Học viện tài chính Luận văn Cuối khóa
LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng em.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực, xuất phát từ tình
hình thực tế của đơn vị thực tập.
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Lan Hương
Nguyễn Thị Lan Hương Lớp: CQ46/11.01
Học viện tài chính Luận văn Cuối khóa
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Nguyễn Thị Lan Hương Lớp: CQ46/11.01
Học viện tài chính Luận văn Cuối khóa
LỜI NÓI ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường, bất kỳ doanh nghiệp nào muốn tiến hành
hoạt động sản xuất kinh doanh, đòi hỏi phải có một lượng vốn lưu động nhất
định như một tiền đề bắt buộc. Vốn lưu động có vai trò đặc biệt quan trọng,
ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình sản xuất kinh doanh cũng như hiệu quả kinh
doanh của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế mở
với xu thế quốc tế hóa ngày càng cao và sự cạnh tranh trên thị trường ngày
càng mạnh mẽ nên nhu cầu vốn lưu động của hoạt động sản xuất kinh doanh
cho sự đầu tư và phát triển ngày càng lớn. Tuy nhiên, khả năng tạo lập và huy
động vốn của doanh nghiệp lại bị hạn chế. Vì thế nhiệm vụ đặt ra đòi hỏi các
doanh nghiệp phải sử dụng vốn lưu động cho hiệu quả nhất trên cơ sở tôn
trọng nguyên tắc tài chính, tín dụng và chấp hành pháp luật.
Những năm qua, kinh tế thị trường luôn biến động. Các doanh nghiệp
nước ta phải đương đầu với nhiều khó khăn và thử thách lớn. Để tồn tại và
Hương Quỳnh nhưng do trình độ còn hạn chế trong bài viết của em vẫn còn
nhiều thiếu sót không thể tránh khỏi. Em rất mong nhận được sự đóng góp ý
kiến của các thầy cô, ban lãnh đạo công ty cổ phần Điện nhẹ Viễn thông để đề
tài nghiên cứu được hoàn thiện hơn cũng như giúp em hiểu sâu hơn về đề tài
mình đã chọn.
Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của cô giáo – TS.
Đoàn Hương Quỳnh, ban lãnh đạo công ty và các anh chị phòng Tài chính-
Kế toán, các thầy cô giáo trường Học Viện Tài Chính đã giúp đỡ, tạo điều
kiện cho em hoàn thành bài luận văn tốt nghiệp này.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày… tháng… năm 2012
Sinh viên thực hiện:
Nguyễn Thị Lan Hương
Nguyễn Thị Lan Hương Lớp: CQ46/11.01
Học viện tài chính Luận văn Cuối khóa
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
- VLĐ : Vốn lưu động
- TS : Tài sản
- TSNH : Tài sản ngắn hạn
- TSDH : Tài sản dài hạn
- TSCĐ : Tài sản cố định
- TSLĐ : Tài sản lưu động
- NVNH : Nguồn vốn ngắn hạn
- NVDH : Nguồn vốn dài hạn
- NVLĐ : Nguồn vốn lưu động
- CSH : Chủ sở hữu
- CCDC : Công cụ dụng cụ
- DTT : Doanh thu thuần
- GVHB : Giá vốn hàng bán
- CPBH : Chi phí bán hàng
Bảng 17: Nhu cầu VLĐ của LTC qua các năm
Biểu đồ 1: Hệ số khả năng thanh toán một số công ty cùng ngành năm
2011
Nguyễn Thị Lan Hương Lớp: CQ46/11.01
Học viện tài chính Luận văn Cuối khóa
Biểu đồ 2: Vòng quay các khoản phải thu các công ty cùng ngành qua các
năm gần đây
Biểu đồ 3: Vòng quay VLĐ các công ty cùng ngành qua các năm gần đây
Nguyễn Thị Lan Hương Lớp: CQ46/11.01
Học viện tài chính Luận văn Cuối khóa
CHƯƠNG 1:
LÝ LUẬN CHUNG VỀ VỐN LƯU ĐỘNG VÀ HIỆU QUẢ SỬ
DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP
1.1 Vốn lưu động và nguồn hình thành vốn lưu động trong doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm vốn lưu động của doanh nghiệp
Trong nền kinh tế thị trường, để tiến hành hoạt động sản xuất kinh
doanh, các doanh nghiệp cần phải ứng ra một số vốn nhất định phù hợp với
quy mô và điều kiện kinh doanh. Vốn kinh doanh của doanh nghiệp là biểu
hiện bằng tiền của toàn bộ giá trị tài sản được huy động sử dụng vào hoạt
động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lời. Căn cứ vào đặc điểm chu
chuyển vốn, có thể chia vốn kinh doanh thành hai loại: Vốn cố định và vốn
lưu động.
