Báo cáo KH : "NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG TỚI KIM NGẠCH XUẤT KHẨU CÁC NHÓM HÀNG CỦA VIỆT NAM" - Pdf 23



BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG
---------o0o---------

Công trình dự thi Cuộc thi
Sinh viên nghiên cứu khoa học trƣờng Đại học Ngoại thƣơng 2010

Tên công trình:
NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG TỚI KIM NGẠCH XUẤT KHẨU
CÁC NHÓM HÀNG CỦA VIỆT NAM Thuộc nhóm ngành : XH1a Họ và tên sinh viên: Nguyễn Thị Hà Trang
Nam/nữ : Nữ Dân tộc: Kinh
Lớp:B – CLC Khoá: 46
Khoa: Kinh tế và Kinh doanh quốc tế - năm thứ : 3/ số năm đào tạo 4
Ngành học : Kinh tế quốc tế

Họ và tên sinh viên: Nguyễn Thị Thanh Tâm
Nam/nữ : Nữ Dân tộc: Kinh
Lớp: Anh 8 Khoá: 46
Khoa: Kinh tế và Kinh doanh quốc tế - năm thứ : 3/ số năm đào tạo 4
Ngành học : Kinh tế đối ngoại Ngƣời hƣớng dẫn : T.S. Vũ Hoàng Nam

những định hƣớng đúng đắn, những điều chỉnh kịp thời, nhanh chóng nắm bắt cơ hội,
tận dụng mọi thế mạnh để thúc đẩy xuất khẩu Việt Nam tăng nhanh trở lại. Trƣớc yêu
cầu đó, nhóm tác giả đã quyết định chọn đề tài tham dự cuộc thi là: “Những yếu tố tác
động tới kim ngạch xuất khẩu các nhóm hàng của Việt Nam.”
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Trong thời gian qua có khá nhiều nghiên cứu về hoạt động xuất nhập khẩu của
Việt Nam và các yếu tố tác động đến nó song những nghiên cứu này chủ yếu đều phân

