Nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh thái và kỹ thuật trồng cây hương bài nhằm mục đích cung cấp nguyên liệu sản xuất hương và nâng cao hiệu quả sử dụng đất - Pdf 23

Nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh thái và kỹ thuật trồng cây hương
bài nhằm mục đích cung cấp nguyên liệu sản xuất hương và nâng cao
hiệu quả sử dụng đất

Lê Nguyễn Kiều Nhị Trang 1 PHẦN MỞ ĐẦU

1. Lí do chọn đề tài
Nghi thức dâng hương là tập quán mà hầu như mọi người bất kể lứa tuổi nào và
sống ở nơi đâu trên đất nước Việt Nam đều biết đến. Nén hương đã đi vào đời sống
văn hóa, tín ngưỡng của người Việt Nam nói chung và người Huế nói riêng như một
nét đẹp truyền thống, gần gũi và thiêng liêng. Qua nhiều thời gian hình thành và phát
triển các làng nghề sản xuất hương ngày càng hoạt động tốt. Và việc trồng cây Hương
Bài trên vùng đất gò đồi để làm nguyên liệu sản xuất hương mang lại hiệu quả kinh tế
xã hội rõ rệt. Tạo công ăn việc làm, tăng thêm thu nhập đáng kể cho người dân. Cung
cấp ổn định nguyên liệu sạch có chất lượng cho ngành sản xuất hương (nhang) trên
địa bàn và tạo việc làm từ nghề làm hương thắp cho nhiều người.
Bên cạnh đó, trong những năm gần đây, người dân có xu hướng thích dùng
những sản phẩm thực phẩm, dược phẩm, mỹ phẩm có nguồn gốc từ tự nhiên, không
độc hại. Do vậy, những loại cây cho tinh dầu quý, có tính ứng dụng cao trong nhiều
lĩnh vực sản xuất và đời sống đã được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu khai
thác và chế biến nhằm nâng cao giá trị sử dụng của chúng. Một trong những loại
nguyên liệu để sản xuất tinh dầu đang được các nhà khoa học trên thế giới và ở Việt
Nam quan tâm là cây hương bài.
Cây hương bài vừa là nguyên liệu chính để làm hương, sản xuất tinh dầu và là
loại cây có thể giảm nhẹ thiên tai, bảo vệ môi trường. Không có nhiều loài cây vừa
độc đáo, đa năng, vừa kinh tế, hiệu quả, thân thiện với môi trường, lại đơn giản như
cây cỏ Vetiver. Do bộ rễ phát triển mạnh nên quần thể cây hương bài là một hàng rào
bảo vệ hiệu quả, cỏ Hương bài (vetiver) còn có thể giải phóng được năng lượng từ

Bài tiểu luận này được phân tích, đánh giá dựa trên những vấn đề tiêu biểu đi từ
chi tiết hóa đến khái quát tổng hợp, đặt vấn đề trong mối liên hệ tác động qua lại và
trong một tiến trình phát triển, phân tích tổng hợp tài liệu và qua tìm hiểu đặc điểm
hình thái, sinh thái và kỹ thuật trồng cây hương bài nhằm đánh giá mục đích cung cấp
nguyên liệu và nâng cao hiệu quả sử dụng đất.
5. Nguồn tư liệu sử dụng
Nguồn tư liệu được sử dụng trong bài tiểu luận này chủ yếu được kế thừa và
khai thác trên các nguồn như sau:
- Nguồn tài liệu bằng Tiếng Việt rất quan trọng và giúp ích nhiều cho quá trình
nghiên cứu, đây là nguồn tư liệu quan trọng.
- Các bài viết của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước công bố trên các tạp
chí chuyên ngành, kỷ yếu tọa đàm, hội thảo, hội nghị khoa học.
Nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh thái và kỹ thuật trồng cây hương
bài nhằm mục đích cung cấp nguyên liệu sản xuất hương và nâng cao
hiệu quả sử dụng đất