Để đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được tiến hành thường
xuyên, liên tục đòi hỏi doanh nghiệp phải có một lượng tài sản lưu động nhất
định. Tài sản lưu động của doanh nghiệp gồm 2 bộ phận: Tài sản lưu động
sản xuất và tài sản lưu động lưu thông.
- Tài sản lưu động sản xuất: Gồm một bộ phận là những vật tư dự trữ
để đảm bảo cho quá trình sản xuất được liên tục như nguyên vật liệu chính,
nguyên vật liệu phụ, nhiên liệu… và một bộ phận là những sản phẩm đang
trong quá trình sản xuất như: sản phẩm dở dang, bán thành phẩm,…
VLĐ theo trình tự sau:
T – H – T’
Sự vận động của vốn lưu động chuyển từ hình thái ban đầu là tiền sang
hình thái vật tư hàng hóa và cuối cùng lại chuyển về hình thái tiền tệ ban đầu
(T’> T)
Sự vận động của tiền tệ được chia thành các giai đoạn như sau:
- Giai đoạn 1 (T – H): doanh nghiệp dùng tiền mua hàng hóa, nguyên
vật liệu nhằm dự trữ phục vụ quá trình sản xuất kinh doanh. Như vậy vốn lưu
động từ hình thái tiền tệ chuyển sang hình thái vật tư, hàng hóa.
Nguyễn Thị Lan Hương 2 Lớp: CQ46/11.01
Học viện tài chính Luận văn Cuối khóa
- Giai đoạn 2 (H - SX – H’): Vật tư hàng hóa đã mua sắm được doanh
nghiệp đưa vào sản xuất tạo ra sản phẩm. Tức là vốn lưu động chuyển từ hình
thái vật tư hàng hóa sang hình thái vốn sản phẩm dở dang, bán thành phẩm và
sau đó chuyển thành vốn thành phẩm.
- Giai đoạn 3 (H’- T’): Doanh nghiệp tiến hành tiêu thụ sản phẩm và
thu được tiền về. Vốn lưu động chuyển từ hình thái vốn thành phẩm quay trở
lại hình thái ban đầu là tiền. Kết thúc một vòng tuần hoàn vốn, nếu T’ > T
điều đó có nghĩa là doanh nghiệp làm ăn có lãi.
Quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra liên tục, không
ngừng nên vốn lưu động của doanh nghiệp cũng tuần hoàn liên tục, lặp đi lặp
lại có tính chất chu kỳ tạo thành sự chu chuyển của vốn lưu động.
1.1.2 Phân loại vốn lưu động
Để quản lý vốn lưu động được tốt cần phải phân loại vốn lưu động.
Dựa theo tiêu chí khác nhau, có thể chia vốn lưu động thành các loại khác
nhau. Thông thường có một số cách phân loại chủ yếu sau:
1.1.2.1 Dựa theo hình thái biểu hiện và khả năng hoán tệ của vốn
Theo cách phân loại này, vốn lưu động có thể chia làm hai loại: Vốn
bằng tiền và vốn về hàng tồn kho.
- Vốn bằng tiền và các khoản phải thu
công cụ dụng cụ nhỏ.
- Vốn lưu động trong khâu trực tiếp sản xuất gồm các khoản sau: vốn
sản phẩm đang chế tạo, vốn về chi phí trả trước.
- Vốn lưu động trong khâu lưu thông gồm các khoản: vốn thành phẩm;
vốn bằng tiền; vốn trong thanh toán (gồm những khoản phải thu và các khoản
tiền tạm ứng trước phát sinh trong quá trình mua vật tư hàng hóa hoặc thanh
toán nội bộ); các khoản vốn đầu tư ngắn hạn về chứng khoán, cho vay ngắn
hạn…
Cách phân loại này cho phép biết được kết cấu vốn lưu động theo vai
trò. Từ đó, giúp cho việc đánh giá tình hình phân bổ vốn lưu động trong các
khâu của quá trình luân chuyển vốn, thấy được vai trò của từng thành phần
Nguyễn Thị Lan Hương 4 Lớp: CQ46/11.01
Học viện tài chính Luận văn Cuối khóa
vốn đối với quá trình kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề ra các biện pháp tổ chức
quản lý thích hợp nhằm tạo ra một kết cấu vốn lưu động hợp lý, tăng được tốc
độ luân chuyển vốn lưu động.