1
Tính toán theo số liệu của Tổng cục Thống kê 3

tích bằng phƣơng pháp định tính. Thực ra, cũng đã có một số nghiên cứu định lƣợng về
vấn đề này song những nghiên cứu đó mới chỉ tập trung đánh giá tác động của các
nhân tố tới tổng kim ngạch xuất nhập khẩu. Những nghiên cứu này mới cho những kết
quả rất chung chung đối với xuất khẩu các nhóm hàng mà chƣa có phân tích về mức độ
tác động của các yếu tố tới xuất khẩu của các nhóm hàng khác nhau. Do vậy đề tài này
hi vọng sẽ đƣa ra đƣợc những tác động cụ thể hơn của các nhân tố tới từng nhóm hàng
xuất khẩu của Việt Nam
3. Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài là hoạt động xuất khẩu của Việt Nam và các
nhân tố ảnh hƣởng đến hoạt động này trong giai đoạn vừa qua.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài đƣợc giới hạn trong khoảng thời gian ngắn từ
năm 2004 đến 2008 bởi lý do giai đoạn này xuất khẩu của Việt Nam khá ổn đinh, nhƣ
vậy xuất khẩu trong giai đoạn này sẽ không gặp phải những tác nhân gây ảnh hƣởng
đột biến và sẽ dễ dàng hơn trong việc đánh giá tác động của các nhân tố chính. Bên
cạnh đó, vì lí do nghiên cứu có sử dụng phân tích định lƣợng nên yêu cầu sự sẵn có của
các số liệu là rất cần thiết. Do việc số liệu thu thập chỉ hạn chế cho đến năm 2008 nên
5 CHƢƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ XUẤT KHẨU VÀ MÔ HÌNH HẤP
DẪN TRONG THƢƠNG MẠI QUỐC TẾ
I. Khái niệm và vai trò của xuất khẩu
1. Khái niệm xuất khẩu
Trong Giáo trình Kinh tế ngoại thƣơng
2
, khái niệm xuất khẩu (bán) đƣợc đề cập
đến cùng với khái niệm nhập khẩu (mua) là thành hai nhánh của hoạt động ngoại
thƣơng. Thêm nữa, hoạt động ngoại thƣơng lại đƣợc định nghĩa là việc mua, bán hàng
hoá và dịch vụ qua biên giới quốc gia, từ đó, xuất khẩu là việc bán hàng hoá, dịch vụ
cho nƣớc ngoài, và nhập khẩu là việc mua hàng hoá, dịch vụ của nƣớc ngoài.
Nhƣ vậy xét về phạm vi thì khác với hoạt động mua bán diễn ra trên thị trƣợng
nội địa, hoạt động xuất khẩu vƣợt ra biên giới quốc gia và diễn ra phức tạp hơn nhiều
bởi thị trƣờng giờ đây vô cùng rộng lớn và khó kiểm soát, việc thanh toán phải tiến
hành bằng ngoại tệ (đối với ít nhất một bên tham gia) và các hoạt động này phải tuân
theo những tập quán và thông lệ quốc gia cũng nhƣ luật pháp của từng địa phƣơng.
Để hiểu sâu hơn bản chất của xuất khẩu, khi đƣa ra khái niệm hoạt động xuất
khẩu cần phải xem xét đến cả vai trò của nó (sẽ đƣợc nói chi tiết hơn ở phần sau) bao
gồm: tạo vốn chủ yếu cho nhập khẩu, tạo nguồn vốn và kĩ thuật bên ngoài cho quá
trình sản xuất trong nƣớc; góp phần mở rộng tiêu thụ hàng hóa, giải quyết công ăn việc
làm và cải thiện đời sống nhân dân; góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nƣớc;
thúc đẩy quan hệ kinh tế đối ngoại.
Nhƣ vậy, xét đầy đủ hơn thì hoạt động xuất khẩu nên đƣợc hiểu là việc bán
hàng hóa và dịch vụ ra nƣớc ngoài nhằm mục đích thu ngoại tệ, tăng tích lũy cho ngân
sách nhà nƣớc, phát triển sản xuất kinh doanh, khai thác ƣu thế tiềm năng đất nƣớc và

ổn định và nâng cao đời sống cho toàn xã hội.
2.3. Xuất khẩu góp phần chuyển dich cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển
Nhƣ những vai trò trên đã nêu, nhờ xuất khẩu mà sản xuất một mặt hàng nào đó
có thể phát triển và nhƣ vậy sự phát triển này có thể kéo theo sự phát triển sản xuất của
một số mặt hàng khác liên quan. Bên cạnh đó, xuất khẩu là tham gia vào thị trƣờng 7

mới đòi hỏi sản xuất trong nƣớc càng phải tích cực cải tiến nhằm cạnh tranh với sản
xuất của các quốc gia khác. Thông qua những tác động này, xuất khẩu đã thúc đẩy
nâng cao sản xuất chung của toàn nền kinh tế. Bên cạnh đó, khi sản xuất phát triển
cùng với việc tạo tiền đề cho sự phát triển của các yếu tố sản xuất thì quốc gia có thể
tích lũy đƣợc các nhân tố tạo nên lợi thế so sánh mới. Chính những lợi thế so sánh mới
này, nhờ vào xuất khẩu, lại đƣa đến chuyên môn hóa vào sản xuất những mặt hàng
mới, lúc này trọng tâm thúc đẩy sản xuất thay đổi và dẫn tới sự chuyển dịch cơ cấu
kinh tế. Thực tế đã cho thấy rất nhiều quốc gia đã có sự chuyển dịch kinh tế mạnh mẽ
và trở thành các nƣớc công nghiệp mới nhờ vào xuất khẩu, tiêu biểu phải kể đến là
những nền kinh tế mới nổi ở khu vực Đông Á nhƣ: Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan,
Singapore…
2.4. Xuất khẩu góp phần thúc đẩy và mở rộng các quan hệ kinh tế đối ngoại
Xuất khẩu là một bộ phận quan trọng của kinh tế đối ngoại. Hoạt động xuất
khẩu và các hoạt động kinh tế đối ngoại khác luôn có quan hệ mật thiết gắn bó và phụ
thuộc nhau. Khi xuất khẩu phát triển thì các dịch vụ đi kèm nhƣ quan hệ tín dụng, đầu
tƣ, hợp tác, liên doanh đƣợc mở rộng, từ đó tăng cƣờng quan hệ hợp tác giữa các quốc
gia. Nâng cao vị thế quốc gia trên trƣờng quốc tế và góp phần ổn định về kinh tế, chính
trị, xã hội cho quốc gia đó.
2.5. Khai thác lợi thế kinh tế quốc gia
Nhƣ các vai trò đã kể trên, có thể thấy nhờ xuất nhập khẩu, một quốc gia có thể
phát hiện, khai thác và tự tạo thêm đƣợc các lợi thế so sánh trong thƣơng mại quốc tế.

