Nghiên cứu các yếu tố tác động đến sự nghèo đói của các hộ ngư dân ven đầm nha phu, huyện ninh hòa, tỉnh khánh hòa - Pdf 22



1

PHẦN MỞ ĐẦU
1- Tính cấp thiết của luận văn
Nghèo đói là một hiện tượng kinh tế xã hội nóng bỏng và bức xúc của mọi quốc
gia và ngày càng thu hút sự chú ý của cộng đồng quốc tế trong việc tìm kiếm giải
pháp xóa đói, giảm nghèo.
Việt Nam luôn coi vấn đề xoá đói giảm nghèo là mục tiêu xuyên suốt trong quá
trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, cũng như Việt Nam đã công bố cam kết
thực hiện các mục tiêu phát triển quốc tế đã được nhất trí tại Hội nghị thượng đỉnh các
quốc gia năm 2000. Công cuộc phát triển kinh tế và xoá đói giảm nghèo của Việt
Nam đã đạt được những thành tựu đáng kể và được quốc tế đánh giá cao. Tỷ lệ nghèo
giảm nhanh từ 58,1% năm 1993 xuống còn 19,5% năm 2004, tương đương 24
triệu người đã thoát nghèo sau 11 năm. Nếu so với mục tiêu phát triển thiên niên
kỷ của Liên hợp quốc là giảm tỷ lệ nghèo đói xuống còn một nửa trong giai đoạn
dài hơn là 1990-2015 thì quả là một thành tích đặc biệt. Tuy vậy, Việt Nam đang
là nước có thu nhập bình quân đầu người thấp và thoát khỏi nghèo đói vẫn còn là
giấc mơ của hàng triệu người dân. Đại bộ phận dân cư có mức thu nhập chỉ trên
ngưỡng nghèo chút ít nên rất dễ bị tái nghèo nếu có những chấn động kinh tế từ bên
ngoài.
Theo GSO (2004), hơn 90% người nghèo sống và làm việc ở nông thôn và 45%
dân nông thôn sống dưới mức nghèo. Họ là những người sản xuất nhỏ, là nông dân
hoặc là ngư dân ven biển. Tối đa hoá lợi ích và giảm thiểu rủi ro; đảm bảo rằng người
nghèo cũng được tiếp cận với các c ơ h ội mới và được hưởng lợi từ quá trình gia
nhập WTO cũng như chống tái nghèo, xuất hiện hình thái nghèo mới là một thách
thức lớn lao cho Việt Nam
Xoá đói giảm nghèo là yếu tố cơ bản để đảm bảo công bằng xã hội và tăng
trưởng bền vững. Do đó, xoá đói giảm nghèo được coi là một bộ phận cấu thành của
Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, các ngành và các địa phương.

Nha Phu.
- Gợi ý chính sách và đề xuất một số giải pháp xoá đói giảm nghèo cho vùng.
3- Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 1
Chương trình mục tiêu giảm nghèo tỉnh Khánh Hoà, giai đoạn 2006-2010, số liệu đến ngày
01.01.2006, trang 137. 3

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là vấn đề nghèo đói, nguyên nhân của
nghèo đói cũng như tác nhân tố tác động đến nghèo đói.
Phạm vi nghiên cứu. Đề tài tập trung nghiên cứu các hộ ngư dân ven đầm Nha
Phu gồm các xã: Ninh ích; Ninh Lộc; Ninh Hà; Ninh Giang; Ninh Phú và Ninh Vân
thuộc huyện Ninh Hoà trong thời gian từ 2005-2006.
4- Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện luận văn, các phương pháp chung nghiên cứu khoa
học đã được áp dụng như: phương pháp phân tích kinh tế, phương pháp tổng hợp,
phương pháp tiếp cận hệ thống, phương pháp thống kê, các phần mềm thống kê
chuyên dụng: Excel, SPSS…, và các phương pháp khác.
5- Những đóng góp của luận văn
Về ý nghĩa lý thuyết, luận văn góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận về nghèo
đói, đồng thời làm rõ bản chất của nghèo đói.
Về ý nghĩa thực tiễn, luận văn làm phong phú thêm thực tế và kinh nghiệm
nghiên cứu vấn đề nghèo đói, đặc biệt là vấn đề nghèo đói của các hộ dân làm nghề
thủy sản. Luận văn cũng có thể làm tài liệu để nghiên cứu và giảng dạy trong các
trường Đại học.
6- Cấu trúc của luận văn