Lê Nguyễn Kiều Nhị Trang 3

- Các công trình của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước được các nhà xuất
bản hoặc các viện, trung tâm nghiên cứu ở Việt Nam xuất bản.
- Các thông tin trên một số trang web đáng tin cậy nhằm đảm bảo tính chính
xác của thông tin đưa ra.
6. Bố cục tiểu luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung chính
của bài tập lớn gồm ba chương.
CHƯƠNG 1: ĐẶC ĐIỂM SINH THÁI, HÌNH THÁI VÀ KỸ THUẬT
TRỒNG CÂY HƯƠNG BÀI

CHƯƠNG 2: QUÁ TRÌNH SẢN XUẤT HƯƠNG


0
C, nhiệt độ
tháng lạnh nhất trung bình là 50
0
C, nhiệt độ tối thiểu tuyệt đối là -15
0
C. Khi mặt đất
đóng băng, cỏ sẽ chết. Nhiệt độ mùa hè nóng 25
0
C sẽ kích thích cỏ phát triển nhanh,
sự sinh trưởng thông thường bắt đầu ở nhiệt độ hơn 12
0
C. Cỏ Vetiver có sức chịu
đựng đối với sự biến động khí hậu cực kỳ lớn như hạn hán kéo dài, lũ lụt, ngập úng.
Khả năng chịu ngập úng kéo dài đến 45 ngày ở luồng nước sâu 0,6-0,8m và chịu được
biên độ nhiệt từ -10
0
C đến 48
0
C.
Cỏ Vetiver cần lượng mưa khoảng 300mm, nhưng trên 700mm, có lẽ thích hợp
hơn để cỏ tồn tại suốt thời gian khô hạn, thông thường cỏ Vetiver cần một mùa ẩm ướt
ít nhất 3 tháng, lý tưởng nhất là có mưa hàng tháng.
Cỏ Vetiver phát triển tốt ở điều kiện ẩm hoặc ngập nước hoàn toàn trên 3
tháng. Tuy nhiên, chúng cũng sinh trưởng tốt ở điều kiện khô hạn nhờ hệ thống rễ
đâm ăn sâu vào đất nên cỏ Vetiver có thể chịu đựng được khô hạn và trên các triền
dốc.
Cỏ Vetiver là loại cây C4 nên chúng thích hợp trong vùng có lượng ánh sáng
cao. Loài này phát triển yếu dưới bóng râm, khi bóng râm được bỏ đi thì cỏ sẽ phục
hồi sinh trưởng rất nhanh.

Cấu tạo giải phẩu của rễ cây Hương bài

Nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh thái và kỹ thuật trồng cây hương
bài nhằm mục đích cung cấp nguyên liệu sản xuất hương và nâng cao
hiệu quả sử dụng đất

Lê Nguyễn Kiều Nhị Trang 7

1.1.2. Đặc điểm hình thái thân:
Cây có dạng thân thảo, phân đốt. Phần gốc thân có khả năng hóa gỗ và cứng.
Cây mọc thành khóm (bụi), phần thân khí sinh mọc thẳng đứng, có chiều cao từ 1,5-
2m, không phân nhánh. Từ các mấu ở gốc có các nhánh nhỏ. Mấu của thân thường
nhẵn, không có lông, lồi ra ở ranh giới giữa các đốt. Từ mấu đó của thân hình thành
các rễ phụ, chồi phụ khi được chôn vùi vào đất.
Về giải phẫu, thân cây Hương bài có cấu tạo điển hình của thân cây họ lúa,
trong đó lớp biểu bì mỏng, phần cương mô nằm dưới biểu bì xếp hàng hình vòng cung
tương đối dày. Các tế bào nhu mô cơ bản có hình đa giác, vách mỏng, kích thước lớn
dần từ ngoài vào, các bó dẫn sắp xếp tản mạn trong khối nhu mô cơ bản. Một bó dẫn
gồm có lớp tế bào cương mô có vách dày bao xung quanh bó dẫn, bên trong có mạch
thông, quản bào, các tế bào libe. Nhờ những cấu trúc như vậy nên thân Hương bài có
khả năng dẫn truyền vật chất rất tốt. Thân cây Hương bài