Trên đây là 2 cách phân loại vốn lưu động chủ yếu. Mỗi cách phân loại
đáp ứng những yêu cầu nhất định của công tác quản lý.
1.1.3 Nguồn hình thành vốn lưu động của doanh nghiệp
Để đáp ứng kịp thời nhu cầu VLĐ và đảm bảo tính phù hợp về thời
gian huy động, nhà quản trị doanh nghiệp cần nắm vững đặc điểm, tính chất
của các nguồn tài trợ nhu cầu VLĐ. Xét theo thời gian huy động và sử dụng
nguồn vốn thì có hai nguồn hình thành nên VLĐ:
- Nguồn vốn lưu động thường xuyên là nguồn vốn ổn định có tính chất
dài hạn để hình thành hay tài trợ cho tài sản lưu động thường xuyên cần thiết
trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp (có thể là một phần hay toàn bộ
tài sản lưu động thường xuyên tùy thuộc vào chiến lược tài chính của doanh
nghiệp).
Nguồn vốn lưu động thường xuyên của doanh nghiệp tại một thời điểm
có thể xác định theo công thức sau:
TSLĐ tạm thời được đảm bảo bằng nguồn vốn thường xuyên, một phần
TSLĐ tạm thời còn lại được đảm bảo bằng nguồn vốn tạm thời.
+ Ưu điểm của mô hình này là: Khả năng thanh toán và độ an toàn ở
mức cao.
+ Hạn chế: Chi phí sử dụng vốn cao vì phải sử dụng nhiều khoản vay
dài hạn và trung hạn.
c/ Mô hình thứ ba: Toàn bộ TSCĐ, một phần TSLĐ thường xuyên
được đảm bảo bằng nguồn vốn thường xuyên. Một phần còn lại của TSLĐ
thường xuyên và toàn bộ TSLĐ tạm thời được đảm bảo bằng nguồn vốn tạm
thời.
+ Uu điểm: việc sử dụng vốn linh hoạt, chi phí sử dụng vốn thấp hơn vì
sử dụng nhiều hơn nguồn vốn tín dụng ngắn hạn.
+ Nhược điểm : khả năng gặp rủi ro cao hơn.
Nguyễn Thị Lan Hương 6 Lớp: CQ46/11.01
Học viện tài chính Luận văn Cuối khóa
1.2 Hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp
1.2.1 Khái niệm hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp
“Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh nói chung và vốn lưu động nói
riêng là phạm trù kinh tế phản ánh trình độ khai thác, sử dụng và quản lý
nguồn lực trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhằm mục
tiêu chủ yếu là làm cho đồng vốn sinh lời tối đa. Hiệu quả sử dụng vốn lưu
động được lượng hoá thông qua hệ thống các chỉ tiêu về khả năng sinh lời,
vòng quay vốn lưu động, tốc độ luân chuyển vốn, vòng quay hàng tồn kho. Nó
chính là quan hệ giữa đầu ra và đầu vào của quá trình kinh doanh.”
Phấn đấu nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động là một trong những
vấn đề cần quan tâm bởi các lý do sau:
VLĐ là một bộ phận của vốn sản xuất kinh doanh, do đó việc tổ chức
quản lý, sử dụng VLĐ có hiệu quả sẽ quyết định đến khả năng tăng trưởng và
phát triển của doanh nghiệp.
Xuất phát từ mục đích kinh doanh của doanh nghiệp: Các doanh
tiêu thụ sản phẩm, tạo chỗ đứng vững chắc cho doanh nghiệp trong nền kinh
tế.