tiềm năng con người. Người dân không thể có được khả năng thoả mãn một cách đầy
đủ mọi nhu cầu căn bản của mình như: ăn, mặt, ở Ngoài ra, họ còn bị hạn chế tiếp
cận với các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ và giáo dục, tham gia vào các hoạt động đoàn
thể và không được thoả mãn cả nhu cầu về văn hoá xã hội… Nói tóm lại, sự lựa chọn
của người dân bị hạn chế. Áp dụng quan điểm tiếp cận này cho phép định nghĩa
nghèo đói như là một sự thiếu vắng hàng loạt nhu cần cơ bản và hạn chế sự lựa chọn
của con người.
Quan điểm này không loại trừ hai quan điểm trên, mà bao trùm lên cả hai quan
điểm ấy. Nghĩa là bao gồm cả mức thu nhập thấp và hạn chế khả năng con người thoả
mãn những nhu cầu cơ bản của mình. Cách nhìn vấn đề từ quan điểm phát triển con 5

người cho phép khảo sát nghèo đói như là một hiện tượng đa chiều, có nguồn gốc sâu
xa. Một khái niệm về nghèo đói do Ủy ban kinh tế - xã hội khu vực châu Á - Thái
Bình Dương (tổ chức ở Thái Lan năm 1993) đưa ra tại Hội nghị về chống nghèo đói
và thường được sử dụng ở Việt Nam là: “nghèo đói là tình trạng một bộ phận
dân cư không có khả năng thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà
những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội, phong tục tập
quán của từng vùng và những phong tục ấy được xã hội thừa nhận.”
Theo nhà kinh tế học người Mỹ, Galbraith: “Con người bị coi là nghèo khổ
khi mà thu nhập của họ, ngay dù khi thích đáng để họ tồn tại, rơi xuống rõ rệt dưới
mức thu nhập của cộng đồng. Khi đó, họ không thể có những gì mà đa số trong cộng


6

bị tổn thương trước những sự kiện bất thường nằm ngoài khả năng kiểm soát của
họ. Họ thường bị các thể chế của Nhà nước và xã hội đối xử tàn tệ, bị gạt ra bên lề
xã h ộ i nên không có tiếng nói và quyền l ự c trong các thể chế đó” (WB 2001).
Tóm lại, tất cả những quan niệm về nghèo đói nêu trên đều phản ánh ba khía
cạnh chủ yếu của người nghèo:
- Có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng dân cư.
- Không được thụ hưởng những nhu cầu cơ bản ở mức tối thiểu dành cho con
người.
- Thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng.
Nghiên cứu này sử dụng định nghĩa của Ngân hàng thế giới về nghèo, đó là
tình trạng “không có khả năng có mức sống tối thiểu”.
1.2 Các phương pháp tiếp cận đo lường nghèo đói
Theo Sarah Bales (2001), tiêu chí chung nhất để xác định nghèo đói là mức chi
tiêu (hay thu nhập) để thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người về: ăn, ở, mặc,
y tế, giáo dục, văn hóa, đi lại và giao tiếp xã hội. Sự khác nhau chung nhất thường là
ở chỗ thỏa mãn ở mức cao hay thấp mà thôi, điều này phụ thuộc vào trình độ phát
triển kinh tế - xã hội cũng như phong tục tập quán của từng vùng, từng quốc gia.
Theo WB (2007), có 3 bước để xác định nghèo đói: (i) định nghĩa phúc lợi
của hộ gia đình / cá nhân, (ii) xác định một giá trị chuNn (tối thiểu) để tách biệt 2
nhóm nghèo và không nghèo (gọi là ngưỡng nghèo) và (iii) tính toán các chỉ số
thống kê tổng hợp dựa trên mối quan hệ giữa phúc lợi kinh tế và ngưỡng nghèo.
Đo lường phúc lợi nói chung thì phức tạp hơn nhiều, nó rộng hơn chỉ số phúc
lợi kinh tế. Bỡi lẽ phúc lợi còn bao gồm tuổi thọ, chế độ dinh dưỡng, điều kiện nhà
ở, tỷ lệ trẻ em đến trường, tỷ suất tử của trẻ em (WB, 2007). Cách tiếp cận phổ biến
nhất trong đo lường phúc lợi (kinh tế) là dựa vào chi tiêu tiêu dùng hay thu nhập của
hộ gia đình. Nếu chúng ta chia đều cho tất cả các thành viên trong hộ thì được chi
tiêu tiêu dùng hay thu nhập bình quân đầu người (chỉ số phúc lợi kinh tế của cá