nhiều nhánh, các nhánh sắp xếp thành 8-12 vòng xoắn ốc, mỗi vòng có 6-12 nhánh,
trên mỗi nhánh có 10-20 hoa. Một bông có 600 -1500 hoa.
Hoa thụ phấn nhờ gió, quá trình thụ tinh ít xảy ra, nên khả năng tạo hạt kém.
Thời gian trổ hoa từ tháng 6 đến tháng 11.
Nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh thái và kỹ thuật trồng cây hương
bài nhằm mục đích cung cấp nguyên liệu sản xuất hương và nâng cao
hiệu quả sử dụng đất

Lê Nguyễn Kiều Nhị Trang 9

1.1.5. Đặc điểm hình thái hạt
Quả mọng, khi chín có màu tím sẫm, hay màu xanh đen, hình cầu, đường kính
từ 8 - 9 mm, có 1 - 3 hạt, mùa hoa từ tháng 4 đến tháng 5. Hạt của cây Hương bài
được quan sát dưới kính lúp sau trổ hoa 30 ngày. Ở thời điểm này thì hai mảnh vỏ có
màu nâu sẫm, cứng và giòn nên khi muốn tách ra để quan sát thì phải ngâm vào trong
nước một thời gian để vỏ mềm ra.
Bên trong hạt không có nội nhũ, chỉ còn lại hai tua nhụy cái đã khô có màu nâu
đậm, có rất ít hạt còn sót lại bao phấn bên trong vỏ ở hạt 25 ngày sau khi trổ. Bên
trong vỏ hoàn toàn trống rỗng, chỉ có mô mềm mà nhụy cái đính lên.
Khi nghiền nát tất cả những bộ phận bên trong hạt và nhuộm với dung dịch
lugol thì thấy không có xuất hiện màu xanh đặc trưng của phản ứng với tinh bột. Qua
đây chúng tôi có thể rút ra kết luận là hạt của Hương bài không chứa nội nhũ như hạt
lúa hoặc như mô tả của Watson và Chomchalow.

Hình ảnh hoa Hương bài mọc thành cụm,
quả khi chưa chính có màu xanh lá cây
(Tại trung tâm Tứ Hạ thuộc trường Đại
học Nông lâm, Đại học Huế)
Hình quả khi chưa chính có màu tím
(Tại trung tâm Tứ Hạ thuộc trường Đại

trên 100 cấu tử được nhận dạng mà chủ yếu là các thành phần chất thơm có giá trị, có
nhiệt độ bay hơi cao (như: khusimol, spathulenol, terpinen-4-ol, khusimone,
valerenol, vertiven, furfurol, các axít vetivenic- benzoic dưới dạng ete của
vetivenol…) nên được sử dụng làm chất định hương cho các tổ hợp hương liệu cho
thực phẩm và nước hoa cao cấp. Và nó có đặc tính kháng khuẩn, kích thích tuần
Nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh thái và kỹ thuật trồng cây hương
bài nhằm mục đích cung cấp nguyên liệu sản xuất hương và nâng cao
hiệu quả sử dụng đất