1.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh
nghiệp
* Chỉ tiêu về hiệu suất sử dụng vốn lưu động
+ Tốc độ luân chuyển vốn lưu động
Việc sử dụng hợp lý vốn lưu động biểu hiện ở tăng tốc độ luân chuyển
vốn lưu động. Tốc độ luân chuyển vốn lưu động nhanh hay chậm nói lên hiệu
suất sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp cao hay thấp. Tốc độ luân
chuyển vốn lưu động được biểu hiện bằng hai chỉ tiêu sau:
- Số lần luân chuyển vốn lưu động (hay số vòng quay của vốn lưu
động): phản ánh số vòng quay vốn được thực hiện trong một thời kỳ nhất
định, thường tính trong một năm. Công thức tính:
Nguyễn Thị Lan Hương 8 Lớp: CQ46/11.01
Học viện tài chính Luận văn Cuối khóa
L =
M
LĐ
V
Trong đó:
L :số lần luân chuyển vốn lưu động ở trong kỳ( thường là 1 năm)
M: tổng mức luân chuyển vốn lưu động trong kỳ
Hiện nay tổng mức luân chuyển vốn lưu động được xác định bằng
doanh thu thuần bán hàng của doanh nghiệp ở trong kỳ.
LĐ
V
: Số vốn lưu động bình quân sử dụng ở trong kỳ được xác định
bằng phương pháp bình quân số học.
- Kỳ luân chuyển của vốn lưu động: Chỉ tiêu này phản ánh số ngày bình
quân cần thiết để vốn lưu động thực hiện được một lần luân chuyển hay độ
– K
0
)
360
Hoặc:
V
TK
(
±
) =
M
1
-
M
1
L
1
L
0
Trong đó:
Nguyễn Thị Lan Hương 9 Lớp: CQ46/11.01
Học viện tài chính Luận văn Cuối khóa
V
TK
: Số vốn lưu động có thể tiết kiệm (- )hay phải tăng thêm(+) do ảnh
hưởng của tốc độ luân chuyển vốn lưu động kỳ so sánh so với kỳ gốc
M
1
: Tổng mức luân chuyển vốn lưu động kỳ so sánh (kỳ kế hoạch)
K
chuyển của hàng hóa dự trữ, phải gắn với đặc điểm kinh tế của ngành để nhận
xét tính hợp lý của chỉ tiêu này. Công thức tính:
Số vòng quay hàng tồn kho =
Giá vốn hàng bán
Hàng tồn kho bình quân
+ Số ngày một vòng quay hàng tồn kho: phản ánh số ngày bình quân
cần thiết để thực hiện một vòng quay hàng tồn kho.
Công thức tính:
Số ngày một vòng
quay hàng tồn kho
=
Số ngày trong kỳ (360 ngày)
Số vòng quay hàng tồn kho
Nguyễn Thị Lan Hương 10 Lớp: CQ46/11.01
Học viện tài chính Luận văn Cuối khóa
+ Vòng quay các khoản phải thu: phản ánh tốc độ thu hồi vốn trong thanh
toán của doanh nghiệp. Vòng quay các khoản phải thu được xác định như sau:
Vòng quay các
khoản phải thu
=
Doanh thu bán hàng (có thuế)
Số dư bình quân các khoản phải thu
+ Kỳ thu tiền trung bình: phản ánh độ dài thời gian thu tiền bán hàng của
doanh nghiệp kể từ lúc xuất giao hàng cho đến khi thu được tiền bán hàng.
Chỉ tiêu này có thể xác định theo công thức sau:
Kỳ thu tiền trung bình =
Số dư bình quân các khoản phải thu
Doanh thu bình quân một ngày trong kỳ
* Chỉ tiêu hệ số khả năng thanh toán:
Số lãi tiền vay phải trả trong kỳ
1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn lưu động của
doanh nghiệp
Có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại
doanh nghiệp, nhưng có thể chia thành hai nhóm nhân tố sau:
1.2.3.1 Các nhân tố khách quan
+ Chính sách kinh tế của nhà nước: Chính sách vĩ mô của nhà nước
trong nền kinh tế thị trường tác động một phần không nhỏ đến hiệu quả sử
dụng vốn của doanh nghiệp. Chẳng hạn như nhà nước sử dụng chính sách thắt
chặt: tăng thuế giá trị gia tăng đánh vào các yếu tố đầu vào làm cho chi phí
của doanh nghiệp tăng lên. Vì vậy đứng trước các quyết định đầu tư, tổ chức
doanh nghiệp cần phải xem xét đến yếu tố này.
+ Tác động của thị trường: Doanh nghiệp hoạt động luôn gắn liền với
thị trường đầu vào, thị trường đầu ra, thị trường vốn,…Trong hoạt động kinh
doanh, các doanh nghiệp phải đối mặt với những rủi ro như lạm phát, sự biến
động của lãi suất, vật liệu…tác động mạnh mẽ đến môi trường kinh doanh .
