ĐỀ ÁN KINH TẾ THƯƠNG MẠI
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY XUẤT
KHẨU CÀ PHÊ VỆT NAM
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính tất yếu của đề tài:
Đất nước đang trong thời kì hội nhập, kinh tế đang chuyển dần từ quan liêu
bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước. Trong xu thế mở
cửa đó, xuất khẩu hàng hoá là một chủ trương kinh tế lớn của Đảng và Nhà nước
ta. Chủ trương này được khẳng định trong văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ VIII và trong nghị quyết 01NQ/TW của Bộ Chính trị với mục tiêu chuyển
dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa hướng về xuất
khẩu. Hơn nữa, đất nước ta xuất phát điểm là một nước nông nghiệp, chúng ta có
thế mạnh về sản xuất hàng nông sản như cà phê, gạo ,cao su…trong đó cà phê là
một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ yếu, mang lại nguồn thu lớn cho đất
nước. Hiện Việt Nam là quốc gia xuất khẩu cà phê lớn trên thế giới. Các bạn hàng
nhập khẩu cà phê chủ yếu của ta là EU, Mỹ, Nhật, Singapore, Trung Quốc…EU
đã và đang là đối tác thương mại quan trọng của Việt Nam và tiềm năng xuất khẩu
hàng hoá nông sản, đặc biệt là cà phê vào thị trường này vẫn còn rất rộng mở.
Nhận thức được tầm quan trọng và tính cấp thiết của vấn đề này, cùng sự hướng
dẫn tận tình của thầy giáo PGS.TS Nguyễn Thừa Lộc, em xin chọn đề tài: “Thực
trạng và giải pháp thúc đẩy xuất khẩu cà phê Việt Nam vào thị trường EU”
làm đề án nghiên cứu.
2. Mục đích nghiên cứu:
Tìm hiểu tình hình xuất khẩu cà phê thời gian qua, các thành tựu, hạn chế.
Từ đó tìm ra nguyên nhân, rút ra bài học và đề xuất phương hướng, giải pháp để
đẩy mạnh hơn nữa việc xuất khẩu cà phê Việt Nam vào thị trường EU.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
tiếp cận khách hàng, người nhập khẩu sẽ hỏi giá và đặt hàng, nhà xuất khẩu chào giá, hai bên kết thúc
quá trình hoàn giá và ký hợp đồng.
Xuất khẩu qua trung gian:
Trong hoạt động xuất khẩu qua trung gian tất cả mọi việc kiến lập quan hệ giữa người xuất khẩu
và người nhập khẩu cũng như việc qui định các điều kiện mua bán phải thông qua một người thứ
3 được gọi là người nhận uỷ thác. Người nhận uỷ thác tiến hành hoạt động xuất khẩu với danh
nghĩa của mình nhưng mọi chi phí đều do bên có hàng xuất khẩu, bên uỷ thác thanh toán. Về bản
chất chi phí trả cho bên nhận uỷ thác chính là tiền thù lao trả cho đại lý.
Buôn bán đối lưu:
Đây là phương thức giao dịch trong đó xuất khẩu phải kết hợp chặt chẽ với nhập khẩu. Nhà xuất
8
khẩu đồng thời là nhà nhập khẩu, mục đích để thu về hàng hoá có giá trị tương đương với hàng
xuất khẩu bởi vậy nó còn gọi là phương thức đổi hàng. Trong hoạt động xuất khẩu này yêu cầu
cân bằng về mặt hàng, giá cả, tổng giá trị và điều kiện giao hàng được đặc biệt chú ý.
Gia công quốc tế:
Là phương thức kinh doanh người đặt mua gia công ở nước ngoài cung cấp máy móc, thiết bị,
nguyên phụ liệu theo mẫu hàng và định mức trước. Người nhận gia công làm theo yêu cầu của
khách, toàn bộ sản phẩm làm ra người nhận gia công sẽ giao lại toàn bộ cho người đặt gia công và
để nhận tiền gia công gọi là phí gia công.