Lê Nguyễn Kiều Nhị Trang 11

hoàn, giúp cân bằng thần kinh, giảm stress và phục hồi trí nhớ… nên được sử
dụng nhiều trong dược phẩm. Rễ hương bài tươi có độ ẩm từ 45-55%, còn lại là các
chất khô. Trong thành phần chất khô, tinh dầu (chiếm từ 1-3%) là thành phần quan
trọng nhất tạo nên giá trị cao cho cỏ hương bài. Ngoài ra, theo nhiều tài liệu tham
khảo, trong rễ hương bài khô còn có các chất khác như xenluloza 80-89%, tinh bột 2-
5%, protein 2-7%, đường 1-4%, chất béo 0,5-2%, và một lượng rất ít các chất khoáng,
chất màu, vitamin…Hàm lượng và chất lượng của tinh dầu rễ cỏ hương bài dao động
từ 1-3% tuỳ thuộc vào giống, khí hậu và thổ nhưỡng. Tuỳ theo từng loại đất khác
nhau mà hàm lượng tinh dầu thu được cũng khác nhau, nếu được trồng ở vùng đất sét
thì hàm lượng và chất lượng tinh dầu sẽ cao hơn.
Hơn nữa, trồng cây hương bài sẽ giúp chống sạt lỡ đất hai bên bờ sông.
Ở Việt Nam, từ năm 2001, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Bộ Giao thông
Vận tải đã quyết định cho phép sử dụng cỏ Vetiver vào các mục đích giảm nhẹ thiên
tai, chống sạt lở các công trình giao thông công cộng. Với những ưu điểm: hiệu quả
cao, chi phí thấp, áp dụng đơn giản, thân thiện với môi trường, cỏ vetiver đã trở thành
sự lựa chọn để giảm nhẹ bất lợi của thiên tai ở Việt Nam. Chưa kể, làm kè bằng đá
hộc, bê-tông, phải khai thác, vận chuyển nguyên liệu từ xa đến. Khi xây bờ kè, phải
đào đắp nên thải một lượng lớn đất xuống sông, làm thay đổi dòng chảy, gây trầm
trọng thêm vấn đề thiên tai. Mặt khác, bê-tông mảng phủ lên lõi đất cát, rất dễ gãy vỡ

cao khoảng 30cm; độ dài tốt nhất là 10 – 15m,
có thể thay đổi tùy độ dài của vườn. Hai luống
cách nhau từ 20 -30cm.
Nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh thái và kỹ thuật trồng cây hương
bài nhằm mục đích cung cấp nguyên liệu sản xuất hương và nâng cao
hiệu quả sử dụng đất

Lê Nguyễn Kiều Nhị Trang 13

5.2.2. Kỹ thuật tạo giống
5.2.2.1. Tạo giống bằng hạt
Sau khi thu hoạch quả chín, ngâm quả trong nước 2 sôi 3 lạnh 48 giờ, đem quả
ra xát sạch vỏ lấy hạt ủ, hàng ngày rửa chua một lần, ủ đến khi hạt nẩy mầm đem hạt
ra gieo lên luống, khi cây cao từ 20 - 25 cm thì đem trồng (Phương pháp này ít làm vì
tốn công và nhiều thời gian).
5.2.2.2. Tạo giống bằng phương pháp giâm om
Giâm hom là một phương pháp nhân giống vô tính có nhiều ưu điểm như: có
hệ số nhân giống cao, đảm bảo chất lượng, giữ được đặc tính di truyền của cây mẹ,
đáp ứng đủ và kịp thời cho việc sử dụng một lượng lớn cây giống trên qui mô lớn.
Sau khi thu hoạch rễ ta lấy đoạn thân cách gốc 10 cm trở lên, cắt hom phải đảm
bảo có từ 2 - 3 mắt, khi cắt hom không giập nát, mỗi cây chỉ lấy từ 3 - 4 hom. Thời
gian giâm hom trong vườn ươm từ 50 - 70 ngày là có thể xuất vườn.
Nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh thái và kỹ thuật trồng cây hương
bài nhằm mục đích cung cấp nguyên liệu sản xuất hương và nâng cao
hiệu quả sử dụng đất