thu

nhập



chi

tiêu

trong

năm
c
ủa

hộ

gia

đình.

Phương pháp xác định ngưỡng nghèo theo chuNn quốc tế. Theo WB
(1990), ngưỡng nghèo đói ở mức thấp gọi là ngưỡng nghèo đói lương thực-thực
phNm (LT-TP). Ngưỡng nghèo đói ở mức cao hơn gọi là ngưỡng nghèo đói chung
(bao gồm cả mặt hàng LT-TP và phi LT-TP).
Ngưỡng nghèo đói LT-TP đo lường mức chi tiêu cần thiết để đảm bảo một hộ
gia đình có thể đủ mua được một lượng LT-TP để cung cấp cho mỗi thành viên
α
α

=







=
P
i
i
z
yz
N
P
1
)(1

Trong đó, y
i
là đại lượng xác định phúc lợi (thường là chi tiêu bình quân đầu
người) cho người thứ i , z là ngưỡng nghèo, N là số người có trong mẫu dân cư, P là 9



ra

tình

t
r
ạng

nghèo

đói.

Phân theo đặc
tính

Các nhân tố

Cấp độ vùng
(Regional-level
characteristics)
- Sự cách biệt về địa lý/xã hội do thiếu hạ tầng cơ sở; h
ạn
chế trong việc tiếp cận các loại thị trường và các dịch vụ x
ã
hội
- Nguồn lực cơ bản như đất đai và chất lượng đất đai
- Điều kiện tự nhiên (thời tiết…)
-


- Tài sản của hộ gia đình: đất đai, phương tiện sản xuất, nh
à
cửa…
Đặc điểm cá
nhân
(Individual
characteristics)

- Tuổi
- Giáo dục (số năm đi học, bằng cấp cao nhất)
- Việc làm (tình trạng việc làm, loại công việc)
-
Dân tộc (có hay không có thuộc nhóm dân tộc thiểu số).

Nguồn: WB (2007)
1.3.1 Nghề nghiệp và tình trạng việc làm
Theo BCPTVN (2000), nghèo đói là một hiện tượng mang tính đặc thù của
nông thôn, các tính toán về tỷ lệ nghèo theo nghề nghiệp và theo loại chủ lao động
cũng chỉ ra rằng những người sống ở dưới ngưỡng nghèo thường là thành viên của
những hộ có chủ hộ là nông dân tự do. Trong năm 1998, gần 80% người nghèo làm
việc trong nông nghiệp và là những người lao động tự do.
Theo Sarah Bales (2001), tỷ lệ người nghèo năm 1998 trong ngành nông
nghiệp ở mức cao, 47% đối với lao động tự làm trong nông nghiệp và 55,4% đối với
lao động làm thuê trong nông nghiệp. Các ngành có tỷ lệ nghèo đói thấp nhất là
dịch vụ, đặc biệt là ngành thương mại, khách sạn – nhà hàng và công việc nhà
nước. Các chỉ số về khoảng cách nghèo đói P
1
(biều hiện mức độ thiếu hụt) và chỉ
số bình phương khoảng cách nghèo P
2