Tạm nhập tái xuất:
Tái xuất là xuất khẩu trở lại nước ngoài những hàng hoá đã được nhập khẩu nhưng chưa qua dỡ
bến ở nước tái xuất. Nghiệp vụ này là nghiệp vụ giao dịch 3 bên.
Hình thức chuyển khẩu là hàng hoá đi thẳng từ nước xuất khẩu sang nước nhập khẩu không đi
qua nước tái xuất.
1.1.3. Vai trò của xuất khẩu
Đối với nước ta, xuất khẩu hàng hóa đóng vai trò quan trọng sau :
- 3'(,/097(7:;7<;$<$
7;0='<>$(01?&'74=@
- 3'($;%74=9AB@CD74=
giá cả thị trường đều tác động đến giá cà phê trên thế giới. Tỉ giá hối đoái cũng là
một rào cản,hay cơ hội, thách thức của xuất khẩu cà phê. Nếu tỉ giá hối đoái của
ngoại tệ trên VNĐ tăng thì với mức giá cũ ta sẽ thu được nhiều tiền VNĐ, thúc
đẩy xuất khẩu. Ngược lại, nếu tỷ giá giảm sẽ gây giảm lượng xuất khẩu, các doanh
nghiệp xuất khẩu làm ăn ít có lãi, thậm chí không có lãi.
Yếu tố cạnh tranh
Trên thị trường quốc tế, sự cạnh tranh luôn diễn ra gay gắt và quyết liệt và xuất
khẩu cà phê cũng không phải là ngoại lệ. Hiện nay, Braxin, Colombia, Indonexia
Z
đang là các đối thủ hàng đầu của Việt Nam trong xuất khẩu cà phê. Hoạt động
xuất khẩu cà phê của nước ta muốn tồn tại và phát triển được thì một vấn đề hết
sức quan trọng đó là phải giành được thắng lợi đối với đối thủ cạnh tranh về mặt
giá cả, chất lượng, uy tín, Đây là một thách thức và là một rào cản lớn đối với
Việt Nam.
1.4.1. Yếu tố kinh tế quốc dân
Các chính sách của nhà nước và của ngành có tác động lớn tới hoạt động
sản xuất cũng như trong quá trình xuất khẩu hàng hóa nói chung và cà phê nói
riêng. Việt Nam với chính sách là phát triển nền kinh tế thị trường hướng mạnh
vào xuất khẩu, đặc biệt có chính sách mặt hàng xuất khẩu chủ lực cho cà phê vì
thế Nhà nước đã có nhiều ưu đãi cho ngành cà phê. Đây là điều kiện thuận lợi cho
xuất khẩu cà phê của Việt Nam.
Trong xu thế hội nhập nền kinh tế thế giới, nước ta cũng từng bước tiến
vào sân chơi chung của cả thế giới. Năm 2006 Việt Nam trở thành thành viên
chính thức của tổ chức thương mại thế giới WTO, mở ra những cơ hội mới cho cả
nền kinh tế. Các mối quan hệ song phương đa phương được mở rộng tạo điều kiện
thuận lợi nhất định cho xuất khẩu cà phê nói riêng và quan hệ thương mại quốc tế
nói chung.
1.4.2. Bản thân doanh nghiệp
Các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực xuất khẩu chính là cầu nối đưa
1.2.2 Quá trình hình thành và phát triển của ngành cà phê Việt Nam
Cây cà phê du nhập vào Việt Nam khá sớm (từ 1857) thông qua một số linh
mục thừa sai người Pháp. ,$ cà phê đầu tiên được lập ở Việt Nam do K
\7 khởi sự ở gần ^kl), mn^h vào năm ooo. Giống cà phê Arabica (tức 7Ep)