Lê Nguyễn Kiều Nhị Trang 14

Lê Nguyễn Kiều Nhị Trang 15

Sau khi trồng 2 tháng tiến hành chăm sóc đợt 1 làm cỏ, xới vun gốc, mỗi năm
nên chăm sóc từ 2 - 3 lần. Không cho gia súc vào vườn sau khi trồng, thường xuyên
kiểm tra đề phòng mối gây hại cây.
5.2.4. Thu hoạch và bảo quản
Nếu trồng vào vụ xuân thì tháng 12 thu hoạch. Nếu trồng vụ thu thì cuối năm
sau thu hoạch. Trường hợp chưa có thị trường thì có thể để năm sau thu hoạch cũng
được.
Khi thu hoạch dùng cuốc hoặc thuổng trọc quanh gốc cây rồi nhổ toàn bộ rễ,
đập sạch đất rồi dùng dao sắc cắt sát gốc, rửa sạch, phơi khô cho vào bao tải để nơi
thoáng mát, khô ráo.
Thu hoạch rễ vừa mới nhổ lên đem rửa sạch thật nhanh rồi đem phơi
khô dưới bóng râm, phơi ngoài trời nắng tinh dầu sẽ bay hơi mạnh. Thời gian bảo
quản rễ tốt nhất từ 1 - 3 tháng sau thu hoạch, nếu bảo quản trong kho có điều kiện tốt
thì cũng không quá 6 tháng. Thời gian kéo dài quá 3 tháng chất lượng tinh dầu có tốt
hơn nhưng hàm lượng thì giảm nhiều và thời gian chưng cất cần phải kéo dài làm
giảm hiệu quả kinh tế. Nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh thái và kỹ thuật trồng cây hương
bài nhằm mục đích cung cấp nguyên liệu sản xuất hương và nâng cao
hiệu quả sử dụng đất

Lê Nguyễn Kiều Nhị Trang 16

CHƯƠNG 2: QUÁ TRÌNH SẢN XUẤT HƯƠNG

2.1 Thực trạng của sản xuất hương
Từ rất xa xưa cây hương bài mọc hoang dã ở ngoài rừng, các thế hệ cha anh

Quá trình chế biến tỉ mỉ cẩn thận mới có
được.
Quy trình sản xuất bột hương bài
Bên cạnh rể cây hương bài là nguyên liệu chính còn có các nguyên liệu như cây
tre đủ loại, cây để chẻ làm chân nhang, gỗ trầm, bạch đàn, cây quế , phẩm vàng, phẩm
đỏ xanh, đen để nhuộm chân nhang, giấy bao nhang. Và dụng cụ làm nhang rất giản
dị. Làm nhang thường hay nhang ma, nhang đất chỉ cần cái bàn dài, mấy chậu sành và
một cái bàn tròn bằng cây hay bằng tôn làm nhang thơm hay nhang thẻ thì dùng thêm
một miếng ván cây nhỏ có núm để cầm và dùng để lăn nhang. Nếu làm nhang vòng
thì có một cái khuôn bằng cây gỗ phẳng, trên có đục một rãnh hình cái nhang vòng
xoáy trôn ốc, lớn nhỏ tùy theo cỡ nhang dự định làm.
Nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh thái và kỹ thuật trồng cây hương
bài nhằm mục đích cung cấp nguyên liệu sản xuất hương và nâng cao
hiệu quả sử dụng đất

Lê Nguyễn Kiều Nhị Trang 18

Có ba loại nhang là nhang đất, nhang thẻ và nhang vòng cho nên cách thức làm
hơi khác nhau, nhưng trừ lối làm hương vòng còn đối với hai loại nhang nén thì có
công việc chính là chẻ chân nhang, làm bột nhang, làm mình nhang, bó nhang và đóng
thẻ.
2.2.1. Quy trình sản xuất hương đất
Chẻ chân nhang
Việc đầu là phải chẻ chân nhang. Chân nhang làm bằng tre, nứa, cần lựa thứ tre
nào dầy như tre tầm vong chẳng hạn và cây tre phải không non quá và cũng không già
quá. Cây tre mua về đem cưa ra từng đoạn ngắn bằng cây nhang đoạn dùng dao sắc
mà chẻ ra thành thanh nhỏ, ( đem ngâm nước rồi phơi khô để nhang cháy đượm). Sau

