Đề tài tham dự cuộc thi Sinh viên nghiên cứu khoa học năm 2011 Mô hình định lượng phân tích các yếu tố tác động
tới kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng thủ công mỹ
nghệ của Hà Nội giai đoạn 2005 – 2009
2
nhằm phát huy tối đa tiềm năng xuất khẩu sản phẩm thủ công mỹ nghệ. Trƣớc
yêu cầu đó, giới hạn nghiên cứu tại Hà Nội, nhóm tác giả đã quyết định lựa
chọn đề tài: “Mô hình định lƣợng phân tích các yếu tố tác động tới kim
ngạch xuất khẩu nhóm hàng thủ công mỹ nghệ của Hà Nội giai đoạn
2005 – 2009” làm đề tài tham dự cuộc thi Sinh viên nghiên cứu khoa học Đại
học Ngoại thƣơng năm 2011.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Trong thời gian qua có khá nhiều nghiên cứu sử dụng mô hình kinh tế
lƣợng, cụ thể là mô hình trọng lƣợng nhằm phân tích các yếu tố tác động tới
tổng kim ngạch xuất khẩu hoặc kim ngạch xuất khẩu các nhóm hàng của một
quốc gia.
Tuy nhiên, đối với nhóm hàng thủ công mỹ nghệ, mặc dù đã có nhiều
nghiên cứu về hoạt động xuất khẩu nhóm hàng này, nhƣng chƣa có nghiên
cứu nào sử dụng mô hình trọng lƣợng nhằm phân tích các yếu tố tác động tới
kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng thủ công mỹ nghệ, của cả ngành nói chung,
và của từng tiểu ngành nói riêng.
Vì vậy, đề tài nghiên cứu khoa học “Mô hình định lƣợng phân tích
các yếu tố tác động tới kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng thủ công mỹ
nghệ của Hà Nội giai đoạn 2005 – 2009” là đề tài đầu tiên chỉ ra và phân
tích một cách định lƣợng các yếu tố tác động tới kim ngạch xuất khẩu ngành
hàng thủ công mỹ nghệ.
3. Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài là hoạt động xuất khẩu thủ công mỹ
nghệ của các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn 2005 –
2009 và các nhân tố tác động tới hoạt động xuất khẩu này.
3
4
Để hoàn thành nghiên cứu, nhóm tác giả sử dụng phƣơng pháp phân
tích định lƣợng với những thông tin và số liệu thứ cấp đƣợc tổng hợp từ
nhiều nguồn khác nhau, trong đó chủ yếu là số liệu của Tổng cục Thống kê và
Tổng cục Hải quan.
Bên cạnh đó, nhóm tác giả cũng sử dụng phƣơng pháp duy vật lịch sử,
duy vật biện chứng, luôn đặt đối tƣợng nghiên cứu trong những mối tƣơng
quan tác động nhiều chiều và xem xét đầy đủ các khía cạnh trong những hoàn
cảnh khác nhau.
6. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết thúc, danh mục bảng biểu, tài liệu tham khảo
và phụ lục, đề tài đƣợc chia làm ba chƣơng:
Chƣơng 1: Khái quát về xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu nhóm
hàng thủ công mỹ nghệ. Cơ sở lý thuyết của mô hình định lƣợng.
Chƣơng 2: Phân tích các yếu tố tác động tới kim ngạch xuất khẩu
nhóm hàng thủ công mỹ nghệ của Hà Nội giai đoạn 2005 – 2009.
Chƣơng 3: Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động xuất
khẩu nhóm hàng thủ công mỹ nghệ trong thời gian tới.
5 CHƢƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ XUẤT KHẨU VÀ HOẠT
ĐỘNG XUẤT KHẨU NHÓM HÀNG THỦ CÔNG MỸ NGHỆ.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA MÔ HÌNH ĐỊNH LƢỢNG
1. Khái niệm và vai trò của xuất khẩu
1.1. Khái niệm
Hiện nay có nhiều định nghĩa khác nhau về xuất khẩu. Theo Bùi Xuân
Lƣu (2002) trong Giáo trình Kinh tế Ngoại thƣơng
2
Giáo sƣ kinh tế tại Đại học California, Hoa Kỳ
6
Nhƣ vậy, nhìn chung lại, hoạt động xuất khẩu là hoạt động buôn bán
hàng hoá, dịch vụ cho cá nhân hoặc tổ chức nƣớc ngoài nhằm thu ngoại tệ, có
thể là ngoại tệ đối với một hoặc cả hai quốc gia. Xuất khẩu là hoạt động cơ
bản của hoạt động ngoại thƣơng. Nó đã xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử phát
triển của xã hội và ngày càng phát triển mạnh mẽ cả về chiều rộng và chiều
sâu. Hình thức sơ khai của chúng chỉ là hoạt động trao đổi hàng hoá nhƣng
cho đến nay nó đã phát triển rất mạnh và đƣợc biểu hiện dƣới nhiều hình thức.