của Newton lần đầu tiên đƣợc đƣa ra áp dụng trong phân tích kinh tế bởi Timbergen
vào năm 1962 với dạng đơn giản nhƣ sau:

Trong đó:
A: là hệ số hấp dẫn, cản trở
: là kim ngạch trao đổi thƣơng mại giữa hai quốc gia i và j 9

: là quy mô nền kinh tế của nƣớc i
: là quy mô nền kinh tế của nƣớc j
: là “khoảng cách
3
” giữa hai nƣớc
: là hệ số thể hiện mức độ tác động của từng yếu tố trong mô hình
Ban đầu mô hình hấp dẫn trong thƣơng mại quốc tế bị phê phán bởi nhiều nhà
khoa học do chƣa có căn cứ lý thuyết nền tảng. Tuy nhiên, sau đó đã có rất nhiều
những bài nghiên cứu chứng minh cho cơ sở lý thuyết hàm chứa trong mô hình này.
Theo nghiên cứu của Do Thai Tri (2006) đã tổng hợp, có một vài nghiên cứu chứng
minh cho lý thuyết kinh tế cho mô hình hấp dẫn có thể kể ra nhƣ:
Mở đầu là nghiên cứu của Linneman (1966) chứng minh cho mô hình trên cơ sở
cân bằng tổng giá trị xuất nhập khẩu của toàn nền kinh tế. Thƣơng mại giữa hai nƣớc
chịu tác động của nhóm các yếu tố cung của nƣớc xuất khẩu, nhóm các yếu tố cầu của
nƣớc nhập khẩu, và một số yếu tố mang tính cố hữu ảnh hƣởng đến thƣơng mại giữa
hai nƣớc, sau đó cho các nền kinh tế cân bằng bằng cách cho cung xuất khẩu bằng cầu
và thu đƣợc mô hình hấp dẫn trong thƣơng mại.
Bên cạnh đó, trong nghiên cứu của Bergstrand (1985) lại sử dụng những lý
thuyết kinh tế vi mô cho từng ngành: cung hàng một ngành của một quốc gia đƣợc cho
là tạo nên bởi hoạt động tối đa hóa lợi nhuận của các doanh nghiệp trong khi cầu hàng