o
được trồng ở ven sông. Sau đó việc canh tác cà phê lan xuống vùng \/qr, P
m-, R#, P;e, ^R. Từ 1937-1938 tổng cộng trên lãnh thổ Việt Nam có
13.000 H cà phê, cung ứng 1.500 tấn.
Ngành cà phê nước ta đã có những bước phát triển nhanh vượt bậc. Chỉ
trong vòng 15-20 năm trở lại đây chúng ta đã đưa sản lượng cà phê cả nước tăng
lên hàng trăm lần. Hiện Việt Nam đứng thứ 2 thế giới về sản xuất cà phê, chỉ sau
Braxin. Thành tựu đó đã được ngành cà phê thế giới ca ngợi và rất đáng tự hào.
Cho đến năm 2008, do kích thích mạnh mẽ của giá cả thị trường, cà phê đã từng
mang lại cho các nhà sản xuất lợi nhuận siêu ngạch. Tình hình phát triển cà phê đã
ra khỏi tầm kiểm soát của ngành cũng như của Nhà nước, chính vì thế mà sự tăng
trưởng nhanh chóng với mức độ lớn đã có tác động quan trọng trong việc góp
phần đẩy ngành cà phê thế giới đến thời kỳ khủng hoảng thừa. Giá cà phê có lúc
đã giảm liên tục đến mức thấp kỷ lục 30 năm lại đây. Tuy nhiên gần đây, nhờ sự
can thiệp quản lý của Nhà nước hạn chế diện tích gieo trồng, tình hình cung thế
giới cũng sụt giảm đã đẩy giá cà phê lên cao, song thị trường thế giới luôn chứa
đựng yếu tố bất thường, đòi hỏi ngành cà phê nước ta phải có hướng đi đúng đắn
để phát triển.
@@@R9AB</C;P41?&'&'(7E
C;P1$:*oZ4;K<4EZYsA$%4Ag5:;7@
0A,A5,$=74=1?&':;7<4$t7E@P
4<*U4D$Ar<$;5E9AB<*D9;$*X(<
X$'$V+uR0P0E<JqJDB707E@
Bảng 1.1. Phân tích SWOT cho cà phê và các sản phẩm từ cà phê Việt Nam
Điểm mạnh
Hỗ trợ của chính phủ để phát triển thương hiệu,
xúc tiến thương mại
Thách thức
Sự cạnh tranh từ các mặt hàng khác
Sự cạnh tranh từ các nước xuất khẩu khác
Diện tích trồng cà phê Robusta quá bành
trướng
Kế hoạch phát triển cà phê Arabica không hiệu
quả
Giá xuất khẩu không ổn định
Hạn hán
Hạn chế nguồn nước
(Nguồn: Các cuộc phỏng vấn thực địa, nghiên cứu tại bàn của Trung tâm Thương mại Quốc tế
UNCTAD/WTO (ITC) và Cục Xúc tiến Thương mại Việt Nam (VIETRADE))
1.2.4. Vai trò của xuất khẩu cà phê đối với Việt Nam
Cây cà phê vốn từ lâu được xem như một loại cây Công nghiệp ngắn ngày
xuất khẩu chủ lực của Việt Nam với giá trị xuất khẩu hàng năm ngày càng
cao,đóng vai trò quan trọng trong cơ cấu xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam
ra nước ngoài. Nó có tác động to lớn đối với hoạt động xuất khẩu nói riêng và đối
với cả nền kinh tế nói chung:
w
- Xuất khẩu cà phê tạo một nguồn thu ngoại tệ khá lớn hàng năm cho nền
kinh tế đảm bảo cán cân thanh toán quốc tế, nhập khẩu nhiều máy móc thiết bị,
công nghệ tiên tiến phục vụ cho nền sản xuất còn chậm phát triển trong nước.