1.2. Vai trò
Có nhiều quan điểm khác nhau về vai trò của hoạt động xuất khẩu.
Trong nghiên cứu này, nhóm tác giả chỉ ra và phân tích những vai trò sau của
hoạt động xuất khẩu, đứng từ góc độ lợi ích của một quốc gia khi tham gia
thƣơng mại quốc tế. Một số vai trò đƣợc chúng tôi chứng minh qua số liệu cụ
thể của Việt Nam.
1.2.1. Đóng góp cho tổng thu nhập quốc dân
Đây là một trong những vai trò rất quan trọng của xuất khẩu. Đối với
hầu hết các quốc gia trên thế giới, nguồn thu ngoại tệ đóng góp một phần lớn
trong tổng thu nhập quốc dân. Đặc biệt trong thời kỳ toàn cầu hóa, quốc tế
hóa hiện nay thì vai trò này của xuất khẩu càng trở nên rõ nét. Ở Việt Nam,
theo thống kê của Bộ Công Thƣơng, tốc độ tăng trƣởng kim ngạch xuất khẩu
bình quân hàng năm của nƣớc ta trong giai đoạn 2001 – 2010 luôn ở mức cao,
đạt 19%/năm. Quy mô xuất khẩu tăng từ 15 tỷ USD năm 2001 lên 72,19 tỷ
năm 2010, tức là hơn 4,7 lần. Cũng theo đó mà tỷ trọng đóng góp của kim
ngạch xuất khẩu trong GDP của Việt Nam đã tăng từ 46% năm 2001 lên tới
70% năm 2010. Những con số đó đã chứng minh cho đóng góp quan trọng
của xuất khẩu trong tổng thu nhập quốc dân.
7
rộng sản xuất. Khi sản xuất đƣợc mở rộng thì cũng cần sử dụng nhiều nhân
công hơn, nhờ đó giải quyết đƣợc công ăn việc làm.
Bên cạnh đó, xuất khẩu còn tạo nguồn vốn để nhập khẩu vật phẩm tiêu
dùng thiết yếu phục vụ trực tiếp và đáp ứng phong phú thêm nhu cầu tiêu
dùng của nhân dân. Nhƣ vậy nhờ có xuất khẩu mà có thể ổn định và nâng cao
đời sống cho toàn xã hội.
1.2.4. Tăng cường lợi thế cạnh tranh, nâng cao vị thế của đất nước
Xuất khẩu giúp phân công lao động hiệu quả giữa các quốc gia cũng
nhƣ phân bổ hợp lý nguồn lực trong và ngoài nƣớc, từ đó giúp một đất nƣớc
có thể tập trung vào những ngành mình có lợi thế. Xuất khẩu còn có thể kết
nối nền sản xuất của quốc gia cùng với sự phát triển quốc tế, giúp nền kinh tế
trong nƣớc có thể chuyển biến linh hoạt để thích nghi với nền kinh tế toàn
cầu.
Bản chất của xuất khẩu chính là mở rộng thị trƣờng, chiếm lĩnh thị
phần, cạnh tranh tiêu thụ sản phẩm với các quốc gia khác. Sản phẩm có thể
đƣợc xuất khẩu nghĩa là sản phẩm đó đã đƣợc sự công nhận của khách hàng
quốc tế.
Bên cạnh đó, một quốc gia xuất khẩu lớn không chỉ có tiềm năng về
kinh tế mà còn có vị thế lớn trên trƣờng chính trị. Ƣu thế về xuất khẩu dẫn
đến những ƣu thế về kinh tế, và ƣu thế về kinh tế lại dẫn tới những ƣu thế về
chính trị.