T


l


nghèo

đói

(%)

1992-1993

1997-1998Nghề nghiệp
P
0

P
1

P
2

P
0


nghiệp

67,6

22,9

10,2

55,4

14,9

5,5

Tự
làm
công

nghiệp,

xây

dựng

39,5

13,7

5,3


mạ
i,
khách

sạn



nhà
24,2

8,9

3,3

11,2

1,8

0,5

Chính

phủ,

Đảng


các t

3,4

1,2

Cả

nướ
c
53,3

16,6

6,8

34,6

8,7

3,2

Nguồn:

Sarah

Bales

(2001)

Vũ Hoàng Đạt và các tác giả (2006) phát hiện thấy việc chuyển đổi trong nghề
nghiệp của chủ hộ gia đình từ nông nghiệp sang sản xuất phi nông nghiệp hoặc kinh


ngườ
i
nghèo



Việt

Nam

1998.Trình

độ

họ
c
vấn

cao

nhất

Tỷ
l



trong

tổng dân

số,
(%)

Không

đượ
c
đ
i
họ
c
Ti
ểu

họ
c
Phổ

thông
c
ơ

sở

Phổ


8

3

8

35

36

12

6

Tổng
c
ộng 37 100 100
Nguồn:

BCPTVN

(2000)

Các nghiên cứu đói nghèo có sự tham gia của người dân (PPA) cho thấy bản
thân các hộ nghèo cũng hiểu được rằng trình độ học vấn là chìa khóa quan trọng để
thoát khỏi nghèo đói. Các PPA cũng cho thấy những hộ thuộc nhóm khá giả là
những hộ thường xuyên tiếp xúc với cán bộ khuyến nông, quan hệ với những người
ở ngoài cộng đồng, tiếp cận với thông tin và với các phương tiện truyền thông đại
chúng (BCPTVN 2000).
Vũ Hoàng Đạt và các tác giả khác (2006) phát hiện thấy các hộ gia đình có chủ hộ

nông

nghiệp
c
ủa

hộ

gia

đình

Việt

Nam

phân

theo

nhóm

chi

tiêu

(m
2
)



Trong

đó:

Diện
tích
trồng

cây

hàng

năm

3600

3928

4625

4414

5081

Diện
tích
trồng

cây

nhập hộ gia đình thấp. Thu nhập thấp dẫn đến tiết kiệm thấp. Tiết kiệm thấp lại là
nguyên nhân của sự thiếu hụt vốn đầu tư, và lại dẫn đến thu nhập thấp. Không đủ
vốn, người nghèo không thể làm gì được; từ việc cơ bản nhất là mua giống cây
trồng vật nuôi hay phân thuốc chứ đừng nói đến việc cải tiến sản xuất hay áp dụng
khoa học kỹ thuật mới. Muốn thoát khỏi cái vòng luNn quNn này cần phải có
nguồn vốn từ bên ngoài, trong trường hợp này là nguồn vốn vay hay vốn tín dụng 14

