những yếu tố tác động tới sự biến đổi xã hội - Pdf 24

ĐỀ BÀI
Những yếu tố tác động tới sự biến đổi
1. Kinh tế (tăng trưởng hay lạm phát)
2. Chính trị (quan điểm lãnh đạo và các chính sách xã hội, hệ tư tưởng)
3. Văn hóa (sự truyền bá những lối sống mới)
4. Xã hội (loại hình tổ chức đời sống xã hội)
5. Khoa học kỹ thuật và công nghệ
6. Môi trường tự nhiên
7. Yếu tố dân số
Các vấn đề trình bày còn dàn trải, chưa tập trung. Vấn đề chính cần giải quyết là
các yếu tổ (kể trên) tác động như thế nào đến sự biến đổi xã hội. Hay Bản chất
của biến đổi xã hội là thay đổi cấu trúc, văn hóa của xã hội. Vậy những yếu tố
của biến đổi xã hội làm thay đổi cấu trúc xã hội như thế nào????????????????
BÀI LÀM
I – ĐẶT VẤN ĐỀ
Cũng giống như tự nhiên, mọi xã hội không ngừng biến đổi. Sự ổn định
của xã hội chỉ là sự ổn định của bề ngoài, còn thực tế nó không ngừng thay đổi
bên trong bản thân nó. Bất cứ xã hội nào và bất cứ nền văn hóa nào, cho dù nó có
bảo thủ và cổ truyền đến đâu chăng nữa cũng luôn biến đổi; sự biến đổi trong xã
hội hiện đại ngày càng rõ hơn, nhanh hơn, và điều này cho thấy rõ hơn là sự biến
đổi đó không còn là điều mới mẻ, nó đã trở thành chuyện thường ngày. Mọi cái
đều biến đổi và xã hội cũng giống như các hiện thực khác, không ngừng vận
động và thay đổi. Tất cả các xã hội đều ở trong một thực trạng đứng yên trong sự
vận động liên tục. Có nhiều cách quan niệm về sự biến đổi xã hội, như:
Phạm vi rộng: biến đổi xã hội là một sự thay đổi so sánh với một tình
trạng xã hội hoặc một nếp sống có trước;
Phạm vi hẹp: biến đổi xã hội là sự biến đổi về cấu trúc xã hội hay tổ chức
xã hội của xã hội đó, mà sự biến đổi này ảnh hưởng sâu sắc đến phần lớn các
thành viên của một xã hội;
Ở Việt Nam, xã hội cũng luôn vận động và biến đổi không ngừng. Sau đây
là một số yếu tố đã và đang tác động làm biến đổi xã hội: yếu tố kinh tế, chính trị,

nói chung, trong tổng thể, chỉnh thể của nó, nhất là từ đổi mới kinh tế và đổi mới
chính trị, cùng với những tác động vừa trực tiếp vừa sâu xa của những đổi mới,
những biến đổi về văn hoá, về môi trường và hoàn cảnh xã hội. Và điều này
cũng không kém phần quan trọng, những biến đổi xã hội đã tác động trở lại đối
với những biến đổi kinh tế, chính trị và văn hoá. Tác nhân xã hội là điều không
thể không tính đến trong sự nhận diện, phân tích và đánh giá về đổi mới, phát
triển và tiến bộ xã hội ở Việt Nam nói chung. Mặt khác, đổi mới ởViệt Nam còn
gắn liền với mở cửa và hội nhập quốc tế. Đây chẳng những là sự thay đổi căn bản
về tư duy, nhận thức đối với phát triển mà còn thay đổi cả về cách thức và mô
hình phát triển của Việt Nam trong bối cảnh mới của thế giới toàn cầu.