1.2.5. Góp phần thúc đẩy và mở rộng quan hệ quốc tế
Xuất khẩu là một bộ phận quan trọng của kinh tế đối ngoại. Hoạt động
xuất khẩu và các hoạt động kinh tế đối ngoại khác luôn có quan hệ mật thiết
gắn bó và phụ thuộc lẫn nhau. Đây là cơ sở tiền đề vững chắc để xây dựng các
9
mối quan hệ kinh tế đối ngoại sau này, từ đó kéo theo các mối quan hệ khác
phát triển nhƣ du lịch quốc tế, bảo hiểm quốc tế, tín dụng quốc tế… Ngƣợc
lại, sự phát triển của các ngành này lại tác động trở lại hoạt động xuất khẩu,
trƣờng thủ công mỹ nghệ) đƣa ra khái niệm: “Thủ công mỹ nghệ là những sản
phẩm đòi hỏi kỹ năng và tay nghề cao, có thể dùng để trang trí hay cho các
mục đích khác nhƣng phải đƣợc chế tác hoàn toàn bằng tay hoặc chỉ sử dụng
các công cụ giản đơn. Kinh nghiệm và kỹ năng của ngƣời thợ thủ công là tiêu
chuẩn hàng đầu để đánh giá một sản phẩm thủ công mỹ nghệ. Những sản
phẩm nhƣ vậy cũng thƣờng mang ý nghĩa về mặt văn hóa và (hoặc) tôn giáo.
Những sản phẩm đƣợc sản xuất với số lƣợng lớn hoặc bằng máy không đƣợc
coi là thủ công mỹ nghệ.”
Trên thực tế, các sản phẩm thủ công mỹ nghệ không đƣợc phân chia
một cách rạch ròi theo mã HS
6
. Đó cũng là nguyên nhân dẫn đến nhiều cách
hiểu khác nhau về nhóm hàng này. Tại Việt Nam, luận án Tiến sỹ kinh tế của
Bạch Thị Lan Anh
7
(2010) đã tổng hợp một vài quan điểm về thủ công mỹ
nghệ ở nƣớc ta:
Theo Dƣơng Bá Phƣợng
8
(2001), thủ công mỹ nghệ là một trong năm
nhóm nghề thủ công truyền thống ở Việt Nam (gồm: [i] thủ công mỹ nghệ,
[ii] công cụ sản xuất, [iii] mặt hàng phục vụ tiêu dùng thông thƣờng, [iv] mặt
hàng phục vụ sản xuất và đời sống, [v] mặt hàng đƣợc chế biến từ lƣơng thực
thực phẩm). 6
Hệ thống hài hòa phân loại và mã hóa hàng hóa của Tổ chức Hải quan thế giới (The
Harmonized Commodity Description and Coding Systems, World Customs Organisation)
7
21. Nghề ngọc (trai, đá quý)
22. Nghề làm quạt giấy
23. Nghề làm trống
24. Nghề làm đồ chơi
25. Nghề làm con rối, múa rối
26. Nghề làm ô, dù, lọng
27. Nghề mây tre đan
28. Nghề làm đàn, sáo, nhị
29. Nghề làm trang phục sân khấu
30. Nghề mộc
31. Nghề kiến trúc
32. Nghề tiện (gỗ)
33. Nghề làm lƣợc
34. Nghề làm hƣơng nến
Nguồn: Bùi Văn Vượng (2002) 9
Giám đốc Trung tâm tạo mẫu làng nghề Việt Nam
12
Nhƣ vậy có thể thấy định nghĩa về thủ công mỹ nghệ của UNESCO và
Alaa Qattan mang tính khái quát hóa cao nhƣng cũng vì vậy lại gây ra một số
khó khăn khi xác định sản phẩm thủ công mỹ nghệ trong thực tế. Còn cách
phân chia của Bùi Văn Vƣợng tuy mang tính diễn giải cụ thể nhƣng có thể sẽ
vấp phải tình trạng liệt kê không đầy đủ. Hơn nữa, cách liệt kê quá chi tiết
nhƣ vậy không thực sự thuận tiện cho việc nghiên cứu. Vì thế, nhóm tác giả
đã dựa trên cách phân loại nhóm ngành thủ công mỹ nghệ trong Chiến lƣợc
xuất khẩu quốc gia ngành thủ công mỹ nghệ Việt Nam
10
Còn trên Thƣ viện học liệu mở Việt Nam
12
, năm đặc điểm của hàng thủ
công mỹ nghệ đã đƣợc nhắc tới, đó là: [i] Tính văn hóa; [ii] Tính mỹ thuật;
[iii] Tính đơn chiếc; [iv] Tính đa dạng; [v] Tính thủ công.