đƣợc trình bày ở phần tiếp theo.
2. Các nhân tố ảnh hƣởng đến hoạt động xuất nhập khẩu của từng nhóm
hàng
Dựa trên cơ sở lý thuyết về mô hình hấp dẫn nhƣ trên đã nói, tựu trung lại, các
yếu tố ảnh hƣởng đến các luồng thƣơng mại quốc tế đƣợc xếp vào 3 nhóm chính: nhóm
các yếu tố ảnh hƣởng đến cung, nhóm các yếu tố ảnh hƣởng đến cầu và nhóm các yếu
tố hấp dẫn/ cản trở nhƣ Sơ đồ 1.2.2.1 11 2.1. Nhóm các yếu tố ảnh hƣởng đến cung và nhóm các yếu tố ảnh hƣởng đến cầu
Cung và cầu hình thành nên luồng thƣơng mại, do đó những yếu tố tác động tới
cung và cầu hàng hóa sẽ là những yếu tố quan trọng trong việc xét tác động tới luồng
xuất khẩu của một quôc gia. Trong nhóm các yếu tố ảnh hƣởng đến cung và nhóm các
yếu tố ảnh hƣởng đến cầu thì có hai yếu tố chính yếu: đó là yếu tố thu nhập (thƣờng
đƣợc đại diện bởi giá trị tổng sản phẩm quốc nội GDP hoặc tổng sản phẩm quốc dân
GNP) và yếu tố dân số của cả nƣớc nhập khẩu và nƣớc xuất khẩu. Tác động của các
yếu tố này nhƣ thế nào sẽ đƣợc trình bày rõ hơn trong phần dƣới đây.
2.1.1. Thu nhập của nước xuất khẩu và nước nhập khẩu
2.1.1.1. GDP của nước xuất khẩu
Biên giới
nước xuất
khẩu
Biên giới
nước nhập
khẩu
Các yếu tố ảnh hưởng đến luồng thương mại quốc tế
Nước xuất

Sơ đồ 1.2.2.1: Mô hình trọng lƣợng (hấp dẫn) trong thƣơng mại quốc tế
Nguồn: Đào Ngọc Tiến (2008)
12

Khi xét yếu tố thu nhập của nƣớc xuất khẩu đại diện cho khả năng mua hàng,
có thể xét đến giá trị tổng sản phẩm quốc nội (GDP) ở đây, giá trị này sẽ đại diện cho
yếu tố cung hàng xuất khẩu. Về cơ bản, khi tổng giá trị hàng hóa và dịch vụ sản xuất
trong lãnh thổ của một nƣớc tăng lên sẽ đồng nghĩa với lƣợng cung hàng của nƣớc đó
tăng lên và nƣớc đó càng có cơ hội xuất khẩu nhiều hơn.
Tuy nhiên, mức độ ảnh hƣởng của yếu tố giá trị sản xuất xuất khẩu trong các
nến kinh tế là khác nhau: đối với những nền kinh tế lấy xuất khẩu là động lực thì xuất
khẩu và thu nhập quốc dân có mối liên hệ chặt chẽ (bởi các ngành sản xuất chính trong
nền kinh tế phục vụ cho mục đích xuất khẩu nên khi giá trị sản xuất gia tăng sẽ đồng
nghĩa với cung cho xuất khẩu tăng mạnh từ đó thúc đẩy xuất khẩu tăng cao); đối với
những nền kinh tế không hƣớng theo mục tiêu xuất khẩu thì khi giá trị sản xuất gia
tăng lên chƣa hẳn đã ảnh hƣởng nhiều đến giá trị xuất khẩu hàng hóa.
Bên cạnh đó, do đặc thù của từng ngành sản xuất nên cơ cấu cũng nhƣ tốc độ
gia tăng trong cung các nhóm hàng hóa trong nền kinh tế là không đều, vì thế, khi giá
trị sản xuất tăng lên sẽ khiến cho cung xuất khẩu của các mặt hàng tăng lên có sự khác
biệt. Hay nói cách khác tác động của yếu tố thu nhập nƣớc xuất khẩu lên xuất khẩu các
nhóm hàng khác nhau là khác nhau.
Ngƣợc lại với trƣờng hợp khả năng sản xuất gia tăng, khi giá trị sản xuất của
một quốc gia giảm xuống thì sẽ có những tác động giảm đối với giá trị xuất khẩu hàng
hóa.
2.1.1.2. GDP của nước nhập khẩu
Xét về nƣớc nhập khẩu, nếu GDP hay chính xác hơn phải nhắc đến GDP bình
quân đầu ngƣời của một nƣớc lớn thì đi kèm với thu nhập của quốc gia đó cao, điều