từ các tổ chức tín dụng chính thức và phi chính thức, hay từ các dự án cấp tín dụng
cho người nghèo của chính phủ.
Phạm Vũ Lửa Hạ (2003), ở Việt Nam, người nghèo thường bị hạn chế trong
việc tiếp cận được với các nguồn tín dụng chính thức của Chính phủ trong lúc các
nguồn phi chính thức có ít khả năng giúp hộ gia đình thoát nghèo. Mặc dù hiện
nay có rất nhiều nguồn, nhiều dự án cung cấp tín dụng cho người nghèo thông qua
các chương trình quốc gia về XĐGN nhưng vẫn còn rất nhiều người rất nghèo
không thể tiếp cận được các nguồn tín dụng này. Có nhiều nguyên nhân, loại trừ sự
nhũng nhiễu của người có quyền quyết định thì nguyên nhân còn lại là do người
nghèo thiếu hiểu biết, không có khả năng thế chấp, không biết cách làm ăn dẫn đến
không có khả năng trả nợ. Và rồi họ tiếp tục nghèo hơn.
“Nợ nần làm cho chúng tôi thức trắng đêm - cảm giác nợ nần thật là khủng khiếp. Tôi
cảm thấy khiếp sợ mỗi khi có chủ nợ đến nhà đòi tiền còn bản thân thì không thể trả được.
Tôi cảm thấy xấu hổ vì lúc đó họ rất coi thường tôi.” - PPA tại Trà Vinh, Oxfam Anh.
(Nguồn: BCPTVN,2000).
1.3.4 Những đặc điểm về nhân khu học
1.3.4.1 Quy mô hộ và số người sống phụ thuộc
Quy mô hộ gia đình là “mẫu số” quan trọng có ảnh hưởng đến mức thu nhập
bình quân của các thành viên trong hộ. Đông con vừa là nguyên nhân vừa là hệ quả
của nghèo đói.

năm 2004, chỉ có 4% đồng bào dân tộc thiểu số được tiếp cận điều kiện vệ sinh so
với 36% người Kinh – Hoa và 19% đồng bào dân tộc thiểu số được tiếp cận nước
sạch so với 63% người Kinh – Hoa.
Vũ Hoàng Đạt và các tác giả (2006) cho thấy hộ gia đình thuộc nhóm Kinh –
Hoa dễ có khả năng thoát nghèo hơn hộ gia đình có đặc điểm tương tự thuộc nhóm
dân tộc thiểu số. Nhóm dân tộc thiểu số có tốc độ giảm nghèo chậm hơn so với nhóm
người Kinh – Hoa ở tại tất cả các vùng nơi có người dân tộc thiểu số sinh sống.
Hoàng Thanh Hương và các tác giả (2006) phát hiện thấy ngay cả khi các dân
tộc thiểu số sống cùng với người Kinh – Hoa trong cùng một địa bàn nhỏ, tức là ở
cùng xã, họ vẫn khó theo kịp so với nhóm Kinh – Hoa. Nghiên cứu này cũng phát
hiện thấy rằng nhóm các dân tộc thiểu số sống ở các xã không có người Kinh –
Hoa cùng sinh sống có mức sống thấp hơn đáng kể so với nhóm các dân tộc thiểu số
sống ở các xã có cả người Kinh– Hoa sinh sống.
Hoàng Thanh Hương và các tác giả (2006) và Nguyễn Thị Minh Hòa (2006)
cho thấy có sự khác biệt đáng kể về các đặc tính ở cấp hộ giữa hai nhóm hộ và sự khác
biệt dường như có chiều hướng gia tăng. Năm 2004, sự khác biệt về đặc tính cấp hộ 16

giải thích 18% chênh lệch chi tiêu dùng giữa hai nhóm ở trong toàn bộ vùng nông
thôn Việt Nam, song tạo ra 51% chênh lệch chi tiêu dùng ở những xã có cả đồng
bào dân tộc thiểu số và đồng bào Kinh – Hoa sinh sống.
1.3.5 Khả năng tiếp cận các hạ tầng cơ sở thiết yếu
Hoàng Văn Kình, Bob Baulch và các tác giả (2001) cho thấy những nơi
không có nghề thủ công hoặc chợ họp thường xuyên thì thu nhập theo giờ lao động
thấp hơn đáng kể.
Theo Lê Thúc Dục và các tác giả (2006), có đường ôtô đến các xã là một trong
những yếu tố quan trọng quyết định mức chi tiêu dùng bình quân đầu người của năm
2004.