Vì vậy doanh nghiệp phải kiểm soát tốt thị trường đầu ra, đầu vào, thị trường
vốn… nếu không sẽ ảnh hưởng đến vốn kinh doanh cũng như vốn lưu động
của doanh nghiệp.
+ Sự tiến bộ của khoa học và công nghệ: Ngày nay, khoa học công
nghệ không ngừng phát triển, nếu doanh nghiệp không bắt kịp điều này để
điều chỉnh kịp thời giá trị sản phẩm thì hàng hóa bán ra sẽ giảm tính cạnh
tranh và chất lượng.
+ Tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế: tác động của nền kinh tế tăng
trưởng nhanh hay chậm có ảnh hưởng đến sức mua của thị trường. Điều này
ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình tiêu thụ của doanh nghiệp, từ đó ảnh hưởng
tới doanh thu, lợi nhuận và như thế sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn
nói chung và vốn lưu động nói riêng.
1.2.3.2 Các nhân tố chủ quan
+ Xác định nhu cầu vốn lưu động: xác định nhu cầu vốn lưu động
nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả quản lý và sử dụng vốn lưu động có vai trò rất
quan trọng. Vì vậy, các doanh nghiệp cần tìm hiểu, đánh giá một cách kỹ
lưỡng tác động của từng nhân tố, tìm ra nguyên nhân, để có biện pháp nâng
Nguyễn Thị Lan Hương 13 Lớp: CQ46/11.01
Học viện tài chính Luận văn Cuối khóa
cao hiệu quả quản lý và sử dụng vốn trong doanh nghiệp.
1.2.4 Một số biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh
nghiệp
Trong môi trường cạnh tranh của nền kinh tế thị trường, việc bảo toàn
vốn kinh doanh và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh là yêu cầu
sống còn của doanh nghiệp. Tổ chức quản lý và sử dụng vốn kinh doanh nói
chung cũng như vốn lưu động nói riêng giúp cho doanh nghiệp với số vốn
hiện có có thể tăng được khối lượng sản phẩm sản xuất, tiết kiệm được chi
phí, hạ giá thành sản phẩm, góp phần làm tăng doanh thu, tăng lợi nhuận của
doanh nghiệp. Để quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động cần chú
ý một số biện pháp sau:
* Đánh giá, lựa chọn và thực hiện tốt dự án đầu tư:
Việc đánh giá, lựa chọn và thực hiện dự án đầu tư phát triển doanh
nghiệp là vấn đề rất quan trọng bởi vì các quyết định đầu tư phát triển doanh
nghiệp ảnh hưởng lâu dài và có tính quyết định đến hiệu quả sử dụng vốn lưu
động.
* Xác định chính xác nhu cầu vốn lưu động cần thiết cho quá trình sản
xuất kinh doanh
Việc xác định hợp lý, đúng đắn nhu cầu vốn lưu động là căn cứ để
doanh nghiệp tổ chức huy động vốn đáp ứng kịp thời, đầy đủ lượng vốn lưu
động trong hoạt động sản xuất kinh doanh, đảm bảo cho quá trình kinh doanh
tiến hành một cách bình thường, liên tục. Đồng thời, giúp cho doanh nghiệp
quản lý và sử dụng vốn có hiệu quả, tránh được tình trạng ứ đọng vốn do tính
thừa lớn hơn nhu cầu thực tế sử dụng hoặc tránh tình trạng căng thẳng giả tạo
về vốn do tính thiếu thấp hơn nhu cầu thực tế.
nghiệp phải xây dựng chính sách tín dụng thương mại hợp lý và mức độ nợ
phải thu của doanh nghiệp, xác định các điều khoản tín dụng thương mại,
kiểm soát chặt chẽ nợ phải thu, áp dụng các biện pháp thích hợp để thu hồi
nợ. Ngoài ra, doanh nghiệp còn phải chủ động trích lập dự phòng nợ phải thu
khó đòi, mua bảo hiểm.
Nguyễn Thị Lan Hương 15 Lớp: CQ46/11.01
Học viện tài chính Luận văn Cuối khóa
* Tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động, sử dụng vốn tiết kiệm nhưng
vẫn phải đảm bảo được chất lượng của sản phẩm. Cần phải thực hiện quản lý
tốt ở tất cả các khâu: khâu dự trữ, sản xuất và lưu thông.