- Xuất khẩu cà phê đòi hỏi phải đầu tư vào sản xuất theo hướng chuyên môn
hóa hình thành những vùng chuyên canh với quy mô lớn với trang bị đồng bộ
của khoa học kĩ thuật, áp dụng cơ khí hóa, hiện đại hóa, thúc đẩy các ngành công
nghiệp phục vụ như sản xuất máy bơm nước tưới, máy chế biến…đẩy nhanh quá
trình chuyển đổi nền kinh tế từ nông nghiệp lạc hậu sang nước công nghiệp.
nghìn H)
Năm 2006 2007 2008 2009 2010
Diện tích gieo trồng 497 503,9 530,9 538,5 548,2
Diện tích cho sản lượng - 488,9 500,2 507,2 514,4
(Nguồn: niên giám thống kê 2010)
Biểu đồ 2.1. Tăng trưởng diện tích gieo trồng và diện tích cho sản lượng
Từ 2007 trở lại đây diện tích liên tục tăng tuy nhiên tốc độ tăng không đều
nhau, chủ yếu do sự biến động của giá cả thế giới. Tăng nhanh nhất từ 2007-2008
tăng 4,2% (21,6 nghìn héc ta) do thời điểm này giá cà phê tăng cao, có lúc đạt
mức trên 40000đ/kg, đã xuất hiện tình trạng người dân một số tỉnh Tây Nguyên ồ
ạt tăng diện tích cà phê trồng mới. Sau thời gian này tốc độ tăng diện tích gieo
trồng đã giảm và có xu hướng ổn định. Năm 2009 tăng 1,4% so với 2008 (7,6
nghìn H), 2010 tăng 1,8% (7,7 nghìn H). Tốc độ tăng trưởng trung bình từ
2007-2010 là 1,7%. Diện tích cà phê nước ta ở mức 500.000-550.000 H như
hiện nay được đánh giá là hợp lý và cần duy trì. D
!"#$%&'()((*+
,-./01234H5560!7897:;
<=>?@4
Cà phê chè (Arabica) được trồng ở: Trung Bộ (Quảng Trị, Huế) và miền núi
phía Bắc (Sơn La, Lai Châu). Giống cà phê này khó phát triển tại Việt Nam do độ
cao không phù hợp, lại có nhiều sâu bệnh hại nên không có giá trị kinh tế bằng cà
phê Robusta nếu trồng tại nước ta. Cà phê vối (robusta) được trồng chủ yếu ở các
tỉnh Tây nguyên và một số tỉnh Đông Nam bộ xung quanh do có môi trường tự
nhiên và khí hậu rất thuận lợi. Chỉ riêng 5 tỉnh Tây Nguyên (Đắc lắk, Lâm Đồng,
Đắc Nông, Gia Lai và Kon Tum) đã chiếm 90% diện tích đất trồng cà phê và 85%
đến đánh nhớt, sau đó lên men ngâm rửa rồi đem phơi khô. Phương pháp chế biến
khô là cà phê tươi để phơi khô không cần qua khâu sát tươi.
Việt Nam chủ yếu chế biến cà phê theo phương pháp khô (khoảng 90% sản
lượng). Cũng có một số doanh nghiệp chế biến theo phương pháp ướt, tuy nhiên
phương pháp chế biến ướt rất đắt nên chỉ sử dụng để chế biến một phần cà phê
Arabica xuất khẩu. Đối với cà phê hoà tan thì thường sử dụng phương pháp công
nghệ sấy phun của Liro- Đan Mạch.
2.1.1.3. Năng suất cà phê
T7EAA04,z?*$;5E1+;<90J1'K
:L$J@R0E1*J1'4+-/*o8[| HJwwo
-J1'7EC;Pz%Avov|H_,2"e}lReRwwa@Trong khi
đó năng suất ở các nước khác hầu hết dưới 1000kg/ H. Như vậy so với các
nước sản xuất khác trên thế giới thì năng suất cà phê Việt Nam cao hơn hẳn. Điều
này là do Việt nam có rất nhiều lợi thế về sản xuất cà phê như điều kiện tự nhiên,
đất đai, khí hậu, có giống cho năng suất cao và nhờ việc áp dụng các biện pháp kỹ
thuật thâm canh như chọn giống, bón phân, tưới nước, kỹ thuật tạo tán.