nghèo. Nghiên cứu này giả định tỉ lệ phụ thuộc của hộ sẽ có mối quan hệ đồng biến
với xác suất rơi vào ngưỡng nghèo.
3. Dân tộc. Cộng đồng người dân tộc thiểu số, ngoài những biệt về tập quán
văn hóa thì hầu hết các chỉ số kinh tế, xã hội của họ đều thua kém hơn so với người
Kinh-Hoa. Trong ĐTMSDC của GSO phối hợp với UNDP có một sự chênh lệch
về thu nhập giữa dân tộc Kinh-Hoa và dân tộc thiểu số và dẫn đến các hộ dân tộc
thiểu số nằm trong diện XĐGN nhiều hơn là dân tộc Kinh- Hoa, điều này xuất phát
từ sự khác biệt các điều kiện tự nhiên, xã hội dẫn đến sự khác biệt thấp về kinh tế
của các hộ gia đình dân tộc. Do vậy chúng tôi giả định là hộ dân tộc thiểu số có
nguy cơ nghèo nhiều hơn các hộ khác.
4. Tình trạng việc làm (có hay không có làm việc) và loại ngành nghề của chủ
hộ. Hộ có việc làm sẽ có nguồn thu nhập lớn hơn so với hộ không có việc làm. Hộ có
việc làm phi nông nghiệp sẽ có công việc ổn định hơn, thu nhập khá hơn so với hộ
làm việc trong ngành nông nghiệp, đặc biệt so với hộ đi làm thuê trong ngành
nông nghiệp. Nghiên cứu này giả định, hộ có việc làm và làm việc trong khu vực
phi nông nghiệp sẽ có xác suất nghèo thấp hơn so với các hộ không có việc làm hay
làm việc trong ngành nông nghiệp.
5. Số năm đi học trung bình của những người trưởng thành trong hộ. Trình độ
học vấn của các thành viên trưởng thành trong hộ càng cao càng có khả năng tiếp
cận với công nghệ, kỹ thuật nông nghiệp, tiếp cận với thị trường lao động và nâng
cao cơ hội cải thiện thu nhập. Nghiên cứu này giả định số năm đi học của những
thành viên đã đến tuổi lao động có mối quan hệ nghịch biến với xác suất rơi vào
ngưỡng nghèo.
Nhóm nhân tố liên quan đến vai trò Chính phủ (trong phân bổ nguồn lực):
6. Phân bổ đất sản xuất đến hộ gia đình. Nông dân ở nông thôn sống chủ yếu 18

dựa vào sản xuất nông nghiệp mà nông nghiệp gắn liền với đất đai. Hộ có nhiều đất
1.5 Tổng quan về tình hình nghèo đói trên thế giới và Việt Nam
1.5.1 Tình hình nghèo đói trên thế giới
Đói nghèo sâu sắc đang xen lẫn trong sự giàu có (World Development Report
2000/2001). Đó có lẽ là nghịch lý lớn nhất trong một xã hội toàn cầu vốn được xem là
ngày càng văn minh, hiện đại và dân chủ hơn. Trong số 6 tỷ người của thế giới thì có
2,8 tỷ người sống dưới mức 2 USD một ngày và 1,2 tỷ người (tức một phần năm) sống
dưới mức 1 USD một ngày, 44% số này sống ở Nam Á. Trong khi ở các nước giàu,
trung bình trong 100 đứa trẻ có chưa đến một trẻ không sống được đến tuổi thứ 5 thì ở
những nước nghèo nhất tỷ lệ này là một phần năm. Tỷ lệ trẻ em bị suy dinh dưỡng ở
những nước giàu có chưa đến 5% nhưng con số này ở nước nghèo lên tới 50%.
Cảnh khốn cùng vẫn tồn tại cho dù loài người đã không ngừng đạt được những
thành tựu đáng kể để cải tạo cuộc sống, cải tạo thế giới. Các nhà khoa học đã đánh giá
Nghèo đói
Chính phủ
Các đặc tính hộ gia đình
H

t

ng
cơ sở
Ph

ì
nh tr

ng
việc làm
Lo
ại
ng
à
nh
nghề
S

n
ă
m
đi học
trung
bình của
h


Hình
1
.3.