a. Đường lối của Đảng và chính sách xã hội
Khi đi vào đổi mới, áp dụng cơ chế thị trường và từng bước phát triển nền kinh
tế thị trường, tư duy lãnh đạo và quản lý về lĩnh vực xã hội, về vai trò và tầm
quan trọng của chính sách xã hội trong quản lý đã có sự thay đổi về căn bản.Bước
tiến này trong nhận thức xã hội và phát triển xã hội được tạo ra từ thực tiễn đổi
mới kinh tế
Trước đổi mới (từ 1985 trở về trước), ở Việt Nam chỉ có kinh tế kế hoạch
hoá tập trung với vai trò tuyệt đối của Nhà nước trong quản lý kinh tế mà thực
chất là Nhà nước can thiệp sâu vào các hoạt động sản xuất, kinh tế, từ Trung
ương tới địa phương, bằng phương thức mệnh lệnh hành chính. Đó là nền kinh
tế hiện vật và bao cấp, đi liền với phương thức phân phối bình quân, không
thể hiện tính khách quan của quy luật giá trị, quy luật thị trường.
Trên thực tế, Nhà nước độc quyền sản xuất - kinh doanh. Trong quan hệ
sở hữu chỉ có sở hữu Nhà nước (đại diện cho sở hữu xã hội) và sở hữu tập thể.
Không có kinh tế tư nhân, không có thị trường và càng không có cạnh tranh.
Cơ cấu kinh tế biểu hiện tập trung ở công nghiệp và nông nghiệp do Nhà nước
chi phối. Mô hình kinh tế này cùng với phương thức phân phối bình quân chia
đều đã không thể phát triển trong điều kiện bình thường, nó thiếu hụt động lực
nội tại để phát triển. Sau chiến tranh, sự trì trệ, lạm phát và khủng hoảng đã xảy
ra như một tất yếu.

tế - xã hội với xã hội - kinh tế vì mục tiêu phát triển con người và xã hội, cá nhân
và cộng đồng.
Biến đổi xã hội này có tầm quan trọng chiến lược, bởi nó làm thay đổi
nhận thức từ chủ thể lãnh đạo, quản lý, có thẩm quyền ra các quyết sách, đường
lối và chính sách. Chú trọng tới lợi ích và nhu cầu trong đời sống của con người
là chú trọng tới nhân tố quan trọng hàng đầu của lực lượng sản xuất và của phát
triển xã hội nói chung
Biến đổi xã hội này còn có ý nghĩa sâu xa và to lớn hơn nữa, ở chỗ, mọi
chính sách phải hướng tới phục vụ lợi ích và phát triển các tiềm năng sáng tạo
của con người, coi con người là mục tiêu và động lực của đổi mới và phát triển,
do đó con người trở thành tiêu điểm của mọi chính sách. Đây là định hướng nhân
văn của phát triển xã hội.
Sau những năm đổi mới cùng với các chính sách phát triển kinh tế. Đảng
và Nhà nước đã ban hành một hệ thống chính sách xã hội hướng vào phục vụ lợi
ích và phát triển toàn diện con người như: Chính sách giải quyết việc làm và thu
nhập, giáo dục, chăm sóc bảo vệ sức khoẻ, chính sách dân tộc và tôn giáo, chính
sách đối với người có công với đất nước
Nhờ đó Việt Nam đã đạt được những thắng lợi to lớn về kinh tế - xã hội. Từ
một nước cái gì cũng thiếu nay đã dư thừa, từ chỗ lạc hậu về cơ sở hạ tầng nay
từng bước xây dựng hiện đại. Nói chung nước ta trở thành một nước có nền kinh
tế năng động, ổn định và phát triển nhanh.
Tuy nhiên để thu hẹp khoảng cách giữa Việt Nam với nước phát triển còn
rất nhiều chính sách chúng ta phải giải quyết, những chính sách xã hội: nổi lên
gay gắt như: Người chưa có việc làm, thiếu việc làm ngày càng tăng. Sự phân
hoá giàu nghèo tăng nhanh tệ nạn xã hội và tội phạm có chiều hướng gia tăng,
trong các chính sách nêu trên lao động và việc làm đang là một sức ép lớn, là một
trong những chính sách có tính toàn cầu, là mối quan tâm lớn của nhân loại nói
chung và của mỗi quốc gia nói riêng trong đó có Việt Nam chúng ta.