Felicitas Nowak-Lehmann D. (2003) cho trƣờng hợp của các nƣớc EU
5
và các nƣớc
trong khối MECOSUR
6
.... Tuy nhiên, những tác động tìm thấy trong các nghiên cứu
này khi so sánh với nhau lại không đồng đều nên không thể kết luận đƣợc đây là nhân
tố gây tác động mạnh hay yếu tới xuất khẩu. Điều này có thể đƣợc giải thích bởi các
mẫu đƣợc lấy trong nghiên cứu là các nƣớc khác nhau nên ảnh hƣởng của yếu tố đặc

4
Khu thƣơng mại tự do Châu Mỹ
5
Liên minh Châu Âu
6
Khối các nƣớc tham gia vào hiệp định thƣơng mại tự do Mercado Común del Sur bao gồm: Brazil,
Argentina, Uruguay, Paraguay, Venezuela, Bolivia, Chile, Colombia, Ecuador và Peru. 14

thù từng quốc gia gây ra những khác biệt đó. Đó mới chỉ là những nghiên cứu cho tổng
giá trị hàng hóa, còn khi tách riêng tác động tới giá trị xuất khẩu của các nhóm hàng thì
lại chỉ có rất ít nghiên cứu có thể tìm đƣợc nhƣ nghiên cứu của H. Mikael Sandberg
(2004) xét xuất khẩu hai nhóm hàng: hàng lƣơng thực thực phẩm (food products) và
hàng công nghiệp (manufactured products) hay nghiên cứu của Nguyễn Thanh Thủy và
Jean-Louis Arcand (2009) xét trao đổi thƣơng mại của ba nhóm hàng: hàng hóa đồng
nhất (homogeneneous goods), hàng hóa giá tham chiếu (reference price goods) và hàng
hóa khác biệt (heterogeneous goods). Hai nghiên cứu này tuy cách phân loại hàng khác
nhau nhƣng đều chỉ ra mức độ tác động của yếu tố thu nhập tới xuất khẩu của các

2.1.2.1. Dân số của nước xuất khẩu
Dân số là yếu tố quan trọng ảnh hƣởng tới khả năng xuất khẩu của một quốc
gia. Với các kênh tác động khác nhau, yếu tố dân số tác động đến xuất khẩu nhƣ sau:
Với kênh tác động đến nguồn lao động, khi dân số tăng sẽ tăng nguồn lao động,
tăng khả năng sản xuất và tăng cung xuất khẩu. Bên cạnh đó, dân số còn tác động đến
cầu ở thị trƣờng trong nƣớc đối với hàng hóa, mặt khác yếu tố cầu ở thị trƣờng trong
nƣớc cũng gây ảnh hƣởng tới xuất khẩu. Ta có thể thấy đƣợc mối liên hệ: Với số lƣợng
ngƣời mua nhiều sẽ tạo sự đa dạng về nhu cầu và sức ép cạnh tranh giữa họ, nhờ đó mở
rộng thông tin thị trƣờng và thúc đẩy doanh nghiệp cải tiến kĩ thuật và đa dạng hóa sản
phẩm. Hơn nữa, nhiều ngƣời mua sẽ làm giảm rủi ro khả năng mặc cả của ngƣời mua
quá mạnh, tạo thị trƣờng tiềm năng, khuyến khích thêm nhiều doanh nghiệp tham gia
vào thị trƣờng, tăng cung hàng, từ đó càng tạo đà cho hoạt động xuất khẩu. Những tác
động theo chiều hƣớng này cho thấy dân số và xuất khẩu có mối quan hệ cùng chiều.
Điều này khớp với khá nhiều nghiên cứa thực nghiệm của K. Doanh Nguyen và Yoon
Heo (2009) và của H. Mikael Sandberg (2004) nhƣ đã đề cập.
Theo một kênh tác động khác, một chiều hƣớng khác đƣợc chỉ ra, đó là yếu tố
dân số này có gây ra cả tác động ngƣợc chiều đến xuất khẩu nhƣ nghiên cứu của
Inmaculada Martínez-Zarzoso và Felicitas Nowak-Lehmann D. (2003), của Jacob A.
Bikker (2009). Dân số nƣớc xuất khẩu đông đại diện cho quy mô thị trƣờng lớn cũng
có thể làm giảm sức ép bán hàng ra thị trƣờng quốc tế và do đó làm giảm tính năng
động của doanh nghiệp trong nƣớc, từ dó kìm hãm xuất khẩu phát triển. Nhƣ vậy trên
cả lý thuyết và thực nghiệm đều cho thấy xu hƣớng tác động của yếu tố dân số tới xuất
khẩu của quốc gia là không rõ ràng. 17