2.1.1.4. Đánh giá tình hình sản xuất cà phê của nước ta mấy năm trở lại đây
Những mặt làm được trong sản xuất cà phê ở Việt Nam
- Cây cà phê là cây công nghiệp chủ lực có giá trị kinh tế cao ở Việt Nam.
Cùng với việc gia tăng không ngừng về diện tích và sản lượng cà phê đã góp phần
thay đổi đời sống của nhân dân các vùng trồng cà phê. Với việc nhận thức vị trí và
vai trò của cây cà phê trong nền sản xuất nông nghiệp nước ta, Nhà nước đã có
Y
nhiều biện pháp nhằm nâng cao năng suất, chất lượng cà phê như thực hiện sản
xuất gắn với chế biến giúp cho Việt Nam từ nước sản xuất cà phê nhân xuất khẩu
đã trở thành nước xuất khẩu với các mặt hàng cà phê rang xay, cà phê hoà tan.
Tuy nhiên lượng cà phê rang xay và hoà tan này còn rất ít chiếm khoảng 10% sản
lượng.
- Để đạt được kết quả như trên Việt Nam đã biết áp dụng nhiều tiến bộ kỹ
hiện đúng quy trình sản xuất, thu hái, thiết bị chế biến không đồng bộ, thường
dùng phương pháp chế biến thủ công. Mặc dù Nhà nước đã ban hành đầy đủ bộ
tiêu chuẩn, quy trình kỹ thuật về trồng trọt, chế biến, chất lượng cà phê nhưng
chưa được nông dân và doanh nghiệp áp dụng có hiệu quả và đầy đủ.
- Hệ thống sân phơi, chế biến, bảo quản còn thiếu so với yêu cầu nên chất lượng
cà phê chưa đồng đều và ổn định, nhất là vào những năm khi vụ thu hoạch cà phê
bị mưa kéo dài. Cà phê bị lên men, mốc, ảnh hưởng đến giá và hình ảnh của cà
phê Việt Nam nói chung.
2.1.2. Thực trạng xuất khẩu cà phê của Việt Nam
P00<)%1*K;7E%.7L:<'A)
*74=@PG7E/*0J@A9ABC;P<
7EAt:1?&'(/A5@
2.1.2.1. l?AB<&'(7EC;P
Bảng 2.3. Khối lượng, kim ngạch xuất khẩu cà phê Việt Nam từ 2006 -2010
Năm Khối lượng
(tấn)
Kim ngạch
(1000USD)
Đơn giá bình
quân(USD/tấn)
[
2006 897.000 1.101.000 1227
2007 1.229.233 1.911.463 1555
2008 1.059.506 2.111.187 1992
2009 1.183.523 1.730.602 1462
2010 1.217.868 1.851.358 1520
(Nguồn : tổng cục thống kê)
Ta thấy sản lượng cà phê xuất khẩu của Việt Nam đạt mức cao nhất đạt
1.229.223 tấn vào năm 2007. Sang năm 2008 khối lượng xuất khẩu giảm sút gần
Niên vụ 2008/2009 Niên vụ 2009/2010 Niên vụ 2010/2011
Thời gian bắt đầu niên
vụ: Tháng 10 năm 2008
Thời gian bắt đầu niên
vụ:
Tháng 10 năm 2009
Thời gian bắt đầu
niên vụ: Tháng 10
năm 2010
Số liệu báo cáo
hàng năm
Số liệu
mới
Số liệu
báo cáo hàng
năm
Số liệu
mới
Số liệu báo
cáo hàng năm
Số liệu
mới