Hiện nay Việt Nam đang trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nước do đó việc nghiên cứu chính sách giải quyết việc làm có ý nghĩa rất thiết

trưởng kinh tế còn hạn chế. Trong các năm 2006- 2008, năng suất lao động chung
của nền kinh tế tăng từ 22,5 lên 26,5 triệu đồng/năm. Trong điều kiện tốc độ tăng
trưởng kinh tế trong 2 năm đầu của kế hoạch 2006- 2010 là tương đối khả quan
nhưng năng suất lao động của nền kinh tế vẫn không được cải thiện nhiều thì sự
chững lại của tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2008 và có thể cả trong một vài
năm tiếp theo sẽ còn làm chậm hơn nữa tốc độ tăng của năng suất lao động.
Về xuất khẩu lao động: Trong 10 tháng qua, cả nước đã đưa được khoảng
72.500 lao động đi làm việc ở nước ngoài, đạt khoảng 85,0% kế hoạch năm.
Trong khi đó, rất nhiều người chuyển nguyện vọng sang các nước châu Âu, úc,
Canada, Mỹ, Hàn Quốc… Chưa bao giờ hoạt động xuất khẩu lao động lại ở trong
tình trạng phân hoá thị trường và nguồn lao động mạnh mẽ như hiện nay…
Bên cạnh những kết quả đã đạt được vẫn còn nhiều yếu kém bất cập:
- Tác động chủ động trong chuyển dịch cơ cấu lao động không rõ, hình
thành một cách tự nhiên hơn là có sự điều tiết chủ động. Lao động khu vực nông
nghiệp giảm, nhưng không hẳn là đã dịch chuyển sang khu vực công nghiệp - xây
dựng hay dịch vụ mà cả triệu lao động là nông dân sau khi bị thu hồi đất, rất ít
người tìm được việc làm mới. Số còn lại là thất nghiệp. Trước đây, lao động nông
nghiệp chỉ thiếu việc làm - không có thất nghiệp toàn phần, thì nay số lao động
thất nghiệp toàn phần có xu hướng tăng lên.
- Cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường là một tất yếu dẫn đến thường
xuyên có lao động mất việc làm; hằng năm, lại có thêm 1,1 triệu người bước vào
độ tuổi lao động, khoảng nửa triệu học sinh, sinh viên, người học nghề tốt nghiệp
ra trường nhưng hệ thống chính sách chưa bảo đảm cho người lao động cần
việc là có việc; chưa bảo đảm ổn định tương đối lực lượng lao động sản xuất kinh
doanh trong những thời gian nhất định. Người sử dụng lao động khu vực ngoài
quốc doanh, thường xuyên thay đổi lực lượng lao động bằng cách ký nhiều hợp
đồng lao động ngắn hạn. Hơn nữa, từ phía người lao động, nhiều người bỏ việc,
tự do di chuyển nơi làm việc mà luật pháp, chính sách không kiểm soát được.
- Việc làm ăn kém hiệu quả của không ít các tập đoàn kinh tế, các tổng
công ty, các doanh nghiệp nhà nước dẫn đến nợ nần quá lớn; việc nhập siêu với

động nhằm hình thành một hệ thống đồng bộ từ thu thập, xử lý tới phân tích, dự
báo, quản lý và cung cấp thông tin thị trường lao động theo các cấp trình độ, các
ngành nghề, lĩnh vực, đáp ứng yêu cầu về đào tạo và phát triển kinh tế của các
vùng, ngành, các khu công nghiệp.
Thứ sáu, tăng cường kiểm tra, giám sát, quản lý các dự án, hoạt động trong
Chương trình trong việc cho vay giải quyết việc làm, đầu tư nâng cao năng lực
các Trung tâm giới thiệu việc làm… Phối hợp với các cơ quan liên quan xử lý
nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật.