Ngoài ra, yếu tố dân số của một nƣớc với các đặc điểm nhƣ quy mô dân số, tỉ lệ
phân chia dân số theo độ tuổi, giới tính, tỉ lệ lao động, trình độ văn hóa, trình độ
chuyên môn tạo nên cung lao động khác nhau cho các ngành sản xuất. Ngoài ra, với

2.2.1. Các chính sách khuyến khích/quản lý xuất nhập khẩu của các quốc gia
Các chính sách khuyến khích quản lý hoạt động xuất khẩu của một nƣớc và
chính sách khuyến khích/quản lý nhập khẩu của nƣớc đối tác gây tác động mạnh đến
hoạt động xuất nhập khẩu. Những chính sách này có thể tác động trực tiếp hoặc gián
tiếp đến xuất nhập khẩu tùy thuộc vào công cụ mà các nƣớc sử dụng: các chính sách
liên quan đến điều chỉnh các rào cản thƣơng mại, chính sách tỷ giá, và các chính sách
khác. Trong giới hạn của bài Nghiên cứu, các tác giả chỉ đề cập đến các yếu tố tác
động trực tiếp đến xuất khẩu: các chính sách liên quan đến điều chỉnh rào cản thƣơng
mại, và chính sách tỷ giá hối đoái.
2.2.1.1. Các chính sách liên quan đến điều chỉnh những rào cản thương mại.
Các rào cản thƣơng mại quốc tế bao gồm những biện pháp thuế quan và phi thuế
quan, những rào cản này gây ảnh hƣởng đến xuất nhập khẩu một cách rõ ràng. Khi các
rào cản thƣơng mại tăng lên nhƣ tăng thuế nhập khẩu hay yêu cầu các tiêu chuẩn đối
với hàng hóa nhập khẩu cao hơn thì sẽ dẫn đến việc hạn chế luồng hàng hóa xuất nhập
khẩu. Ngƣợc lại khi các rào cản này giảm đi (khi quốc gia tham gia vào các khu vực
mậu dịch tự do, ký kết các hiệp định hợp tác kinh tế, giảm thuế, quy định tiêu chuẩn
linh hoạt…) sẽ tạo thuận lợi hơn cho luồng thƣơng mại quốc tế, do vậy sẽ thúc đẩy kim
ngạch xuất nhập khẩu nói chung. Điều này khớp với các nghiên cứu thực nghiệm đều
chỉ ra thuế có tác động ngƣợc chiều đến giá trị xuất khẩu. Với trƣờng hợp của Việt
Nam thì nghiên cứu của Đào Ngọc Tiến (2009) cũng chỉ ra rằng thuế có tác động tiêu
cực tới tổng giá trị xuất khẩu song tác động ấy là không đáng kể so với các rào cản
thƣơng mại khác. Tuy vậy, cũng có rất nhiều nghiên cứu chỉ ra những tác động trái
chiều nhau của việc giảm rào cản thƣơng mại thông qua tham gia hợp tác kinh tế hay 19

các khu vực mậu dịch tự do. Nhƣ nghiên cứu của Céline Carrere (2003) chỉ ra giá trị
trao đổi thƣơng mại giữa hai quốc gia sẽ chịu tác động có thể cả tích cực và tiêu cực
bởi tham gia vào cùng một khối kinh tế. Theo nhƣ nghiên cứu đó, có khối kinh tế thúc