Trong phạm vi của nghiên cứu này, khi xây dựng mô hình định lƣợng
phân tích các yếu tố tác động tới kim ngạch xuất khẩu ngành hàng thủ công
mỹ nghệ ở chƣơng 2, nhóm tác giả đã sử dụng bộ số liệu xuất khẩu thủ công
mỹ nghệ của các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội. Do đặc thù của
một số doanh nghiệp nên đặc điểm về tính đơn chiếc (tính cá biệt và sắc thái
riêng của mỗi sản phẩm) không đƣợc thể hiện thật sự rõ nét. Ngoài ra, trong
nghiên cứu này, chúng tôi cũng không đặt ra vấn đề phân biệt giữa thủ công
mỹ nghệ truyền thống và thủ công mỹ nghệ công nghiệp mà chỉ xét tới những
đặc điểm nổi bật nhất sau của sản phẩm thủ công mỹ nghệ:
2.1.2.1. Tính thủ công
Đặc điểm về tính thủ công đƣợc thể hiện ngay trong tên gọi của nhóm
sản phẩm này: thủ công mỹ nghệ. Mặc dù ngày nay sản phẩm thủ công mỹ
nghệ có thể đƣợc sản xuất trong các doanh nghiệp với sự trợ giúp của hệ
thống máy móc thiết bị hiện đại hơn, nhƣng đóng góp từ lao động trực tiếp
của ngƣời thợ thủ công vẫn chiếm một phần không nhỏ. Chính vì đặc điểm
này mà thủ công mỹ nghệ đƣợc coi là nhóm sản phẩm có độ thâm dụng lao
động trên mỗi sản phẩm rất cao.
2.1.2.2. Tính mỹ thuật
Giống nhƣ tính thủ công, đặc điểm về tính mỹ thuật cũng đƣợc thể hiện
ngay trong tên gọi của nhóm sản phẩm này: thủ công mỹ nghệ. Bên cạnh giá 12
truy cập ngày 11/5/2011
14
làm đồ lƣu niệm tại các khu du lịch.
2.2.1.2. Xuất khẩu ra nước ngoài
Trong hình thức này, sản phẩm thủ công mỹ nghệ đƣợc bán cho đối tác
nƣớc ngoài bằng cách mang hàng sang tận nƣớc nhập khẩu bằng các phƣơng
tiện vận tải khác nhau và chịu sự ràng buộc của một số thủ tục xuất nhập khẩu
nhất định. Đây là hình thức xuất khẩu phổ biến và chiếm tỷ trọng lớn nhất
trong các hình thức xuất khẩu thủ công mỹ nghệ.
Quy trình của một sản phẩm thủ công mỹ nghệ từ ngƣời thợ thủ công
tới tay ngƣời tiêu dùng ở nƣớc ngoài đƣợc thể hiện trong sơ đồ sau đây:
Sơ đồ 1.1: Các kênh phân phối hàng thủ công mỹ nghệ
Nguồn: Cơ quan phát triển quốc tế Hoa Kỳ (2006)
Thợ thủ công
mỹ nghệ
Ngƣời tiêu
dùng
Nhà
xuất khẩu
Đại lý mua
giới. Đây đều là những quốc gia có nguồn lao động thủ công dồi dào, có
nhiều làng nghề thủ công truyền thống với đội ngũ nghệ nhân giỏi, có tay
nghề.
Ngoài ra với nƣớc xuất khẩu, do hàng thủ công mỹ nghệ đƣợc sản xuất
chủ yếu từ nguồn nguyên liệu sẵn có trong nƣớc nên giá trị ngoại tệ thực thu
về cho quốc gia khá cao
13
. Mặc dù kim ngạch xuất khẩu thủ công mỹ nghệ có
thể không lớn nhƣ một số nhóm hàng khác nhƣng do không phải nhập khẩu
nguyên liệu đầu vào nên thực tế giá trị gia tăng của dòng sản phẩm này lại
khá lớn.
2.2.2.2. Đặc điểm về nước nhập khẩu
Nhƣ đã trình bày trong phần đặc điểm của nhóm hàng thủ công mỹ
nghệ, đây là dòng sản phẩm mang nhiều giá trị thẩm mỹ, văn hóa, lịch sử,
đặc sắc. Giá trị lao động trực tiếp của ngƣời thợ thủ công tích lũy trong mỗi
sản phẩm là rất lớn. Vì vậy có thể nói nhóm sản phẩm này phù hợp với những
thị trƣờng có mức thu nhập cao hơn là những thị trƣờng có mức thu nhập
trung bình và thấp. 13
Một số trƣờng hợp lên đến 80 – 100%
17
Mặt khác, cũng chỉ ở những nƣớc phát triển, ngƣời tiêu dùng mới xuất
hiện nhu cầu quan tâm đến truyền thống văn hóa, nghệ thuật của nƣớc ngoài.