Thứ bảy, tập trung bồi dưỡng, nâng cao năng lực của cán bộ làm công tác
lao động việc làm. Tiếp tục mở nhiều các lớp tập huấn, chuyển giao kỹ thuật tiến
bộ và đào tạo kỹ năng nghề và kỹ năng giao tiếp thực hành cho người lao động để
đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu của thị trường lao động nước ngoài.
Tám là, đẩy mạnh công tác nghiên cứu thị trường lao động thế giới và các
nước để từ đó đưa ra các chính sách phù hợp cho việc xuất khẩu lao động sang
các nước, tránh để tình trạng phân tán như hiện nay.
Chín là, kiểm soát và giám sát chặt chẽ thị trường xuất khẩu lao động để
hạn chế tình trạng lừa đảo hoặc đẩy chi phí xuất khẩu lao động lên quá cao gây
thiệt hại và khó khăn cho người có nhu cầu xuất khẩu lao động
2. Tác động của yếu tố văn hoá tới sự biến đổi xã hội
a . Khái niệm văn hoá
Có nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa, mỗi định nghĩa phản ánh một
cách nhìn nhận và đánh giá khác nhau. Ngay từ năm 1952 , hai nhà nhân loại học
Mỹ là Alfred Kroeber và Clyde Kluckhohn đã từng thống kê có tới 164 định
nghĩa khác nhau về văn hóa trong các công trình nổi tiếng thế giới. Văn hóa được
đề cập đến trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu như dân tộc học, nhân loại học (theo
cách gọi của Mỹ hoặc dân tộc học hiện đại theo cách gọi của Châu Âu),dân gian
học, địa văn học, văn hóa học, xã họi học , và trong mỗi lĩnh vực nghiên cứu đó
định nghĩa về văn hóa cũng khác nhau.
Tuy nhiên có thể hiểu một cách chung nhất Văn hóa là sản phẩm của loài
người, văn hóa được tạo ra và phát triển trong quan hệ qua lại giữa con người và

Việt Nam ngày nay đang trong quá trình vận động và biến đổi mạnh mẽ.
Sự biến đổi này biểu hiện trên nhiều phương diện - không chỉ ở các phương diện
kinh tế, chính trị, xã hội quen thuộc, mà còn cả ở các phương diện văn hóa và lối
sống với mọi biểu hiện vừa đa dạng vừa sinh động của nó.
Những xu hướng biến đổi trong văn hóa và lối sống ở Việt Nam, cũng
như những nguyên nhân, những yếu tố ảnh hưởng đến những biến đổi đó:
1- Việt Nam ngày nay đang ở trong quá trình vận động và biến đổi mạnh
mẽ. Sự phát triển theo hướng công nghiệp hóa và hiện đại hoá về thực chất
sẽ là một quá trình biến đổi mà trong đó cơ cấu xã hội cũng bị thay đổi tận gốc rễ.
Cơ cấu tổ chức của xã hội Việt Nam trước đây là cơ cấu xã hội mà trong
đó hoạt động của các cộng đồng làng xã là nền tảng cơ bản. Nó tồn tại trong suốt
chiều dài của lịch sử Việt Nam và gắn liền với sản xuất nông nghiệp, dựa trên
nền tảng của chế độ công điền công thổ, với việc tự quản cao của các cộng đồng
lãng xã.
Để bước vào xã hội hiện đại với những sự phát triển hoàn toàn mới, mang
tính đột phá cao, lần đầu tiên trong lịch sử, cơ cấu của xã hội Việt Nam truyền
thống sẽ phải đối diện với những sự thay đổi mạnh mẽ nhất, trong đó những trì
trệ và bảo thủ của xã hội nông nghiệp truyền thống sẽ bị phá vỡ. Cơ cấu xã hội
gắn liền với các cộng đồng làng xã sẽ bị thay đổi. Nó giải phóng con người khỏi
tác động đơn tuyến của môi trường xã hội cổ truyền, đồng thời mang lại cho họ
quyền tự do lựa chọn các phương thức sinh sống và phong cách văn hoá mà mình
ưa thích. Sự biến đổi này hoàn toàn không phải ngẫu nhiên, mà có cơ sở xã hội,
hoặc sâu xa, hoặc trực tiếp gắn liền với nó.