so với ngoại tệ thì sẽ khiến cho lƣợng xuất khẩu giảm. Tuy nhiên đó mới chỉ là tác
động của tỷ giá tới khối lƣợng xuất khẩu, còn tác động của tỷ giá đến kim ngạch xuất
khẩu nhƣ thế nào thì còn phụ thuộc vào độ co giãn của cầu hàng xuất khẩu đối với giá.
Nếu cầu hàng hóa là co giãn đối với giá thì khi tỷ giá ngoại tệ so với nội tệ tăng lên sẽ
khiến tổng kim ngạch xuất khẩu tính theo ngoại tệ tăng lên. Nếu cầu hàng hóa là ít co
giãn thì khi tỷ giá tăng sẽ khiến kim ngạch xuất khẩu tính theo ngoại tệ giảm đi. Nhƣ
vậy đối với các nhóm hàng khác nhau có mức độ co giãn của cầu theo giá là không
đồng nhất thì chịu tác động khác nhau của tỷ giá hối đoái.
Cùng với việc tác động vào yếu tố cầu thì tỷ giá cũng có tác động khác nhau đến
cung hàng xuất khẩu. Khi tỷ giá thay đổi khiến doanh thu của doanh nghiệp tăng, chi
phí đầu vào giảm thì sẽ thúc đẩy mở rộng sản xuất, càng tăng cung cho xuất khẩu.
Bên cạnh việc tỷ giá tăng hay giảm có những tác động trực tiếp trái chiều nhau
tới kim ngạch xuất khẩu thì biến động tỷ giá của các đồng tiền cũng ảnh hƣởng tới xuất
khẩu hàng hóa của một quốc gia. Theo nhƣ trong nghiên cứu của Frank (1991), tỷ giá
biến động khiến cho nhà xuất khẩu phải tiến hành các biện pháp đề phòng rủi ro và
khiến cho chi phí họ phải bỏ ra cao hơn, từ đó lại làm giảm động lực xuất khẩu. Tuy
nhiên, nếu doanh nghiệp ngừng xuất khẩu do rủi ro tỷ giá thì doanh nghiệp sẽ phải
gánh chịu chi phí rút lui khỏi thị trƣờng. Và Frank đã đƣa ra kết luận hai chiều tác động
này sẽ yêu cầu doanh nghiệp phải tối đa hóa lợi nhuận và lựa chọn tăng hay giảm xuất
khẩu rất khác nhau. Do vậy, có thể nói biến động của tỷ giá gây những tác động không
rõ ràng đến xuất khẩu.
Trƣờng hợp xét về hàng hóa của Việt Nam thì nghiên cứu thực nghiệm của Do
Thai Tri (2006) cho tổng kim ngạch xuất khẩu giai đoạn từ 1995 đến 2004 và nghiên
cứu của Nguyễn Thị Quy cùng các cộng sự (2008) cho các mặt hàng chủ lực trong giai
đoạn từ 1989 đến 2006 đã chỉ ra tỷ giá nội tệ so với ngoại tên có tác động ngƣợc chiều 21

đến giá trị xuất khẩu, hay nói cách khác, tỷ giá thực của ngoại tệ so với nội tệ tăng lên

cao nhƣ trong nghiên cứu của Từ Thúy Anh và Đào Nguyên Thắng (2008) và giải
thích cho mức ý nghĩa thấp này là bởi giá xuất khẩu đƣợc tính theo giá FOB chƣa bao
gồm chi phí vận chuyển, cũng có thể giải thích bởi trong số hàng hóa xuất khẩu có
những mặt hàng không chịu tác động của yếu tố thời gian hay phƣơng thức vận chuyển 23