* Áp dụng nghiêm minh các biện pháp thưởng phạt vật chất trong việc
bảo quản và sử dụng các tài sản kinh doanh để nâng cao ý thức trách nhiệm
của người quản lý, sử dụng từ đó góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản
của doanh nghiệp.
* Quan tâm đầu tư phát triển nguồn nhân lực
Tăng cường bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ quản lý,
nhất là đội ngũ cán bộ quản lý tài chính. Cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý tài
chính phải năng động nhạy bén với thị trường, huy động linh hoạt các nguồn
vốn có lợi nhất, quản lý vốn huy động được một cách uyển chuyển nhất, phù
hợp nhất với điều kiện của doanh nghiệp để càng ngày nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn lưu động. Bên cạnh đó, doanh nghiệp cần phải có những chính sách
và chế độ đãi ngộ hợp lý để khuyến khích đội ngũ cán bộ, công nhân viên
phát huy sức sáng tạo, nhiệt tình và gắn bó với lợi ích chung của toàn doanh
nghiệp.
Trên đây là một số biện pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả quản lý
và sử dụng vốn lưu động của các doanh nghiệp. Do mỗi doanh nghiệp có đặc
điểm khác nhau, lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh khác nhau nên các doanh
nghiệp cần phải nghiên cứu kỹ để chọn biện pháp cho phù hợp với tình hình
cụ thể của doanh nghiệp mình.
Nguyễn Thị Lan Hương 16 Lớp: CQ46/11.01
Nguyễn Thị Lan Hương 17 Lớp: CQ46/11.01
Học viện tài chính Luận văn Cuối khóa
Tiền thân của Công ty là Trung tâm kỹ thuật điện nhẹ Viễn thông thuộc
Công ty công trình Bưu điện – Tổng Công ty Bưu chính Viễn thông Việt
Nam, thành lập năm 1989. Đến năm 2000, công ty đổi thành Công ty cổ phần
Điện nhẹ Viễn thông theo quyết định số 939/QĐ TCBĐ ngày 11/10/2000 của
Tổng Cục trưởng Tổng Cục Bưu Điện về việc chuyển Trung tâm Kỹ thuật
Điện nhẹ Viễn thông thành Công ty Cổ phần Điện nhẹ Viễn thông, đăng ký
kinh doanh số 0103000382 ngày 31/05/2001 của Sở Kế hoạch và Đầu tư
thành phố Hà Nội.
Từ khi chính thức hoạt động đến nay, Hội đồng quản trị và Ban điều
hành công ty cổ phần Điện nhẹ Viễn thông đã xây dựng kế hoạch hoạt động
theo nhiệm kỳ 03 năm một lần với phương hướng, nhiệm vụ rõ ràng:
Giai đoạn chuyển giao (10/2000-2001): Giai đoạn này, doanh nghiệp
tiến hành các thủ tục chuyển đổi mô hình từ Trung tâm Kỹ thuật điện nhẹ
Viễn thông thuộc Công ty Công trình Bưu điện - Tổng công ty Bưu chính
Viễn thông Việt Nam sang hình thức công ty cổ phần, hạch toán độc lập.
Nhiệm kỳ I (2001-2003): Doanh nghiệp đưa ra nhiều quyết sách quan
trọng về chiến lược kinh doanh (mở rộng ngành nghề kinh doanh, mở rộng thị
trường, xây dựng các quy chế khoán gọn công trình ); xây dựng cơ chế tài
chính, kế toán theo chuẩn mực, thực hiện quản lý tài chính bằng chương trình
kế toán trên máy vi tính; từng bước hoàn thiện công tác tổ chức cán bộ, tiền
lương, quy chế thưởng phạt
Nhiệm kỳ II (2004-2006): Xây dựng công ty theo tiêu chí phát triển
Điện nhẹ trở thành công ty có sức cạnh tranh hàng đầu trong hệ thống các
công ty cổ phần của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam. Phương
hướng hoạt động chính cho nhiệm kỳ này là: mở rộng và phát triển những
ngành nghề truyền thống (xây lắp, thiết kế, kinh doanh thương mại), đồng
thời đa dạng hóa, phát triển ngành nghề mới (lắp đặt, bảo trì, bảo dưỡng, hỗ
trợ vận hành các thiết bị viễn thông , xây dựng hạ tầng dịch vụ viễn thông để