Sự biến đổi này biểu hiện trên nhiều phương diện - không chỉ ở các phương diện
kinh tế, chính trị, xã hội quen thuộc, mà còn ở cả các phương diện văn hóa và lối
sống, với mọi biểu hiện vừa đa dạng vừa sinh động của nó. Dưới đây là một số
biểu hiện dễ thấy nhất:
Thứ nhất, đó là sự biến đổi của mỗi cá nhân gắn liền với biến đổi gia
đình.
Trong khoảng vài ba chục năm trở lại đây, kiểu gia đình mở rộng "tam tứ đại

truyền là 60 -65, thì thời kỳ "hậu cha nẹ" của các ông bố bà mẹ ngày nay có thêm
một khoảng thời gian tự do dài thêm 15 năm! Cũng tương tự, do tuổi thọ trung
bình tăng lên, trong khi tuổi nghỉ hưu lại có xu hướng giảm xuống, làm cho thời
kỳ nghỉ hưu của nhóm người thuộc lứa tuổi thứ ba cũng được kéo dài ra. Với
những khoảng thời gian tự do đó, mỗi nhóm tuổi ngày nay đều có thể tham gia
vào các hoạt động mới mẻ như đến nhà nghỉ mát hay đi tham quan, du lịch… mà
ở độ tuổi tương ứng, các bậc tiền bối của họ chưa từng được biết đến.
Thứ ba, sự thay đổi trong quan hệ hàng xóm, láng giềng
Nhìn chung những quan hệ này vẫn giữ được tính chất đoàn kết, nghĩa tình, thậm
chí còn được củng cố hơn bởi mạng lưới xã hội dưới các hình thức khác nhau.
Tuy nhiên, dưới tác động của kinh tế thị trường, do bận công việc làm ăn, các gia
đình có xu hướng "kín cổng cao tường", ít giao lưu hơn trước đây. Đặc biệt ở
thành phố thì các điều kiện giao lưu với hàng xóm, láng giềng càng hạn chế hơn
trước, chủ yếu "nhà nào biết nhà ấy". Do quá trình phát triển kinh tế, những quan
hệ này cũng bị ảnh hưởng bởi nhiều mâu thuẫn nảy sinh, như những vấn đề liên
quan đến đất đai, nợ nần, vướng mắc tranh chấp về thị trường, khách hàng… Tất
cả những điều này đã làm thay đổi không ít các mối quan hệ hàng xóm, láng
giềng.
Như vậy, quan hệ làng xóm trong thời hiện đại, bên cạnh những xu hướng
tốt đẹp đã xuất hiện những yếu tố không tốt. Sự cố kết cộng đồng này nếu được
vận hành tốt thì sẽ trở thành động lực để cả cộng đồng và mỗi thành viên phát
triển.
Thứ tư, sự biến đổi trong văn hóa tiêu dùng.
Có thể quan sát được rằng, đã bắt đầu có những thay đổi quan trọng trong
cơ cấu và thói quen tiêu dùng thực phẩm của người dân thành phố. Từ "ăn no,
mặc ấm" chuyển sang "ăn ngon, mặc đẹp", hay từ "ăn gì" chuyển sang "ăn ở đâu,
với ai"…
Như vậy, nhu cầu của người tiêu dùng không chỉ bao hàm khía cạnh dinh
dưỡng mà cả nhiều khía cạnh khác như mức sống, lối sống, quan niệm về sức
khoẻ và thẩm mỹ đang biến đổi. Nó cũng không chỉ có ý nghĩa đối với người dân

Như vậy, triết lý sống của người Việt đã dần chuyển sang xu hướng thực
dụng. Một bộ phận không nhỏ coi thực dụng là yếu tố chủ đạo, người ta không
quan tâm đến những lý tưởng cao siêu, các cuộc tranh luận mang tính ý thức hệ.