hình

ngh

châu Âu (EU), có 57 triệu người (chiếm 17% dân số) phải sống trong cảnh nghèo khổ,
cứ 6 người dân thì có 1 người sống trong một gia đình nghèo khó. Châu Mỹ cũng có
364 triệu người nghèo (chiếm 13,3% dân số châu lục này)…
Trên thực tế, nghèo đói và quá trình giảm nghèo đói ở những phần khác nhau của thế
giới thì khác nhau rất xa (Bảng 1.5). Ở Đông Á, số dân sống dưới mức 1 USD một ngày
đã giảm từ khoảng 420 triệu người xuống còn khoảng 280 triệu người từ năm 1987 đến
1998. Nhưng ở Mỹ Latinh, Nam Á và Nam Sahara châu Phi, số người nghèo đang tăng
lên. Tại các nước châu Âu và Trung Á đang chuyển sang nền kinh tế thị trường, số người
sống dưới mức 1 USD một ngày đã tăng hơn 20 lần.
21

Bảng 1.5: Đói nghèo theo thu nhập, phân theo vùng trong một số năm,
giai đoạn 1987-1998.
Số người sống dưới 1 USD một ngày (triệu)
Vùng
1987 1990 1993 1996 1998
a
Đông Á và Thái Bình Dương
Trừ Trung Quốc
Châu Âu và Trung Á
Mỹ Latinh và Caribê
Trung Đông và Bắc Phi
Nam Á
Nam Sahara châu Phi

55,1
23,8
76,0
5,0
531,7
289,0
1,190,6
980,5
287,3
65,1
24,0
78,2
5,5
522,0
290,9
1.198,9
985,7
Số người sống dưới 1 USD một ngày (%)
Vùng
1987 1990 1993 1996 1998
a
Đông Á và Thái Bình Dương
Trừ Trung Quốc
Châu Âu và Trung Á
Mỹ Latinh và Caribê
Trung Đông và Bắc Phi
Nam Á
Nam Sahara châu Phi
Tổng
Trừ Trung Quốc

15,6
1,8
42,3
48,6
24,5
27,0
15,3
11,3
5,1
15,6
1,9
40,0
46,3
24,0
26,2
a. Tính sơ bộ.
Nguồn: Ngân hàng thế giới, 2000
Từ năm 1987 đến năm 1998, tỷ lệ dân số của các nền kinh tế đang phát triển và
đang chuyển đổi sống dưới mức 1 USD một ngày đã giảm từ 28% xuống còn 24%.
Mức giảm này thấp hơn mục tiêu quốc tế đề ra là đến năm 2015 giảm được một nửa số
người nghèo cùng cực theo thu nhập. 22

Do tăng trưởng dân số nên khó thay đổi số người sống trong cảnh đói nghèo.
Nhưng kết quả đạt được cũng khác nhau xa giữa các khu vực. Đơng Á, Trung Đơng và
Bắc Phi đều đã giảm được số người nghèo, giảm mạnh nhất là Đơng Á. Nhưng trong
những khu vực khác thì số người sống dưới 1 USD một ngày lại tăng. Ví dụ như ở
Nam Á, số người nghèo trong thập kỷ vừa qua đã tăng từ 474 triệu người lên 522 triệu,

và Trung
Á
0,1%
Châu Mỹ
Latinh và
vùng
Caribê
5,4%
Năm 1998
Châu Âu
và Trung
Á
2%
Châu Mỹ
Latinh và
vùng
Caribê
6,5%
Châu Phi
Hạ Sahara
24,3%
Đông Á
và Thái
Bình
Dương
23,2%
Trung
Đông và
Bắc Phi
0,5%