nước lạnh vào đống hồ thứ nhất, nhúng vào bột xong bỏ ra ngay và rũ cho rơi bớt bột
xuống bàn đồng thời phải cầm tách các cây nhang ra cho khỏi dính chùm vào nhau
nhúng vào bột, kéo ra, rũ bột, đến khi nào không thấy nước ngấm ra ngoài cây nhang
nữa là được. Đem để nắm nhang ấy lên giá gác cho khô rồi lấy nắm khác mà nhúng
bột. Thường thương nhúng luôn một muôn cái chân, rồi lúc này lấy nắm đã nhúng
nước, nhúng bột đầu mà nhúng lại vào nước lạnh, đoạn đem vùi vào đống bột thứ hai
(có một nửa bột hồ, một nửa bột áo). Lần này ở cây tre nhang đã có bột hương bài rồi,
gặp nước sẽ có thể rời ra, nên phải cầm đầu cây nhang tách ra một chút, và nhúng
xuống nước cũng nên lấy ra ngay đoạn đem vùi nhang vào đống bột thứ 3 (có 1 phần
bột hồ và 2 phần bột áo). Lần này nên cầm xòe chân nhang ra như cái quạt, rồi để nằm
xuống bàn mà rắc bột đống số 3 lên, xong nắm chụm tre lại mà rũ bột thừa đã bám
vào nhang, nhúng xong đem gác lên giá, phên mà phơi cho khô. Cái chân tre nhúng
được 3 lần nước, 3 lần bột thì lớn bằng chiếc đũa, nhưng bột thoa chưa được chặt,
phảin lăn thì nó mới se mình lại. Khi làm nhang ma, nhang đất rẻ tiền thì phải lấy một
cái thùng đựng đinh cũ, hoặc kiếm cái thùng bằng tôn, kẽm, sắt tây có đáy cao độ 40
phân. Đem xếp nhang, đầu xuống đáy thùng, để thùng nằm ngang xuống, rồi lấy tay
mà lăn đi lăn lại để cho nhang mới làm xong được chắc mình lại. Lăn độ 15, 20 phút,
đoạn đem để lên giàn mà phơi nắng cho khô. Nhang này được xếp thành ó 200 cây để
bán.
2.2.2. Quy trình sản xuất hương (nhang) thẻ
Nhang ma, nhang đất không thơm lắm, vì không có bỏ hương gì trong nhang ấy
cả. Nhang đất để không mà bán chứ không cần bỏ vào bao.
Nhang thơm là loại nhang trong có trộn gỗ thơm như trầm, bặch đàm, quế chi,
thường thứ nhang này đựng trong bao hay thẻ, mổi bao có 60 cây, nên người ta gọi là
nhang thẻ.
Nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh thái và kỹ thuật trồng cây hương
bài nhằm mục đích cung cấp nguyên liệu sản xuất hương và nâng cao
hiệu quả sử dụng đất

Lê Nguyễn Kiều Nhị Trang 20

bài nhằm mục đích cung cấp nguyên liệu sản xuất hương và nâng cao
hiệu quả sử dụng đất

Lê Nguyễn Kiều Nhị Trang 21 Cơ sở sản xuất hương (nhang) và quán tại làng hương Trường Đá, TP Huế Nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh thái và kỹ thuật trồng cây hương
bài nhằm mục đích cung cấp nguyên liệu sản xuất hương và nâng cao
hiệu quả sử dụng đất

Lê Nguyễn Kiều Nhị Trang 22

CHƯƠNG 3: NÂNG CAO HIỆU QUẢ
SỬ DỤNG ĐẤT NHỜ CÂY HƯƠNG BÀI (VETIVER)
3.1. Cơ sở khoa học
Không có nhiều loài cây vừa độc đáo, đa năng, vừa kinh tế, hiệu quả, thân thiện
với môi trường, lại đơn giản như cây cỏ Vetiver. Không có nhiều loài cây đã từng
được sử dụng một cách lặng lẽ từ hàng trăm năm nay, rồi bỗng nhiên được phổ biến,
ứng dụng rộng rãi và nhanh chóng đến vậy trong vòng 20 năm trở lại đây trên khắp
thế giới, như cây cỏ Vetiver. Và chắc cũng không có nhiều loài cây được đặt cho
nhiều cái tên thân thương,trìu mến như cây cỏ Vetiver: nào là “cây cỏ lý tưởng”, “cây
cỏ độc đáo”, “cây cỏ thần diệu”, “cây cỏ đa năng”v.v., rồi thì “bức tường sống”,
“hàng rào sống”, “neo đất sống” v.v.
Nếu trồng đúng cách, cỏ Vetiver có thể mọc trên rất nhiều loại đất và trong rất

