cứu)
Nếu căn cứ vào hệ số lợi thế so sánh biểu hiện RCA thì sản phẩm chè xuất khẩu của Việt Nam có
năng lực cạnh tranh tương đối tốt trên thị trường thế giới. Năm 2007, so với các quốc gia xuất khẩu chè
chủ yếu thì hệ số RCA của Việt Nam đứng thứ 5 (xem bảng 3-1). Tuy nhiên, đối với Kenya và SriLanka
thì hệ số RCA chưa phản ánh chính xác lợi thế so sánh của 2 nước này vì nền kinh tế 2 quốc gia này dựa
quá nhiều vào ngành chè nên tỷ trọng xuất khẩu chè trong tổng kim ngạch xuất khẩu (KN XK)lớn là điều
dễ hiểu.
3.1.2 Đánh giá theo " Thị phần "
- "Thị phần" năm 2007
Bảng 3-2: Thị phần của một số nước xuất khẩu chè trên thế giới nửa đầu năm 2008
STT Nước Thị phần (%)
1 Sri Lanka 20
2 Kenya 20
3 Trung Quốc 17
4 Ấn Độ 13
5 Việt Nam 7
Chiến lược, cơ cấu và môi

lượng lao động và dân số đông chưa hẳn là yếu tố có lợi tuyệt đối trong cạnh tranh.
3.2.2 Đánh giá theo mô hình kim cương
Năm KNXK chè của VN ( triệu USD ) Thị phần của VN ( %) Thị phần của SriLanka ( %)
2005 96.9 5,7% 11.2 %
2006 110,5 6.2% 12.6%
2007 130 6.8% 15.9%


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status