Official Post Data Official Post Data Official Post Data
Cà phê hạt xuất khẩu
(nghìn bao)
16.333 16.333 16.283 16.675 16.667 16.667 16.667
Cà phê rang &
nguyên hạt xuất khẩu
(nghìn bao)
25 25 42 25 40 45 50
(Tấn)
Trị giá
(1000 USD)
Thị phần
(%)
1 E.U 363.388 795.944 39,2%
2 Hoa kỳ 93.611 227.866 11,2%
3 ASEAN 58.254 128.253 6,3%
4 Nhật Bản 31.874 82.565 4%
5 Hàn Quốc 19.712 41.349 2%
6 Trung Quốc 18.251 41.244 2%
7 An-giê-ry 15.588 32.943 1,5%
w
8 Nga 15.141 32.910 1,5%
9 Ân Độ 15.209 28.758 1,3%
10 Australia 7.677 17.289 0,8%
(Nguồn :Tổng cục thống kê)
EU là thị trường truyền thống được Việt Nam chú trọng. Đây chính là thị
trường nhập khẩu cà phê lớn nhất của nước ta. 7 tháng đầu năm 2011, EU tiếp tục
giữ vị trí số một về nhập khẩu cà phê Việt Nam với gần 40% thị phần, giá trị gần
800 nghìn USD. Tuy nhiên thị trường này cũng hết sức khó tính do vậy mà ta mới
chỉ xuất khẩu cà phê nhân, còn cà phê hoà tan, cà phê thành phẩm rất ít.
Đứng thứ 2 là thị trường Hoa Kỳ. Đây là quốc gia có lượng nhập khẩu cà
phê lớn nhất từ Việt Nam trong thời gian gần đây và là thị trường đầy tiềm năng.
Chỉ riêng nước này đã nhập 11,2% lượng cà phê Việt Nam xuất khẩu ra nước
ngoài trong 7 tháng đầu năm nay, tăng 1,7% về khối lượng nhưng tăng tới 64,3%
về giá trị so với năm trước chủ yếu là do giá cà phê thế giới tăng mạnh đầu năm
2011. Việt Nam và Hoa Kỳ đã ký Hiệp định thương mại Việt-Mỹ ngày 14-7-2000
bắt đầu có hiệu lực tháng 12-2001. Nhờ Hiệp định này chúng ta đang tăng nhanh
cà phê trên thị trường kỳ hạn đóng cửa đều ở mức âm (giảm). Đây là bài học về sự thiếu dự báo
thông tin thị trường, dù Việt Nam là nước xuất khẩu cà phê lớn thứ 2 thế giới.
Trong vòng 7 tháng đầu niên vụ 2010/11 giá trung bình hạt cà phê Robusta của Việt Nam
là 1.964USD/tấn (FOB HCM), tăng 55% so với cùng thời điểm năm ngoái (1.271USD/tấn). Giá
tăng có thể do ảnh hưởng của lượng dự trữ cà phê thế giới sụt giảm mạnh, nhu cầu tiêu thụ toàn
cầu tăng và yếu tố thời thiết không thuận lợi tại một số nước xuất khẩu cà phê. Ngày 4/5/2011,
theo VICOFA, giá FOB (HCM) của hạt cà phê Robusta thô chưa phân loại là 2.570USD/tấn.
Đây là mức giá cao nhất trong vòng 16 năm trở lại đây, nhưng vẫn thấp hơn mức giá kỷ lục
2.658USD niên vụ 1994/95. Tính chung giai đoạn 2006/2007 đến 2010/2011 giá cà phê đã tăng
trung bình hơn 500USD/tấn.