3- Như vậy, sự biến đổi văn hoá và lối sống này chính là sự chuyển tiếp
từ xã hội truyền thống sang xã hội hiện đại được đặc trưng bởi logic chuyển tiếp
từ văn hóa đơn phong cách sang văn hóa đa phong cách. Xu hướng đa dạng hoá
và cá thể hóa đời sống không phải là một đặc thù của Việt Nam, mà là hiện tượng
phổ biến đối với tất cả các quốc gia đã và đang tiến hành công nghiệp hoá và hiện
đại hoá. Nhìn một cách tổng thể, người ta thấy quá trình xã hội sôi động này đang
diễn ra rất nhanh, trong đó không chỉ có những biểu hiện bên ngoài, mà sâu xa
hơn nữa như các vai trò, vị trí xã hội cũng không ngừng thay đổi. Những biểu
hiện muôn hình muôn vẻ đó khiến cho đường ranh giới giữa các nhóm xã hội
không còn thật sử rạch ròi như trong các xã hội truyền thống. Trong các ngành
khoa học xã hội, người ta gọi đây là bước nhảy vọt bất ngờ của tính cơ động xã
hội và sự nhảy vọt này làm cho việc nhận dạng con người cá nhân trở nên khó
khăn hơn rất nhiều.
Sự biến đổi trên là hệ quả của quá trình thực hiện công bằng xã hội, đã
và sẽ tiếp tục góp phần thúc đẩy tính năng động xã hội trong mỗi cá nhân, mỗi
nhóm xã hội, kích thích họ tìm kiếm và khai thác các cơ hội để phát triển vượt
lên. Là kết quả tất yếu của quá trình phát triển xã hội, có tác dụng thúc đẩy quá
trình đó tiếp tục đi lên. Sự biến đổi này có ảnh hưởng hai mặt, tích cực và tiêu
cực.
Với tư cách là một phần trong cơ cấu xã hội, các biến đổi này sẽ là tấm
gương phản ánh những biến đổi xã hội vi mô. Các vấn đề đa dạng và phong phú
của nó đã góp phần vào sự nhận diện các biến đổi xã hội của đất nước trong giai
đoạn hiện nay. Trong bối cảnh của công cuộc đổi mới hiện nay, việc đa dạng hoá
phong cách sinh sống là chuyện tất yếu, phải nhìn nhận những biến đổi này là
một hiện tượng có tính quy luật đối với bất kỳ xã hội nào có trong giai đoạn
chuyển đổi. Vấn đề chỉ là nhận biết mức độ và đánh giá được các hệ quả chính trị
xã hội, bên cạnh những mặt tích cực còn có những mặt tiêu cực của quá trình

Đó là những mặt trái, gây cản trở đối với giáo dục đạo đức, lối sống cho lớp trẻ.
III – KẾT LUẬN
Trên đây là một trong những yếu tố tác động tới sự biến đổi xã hội có tính
điển hình và phổ biến ở Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường, mở cửa, hội
nhập.
Lĩnh vực xã hội là hết sức phức tạp, bởi nó gắn liền với đời sống con
người, các quan hệ xã hội của con người. Cũng chính vì thế, cần phải chú trọng
quản lý phát triển xã hội bằng một hệ giải pháp đồng bộ từ giáo dục nhận thức,
hoàn thiện thể chế và chính sách, đảm bảo môi trường lành mạnh, tạo ra một
không gian văn hoá - đạo đức - pháp lý cho sự lành mạnh của biến đổi xã hội.
Điều đó cho thấy chính trị (quan điểm lãnh đạo và các chính sách xã hội,
hệ tư tưởng), văn hóa (sự truyền bá những lối sống mới) có tác động rất lớn tới sự
biến đổi của xã hội.
Nếu chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng đi đúng hướng sẽ tác
động tốt tới sự biến đổi xã hội theo hướng tốt và ngược lại sẽ phát triển theo
hướng xấu. Nền văn hóa du nhập của thị trường cũng ảnh hưởng tới biến đổi đời
sống xã hội


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status