1.5.2 Kinh nghiệm của các tổ chức quốc tế và các nước về xóa đói giảm nghèo
1.5.2.1 Kinh nghiệm của các tổ chức quốc tế
Đấu tranh chống nghèo đói hiện đang là vấn đề rất cấp bách không chỉ của riêng
một vùng hay một quốc gia nào mà còn là của toàn thế giới. Điều này xảy ra vì hai nhu
cầu bức thiết chính: Một là, nghèo đói ở từng vùng, từng quốc gia đang ngày ngày đe
dọa đến sự ổn định và an toàn xã hội. Muốn tránh được xung đột xã hội có thể xảy ra,
mỗi vùng hay mỗi quốc gia phải quan tâm đến việc giảm nghèo khổ, điều hòa lợi ích 24

giữa các nhóm dân cư không để khoảng cách giàu nghèo quá lớn, quá sức chịu đựng
của xã hội. Hai là, xu thế toàn cầu hóa đang buộc các quốc gia phải mở rộng tính dân
chủ. KhNu hiệu chung về một xã hội công bằng có trật tự kinh tế và phân phối tiến bộ
khiến cho các quốc gia phải có những chính sách, những hành động cụ thể để hội nhập.
Vì vậy, một mặt việc xóa đói giảm nghèo là trách nhiệm của chính phủ từng
nước; mặt khác, các tổ chức quốc tế như Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ tiền tệ quốc tế
(IMF), Hiệp hội phát triển quốc tế (IDA), chương trình phát triển của Liên hiệp quốc
(UNDP)… giữ vai trò quan trọng giúp các quốc gia giảm bớt gánh nặng nghèo đói.
Biện pháp đầu tiên thường được sử dụng là chu cấp các khoản vay có gắn với các
điều kiện giải ngân theo các chương trình xóa đói giảm nghèo. Đây được đánh giá là một
biện pháp trực tiếp và có nhiều yếu tố tích cực nếu quá trình tổ chức thực hiện hạn chế
được lãng phí và tham nhũng của các quan chức trung gian.
Tiếp theo đó là những nỗ lực của các quốc gia công nghiệp phát triển. Hội nghị
thượng đỉnh Rio năm 1992 đã đề ra một công ước chung, theo đó viện trợ phát triển cho
các quốc gia nghèo thuộc thế giới thứ ba cần phải chiếm 0,7% tổng sản phNm xã hội của
các quốc gia công nghiệp phát triển với mục tiêu đóng góp vào việc giảm số người
nghèo trên thế giới. Tính đến cuối thế kỷ XX, quốc gia dẫn đầu về thực hiện Công ước
này là Hà Lan và Thụy Điển, họ chi tới trên 0,8% GNP. Các nước khác như Anh đã chi
trong năm 1999 là 0,24%, sang năm 2000 tăng lên 0,31%. Sau đó là Thụy Sĩ 0,34%,

thiệt hại gấp 5 lần như thế nếu so với 1 USD viện trợ nhận được từ Canada.
Có thể nói rằng, thời gian qua các nước công nghiệp phát triển nhất chỉ toàn đưa
ra những lời hứa hão với các nước nghèo của thế giới thứ ba về viện trợ, giảm nợ và
thương mại. Lời nói còn cách quá xa so với việc làm cụ thể. Khoảng 11% hàng hóa
xuất khNu của các nước nghèo (LDC) phải chịu mức thuế quan trên 15%, cao gấp ba
lần thuế quan đánh vào hàng hóa cùng loại nhập từ các nước khác. Các nước công
nghiệp phát triển thuộc tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) hứa tăng hỗ trợ
phát triển cho các nước LDC lên 0,2% GNP của họ. Nhưng kể từ đó cho đến nay,
OECD đã giảm 3,5 tỷ USD, và mức viện trợ bình quân đầu người của họ đã giảm.
Trong khi đó họ lại trợ giá nông sản (thường là mặt hàng xuất khNu chủ lực của các
nước nghèo) trong nước lên tới 1 tỷ USD/ngày, tương đương với tổng GDP của tất cả
các nước LDC.
1.5.2.2 Kinh nghiệm giảm nghèo của một số nước
P Hàn Quốc
Trước những năm 60, Hàn Quốc có xuất phát điểm là rất nghèo nàn về tài nguyên
thiên nhiên, vốn và công nghệ khi thực hiện chính sách và chiến lược phát triển kinh tế
theo hướng xuất khNu. Các chính sách và chiến lược ấy đã hứa hẹn rằng nghèo đói sẽ được


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status