Tuy nhiên, một thực tế đáng lo ngại là ở Việt Nam do có quá nhiều đơn vị tham gia xuất
khẩu, chào đủ mọi giá khiến nhà nhập khẩu tìm mọi cách ép giá cà phê. Ngoài ra còn có hiện
tượng tranh mua tranh bán của các doanh nghiệp thu mua nhỏ lẻ. Chính điều này khiến xảy ra
tình trạng, chất lượng cà phê Việt Nam luôn được đánh giá cao hơn cà phê của Indonesia nhưng
giá luôn thấp hơn. Vì vậy mới đây Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã nhất trí với Bộ
Công thương đưa cà phê vào mặt hàng xuất khẩu có điều kiện, giúp có thể kiểm soát được thị
trường, loại bỏ các doanh nghiệp nhỏ thiếu năng lực và tài chính để tránh bị ép giá. Từ đó giá cà
phê xuất khẩu sẽ có điều kiện gia tăng trong tương lai.
2.1.2.5. Chất lượng cà phê xuất khẩu
Cà phê Robusta ở Việt Nam phần lớn được trồng trên đất đỏ bazan có độ
phì nhiêu cao, nhất là có tính vật lý lý tưởng, tại các tỉnh Tây Nguyên có độ cao
450 - 600 m. Bởi vậy, cà phê robusta Việt Nam vừa có chất lượng cao, vừa rất phù
hợp cho chế biến cà phê pha trộn và cà phê hoà tan. Nhưng do thói quen, nông dân
Việt Nam đã để lẫn cà phê quả xanh với quả chín, cũng như chưa quan tâm đúng
mức đến việc phơi khô, bảo quản cà phê. Họ không biết rằng thu hoạch khi quả
xanh sẽ làm giảm chất lượng cà phê. Vì vậy chất lượng cà phê xuất khẩu Việt
Nam chưa đồng đều, đặc biệt số lượng cà phê xuất khẩu bị thải loại chiếm tỉ lệ cao
8
1990 của thế kỷ 20 đến nay, đa phần các doanh nghiệp xuất khẩu áp dụng phương
thức này mà không áp dụng phương thức giao ngay. Phương thức kinh doanh
chốt giá sau là hình thức cho phép người mua hoặc người bán “chốt giá” tại thời
điểm nào đó trong tương lai, trước khi thực hiện giao, nhận hàng, người mua và
người bán sẽ thỏa thuận về số lượng, chủng loại, tháng giao hàng. Riêng đối với
điều khoản giá thì sẽ áp dụng một trong hai hình thức: thứ nhất, giá thanh toán là
giá “trừ lùi” hoặc thứ hai, giá cộng thêm so với giá giao dịch trên thị trường kỳ
hạn. Giá kỳ hạn này thường căn cứ vào giá trên Sàn giao dịch hàng hóa London
(Liffe). Nếu chất lượng hàng hóa của người bán thấp hơn tiêu chuẩn chất lượng
quy định trong hợp đồng kỳ hạn sẽ sử dụng áp dụng “giá trừ lùi”; nếu tốt hơn sử
dụng “ giá cộng thêm”.
2.1.2.7. Các đơn vị xuất khẩu cà phê hàng đầu của Việt Nam
R4E4K7EC;P;Yw;7$%<•
?w;77E$>go4&0<ows1?AB@T
==$ELA*2
- Tổng công ty cà phê Việt Nam (VINACAFE)
- Công ty cổ phần INTIMEX Việt Nam
- Tập đoàn Thái Hoà
- Công ty xuất nhập khẩu Simexco Đắk lắk
- Công ty cà phê Phước An Đắk lắk
- Công ty thương mại kỹ thuật & đầu tư PETEC
- Công ty đầu tư xuất nhập khẩu Đắk lắk
- Công ty xuất nhập khẩu Tín Nghĩa Đồng Nai
- Công ty cổ phần dịch vụ Phú Nhuận TP Hồ Chí Minh
- Công ty thực phẩm miền Bắc.
Trong đó VINACAFE là một Tổng công ty Nhà nước với 100% số vốn của Nhà
nước và là hội viên lớn nhất của Hiệp hội Cà phê Ca cao Việt Nam. Đây là một
Y