Cỏ Vetiver có thể chịu nồng độ thuốc trừ sâu, thuốc trừ cỏ cao.
Cỏ Vetiver có thể phân hủy một số hợp chất hữu cơ liên quan với thuốc trừ sâu,
thuốc trừ cỏ.
Cỏ Vetiver có khả năng phục hồi rất nhanh sau khi bị ảnh hưởng của hạn hán,
giá lạnh, cháy, nhiễm mặn và những điều kiện bất thuận khác sau khi những điều kiện
này kết thúc.
3.3. Nâng cao hiệu quả sử dụng đất bằng cỏ Hương bài (Vetiver)
Với những đặc điểm hình thái và sinh lý kỳ diệu như đã nói ở trên, cỏ Vetiver
đã được sử dụng rất thành công trong phục hồi và cải tạo đất. Ở Việt Nam, hầu hết
kinh nghiệm ứng dụng hệ thống cỏ Vetiver trong canh tác nông nghiệp trên đất dốc
đều được đúc kết từ “Dự án trồng sắn” do Quỹ Nippon Foundation tài trợ cho các
nước Trung Quốc, Thái Lan và Việt Nam trong giai đoạn 1994-2003. Phần dự án ở
Việt Nam do Đại học Nông lâm Thái Nguyên, Viện Nông hóa Thổ nhưỡng và Viện
Nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh thái và kỹ thuật trồng cây hương
bài nhằm mục đích cung cấp nguyên liệu sản xuất hương và nâng cao
hiệu quả sử dụng đất

Lê Nguyễn Kiều Nhị Trang 24

Khoa học Nông nghiệp Việt Nam phối hợp thực hiện. Dự án được triển khai cùng với
nông dân miền núi các tỉnh Yên Bái, Phú Thọ, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Thừa
Thiên-Huế và Tây Nam Bộ.
3.3.1.Hiệu quả giữ đất

Áp dụng các biện pháp giữ đất là nhằm ngăn chặn hoặc giảm nhẹ hiện tượng
xói mòn, rửa trôi do nước hoặc do gió gây nên.
Để ngăn chặn, giảm nhẹ xói mòn, rửa trôi trước hết cần bảo vệ lớp đất mặt bằng một
lớp phủ thực vật, không để các hạt đất bị rã ra dưới tác động của nước hoặc gió.
Tiếp theo, khả năng gây xói mòn, rửa trôi của nước hay gió tỷ lệ thuận với tốc độ
nước chảy hoặc gió thổi. Do vậy, nguyên lý giữ đất chủ yếu là giảm tốc độ nước hoặc

cho đất, nhất là đối với lớp đất trên cùng.
3.3.2. Thiết kế và khuyến nông
Kinh nghiệm trồng
cỏ Vetiver chống xói mòn
chỉ ra rằng người nông dân
phải tính toán, xem xét
nhiều mặt trước khi quyết
định có sử dụng cỏ Vetiver
hay không và sử dụng như
thế nào. Kết quả điều tra
một số người dân “ưa” thử
nghiệm (họ thường được
các dự án hỗ trợ một phần)
cho thấy họ thích bón thêm
phân hóa học và trồng các
loại cây cải tạo giống.
Trong khi đó ý kiến về hệ
thống cỏ Vetiver như là
biện pháp giữ đất và nước
chủ yếu còn khá tản mạn.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status