do khoảng cách gây ra. Vậy khi xem xét đầy đủ với xuất khẩu từng nhóm hàng của
Việt Nam thì tác động của yếu tố khoảng cách địa lý là nhƣ thế nào?
2.2.2.2. Khoảng cách về trình độ phát triển kinh tê
Sự tƣơng đồng về trình độ phát triển kinh tế có thể cản trở hoặc hấp dẫn đối với
thƣơng mại giữa hai nƣớc. Nếu hai nƣớc có cùng trình độ phát triển thì nhu cầu về các
mặt hàng chính, thị hiếu tiêu dùng, yêu cầu chất lƣợng sản phẩm cũng tƣơng đƣơng
nhau, do vậy hàng hóa của nƣớc này dễ dàng đáp ứng các yêu cầu của nƣớc kia và
thuận lợi cho việc thúc đẩy xuất khẩu. Ngƣợc lại, nếu hai nƣớc có sự cách biệt lớn về
trình độ phát triển nhƣ trƣờng hợp các nƣớc kém phát triển, hàng hóa của họ sẽ khó
đáp ứng đƣợc các yêu cầu ngày càng cao của các nƣớc phát triển, do vậy hạn chế khả
năng xuất khẩu.
Tuy nhiên sự cách biệt lớn về kinh tế lại có thể thể hiện cho việc dƣ thừa các
yếu tố sản xuất là khác nhau và theo lý thuyết H – O thì lại tăng luồng trao đổi thƣơng
mại hàng hóa với những mặt hàng có độ thâm dụng các yếu tố đầu vào khác nhau.
Nhiều nghiên cứu thực nghiệm đã chỉ ra tác động dƣơng của sự khác biệt theo chiều
hƣớng này nhƣ có thể thấy trong bảng 1.2. Theo nhƣ bảng này thì các nghiên cứu thực
nghiệm cũng không thể khẳng định đƣợc xu hƣớng tác động của yếu tố khoảng cách
kinh tế.
Bên cạnh hai yếu tố khoảng cách chính nhƣ đã trình bày: khoảng cách địa lý và
khoảng cách kinh tế thì có rất nhiều các yếu tố khác gây ra những ảnh hƣởng gián tiếp
đến trao đổi thƣơng mại giữa các quốc gia nhƣ văn hóa, lịch sử, thể chế chính trị…
những yếu tố này chủ yếu tác động đến xuất khẩu thông qua quan hệ sản xuất làm ảnh

động
Nghiên cứu
Các yếu tố cung và cầu
GDP gộp chung hai nƣớc Cùng chiều Từ Thúy Anh và Đào Nguyên Thắng (2008), Do Thai Tri (2006), Đào Ngọc
Tiến (2009), Tiiu Paas (2000), Nguyễn Thanh Thủy và Jean-Louis Arcand
(2009)
GDP nƣớc xuất khẩu Cùng chiều Céline Carrere (2003), H. Mikael Sandberg (2004), Inmaculada Martínez-
Zarzoso và Felicitas Nowak-Lehmann D. (2003),
GDP nƣớc nhập khẩu Cùng chiều Céline Carrere (2003), H. Mikael Sandberg (2004), Inmaculada Martínez-
Zarzoso và Felicitas Nowak-Lehmann D. (2003)
Dân số gộp chung hai
nƣớc
Cùng chiều Đào Ngọc Tiến (2009), Do Thai Tri (2006),
Dân số nƣớc xuất khẩu Cùng chiều

Ngƣợc chiều
K. Doanh Nguyen và Yoon Heo (2009) và của H. Mikael Sandberg (2004)

Inmaculada Martínez-Zarzoso và Felicitas Nowak-Lehmann D. (2003), Jacob A.
Bikker (2009)
Dân số nƣớc nhập khẩu Ngƣợc chiều Inmaculada Martínez-Zarzoso và Felicitas Nowak-Lehmann D. (2003), Céline
Carrere (2003), Jacob A. Bikker (2009)
Các yếu tố hấp dẫn/cản trở
Chính sách khuyến khích/ quản lý xuất nhập khẩu của các nước
Thuế Ngƣợc chiều Đào Ngọc Tiến (2009)
Tham gia các khu mậu
dịch tự do, khối hợp tác
kinh tế
Cùng chiều


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status