Và cũng chỉ ngƣời tiêu dùng ở các quốc gia phát triển mới có nhu cầu trang trí
nhà cửa sao cho tiện nghi và sinh động hơn bằng những sản phẩm không chỉ
hữu dụng mà còn giàu tính thẩm mỹ và văn hóa.
Minh chứng cho những luận điểm trên, vẫn theo báo cáo của Alaa
tỷ lệ nghịch với khoảng cách giữa hai nƣớc. Khi sử dụng cho các phân tích
kinh tế lƣợng, mô hình này còn có thể viết ở các dạng sau:
Lấy logarit tự nhiên hai vế của phƣơng trình, mô hình đƣợc viết ở dạng:
Trong đó:
Kim ngạch xuất khẩu của nƣớc i sang nƣớc j trong thời kỳ t
: Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của nƣớc i và nƣớc j trong thời kỳ t
: Dân số của nƣớc i và nƣớc j trong thời kỳ t
: Khoảng cách giữa nƣớc i và nƣớc j
: nhiễu tự nhiên
Nhƣ vậy, trong mô hình trọng lƣợng, có ba nhóm yếu tố tác động tới
kim ngạch xuất khẩu của hai quốc gia là: nhóm yếu tố cung ( ),
nhóm yếu tố cầu ( ) và nhóm yếu tố hấp dẫn, cản trở ( )
Những tác động của ba nhóm yếu tố đó tới thƣơng mại giữa hai nƣớc
đƣợc thể hiện trong sơ đồ dƣới đây:
19 Sơ đồ 1.2: Mô hình trọng lƣợng trong thƣơng mại quốc tế.
Nguồn: Đào Ngọc Tiến (2008)
Dƣới đây nhóm nghiên cứu sẽ giới thiệu khái quát về từng nhóm yếu tố
và tác động của chúng tới kim ngạch thƣơng mại giữa hai quốc gia.
3.1. Nhóm các yếu tố ảnh hưởng đến cung
Có hai yếu tố thƣờng đƣợc xét đến trong mô hình trọng lƣợng với tƣ
cách là yếu tố ảnh hƣởng đến cung hàng hóa xuất khẩu, đó là: Yếu tố thu
nhập (đƣợc biểu hiện bằng GDP hoặc GNP của nƣớc xuất khẩu), Yếu tố dân
số (đƣợc biểu hiện bằng số dân (population) hoặc số ngƣời trong độ tuổi lao
động (labor force) của nƣớc xuất khẩu).
nƣớc
Đẩy
Hút
Biên giới nƣớc
xuất khẩu
Biên giới nƣớc
nhập khẩu
20
3.1.1. GDP (GNP) của nước xuất khẩu
GDP (GNP) của nƣớc xuất khẩu đại diện cho năng lực sản xuất của
nƣớc đó. Khi giá trị này tăng lên cũng đồng nghĩa với việc lƣợng cung hàng
hóa của nƣớc đó tăng lên và do đó tiềm năng xuất khẩu đƣợc mở rộng.
Theo Nguyễn Thị Hà Trang và Nguyễn Thị Minh Tâm
16
(2010), hầu
hết các nghiên cứu thực nghiệm trƣớc đây đều đã chỉ ra tác động cùng chiều
của GDP (GNP) nƣớc xuất khẩu tới kim ngạch thƣơng mại giữa hai nƣớc.
Tuy nhiên mức độ ảnh hƣởng cũng khác nhau với từng quốc gia. Mức độ ảnh
hƣởng đó sẽ rõ rệt hơn ở những quốc gia lấy xuất khẩu làm động lực (nghĩa là
giữa xuất khẩu với thu nhập quốc dân có mối liên hệ chặt chẽ).
3.1.2. Dân số của nước xuất khẩu
Số dân (population) hoặc số ngƣời trong độ tuổi lao động (labor force)
của nƣớc xuất khẩu cũng là yếu tố quan trọng ảnh hƣởng tới khả năng xuất
khẩu của một quốc gia. Tuy nhiên tác động này có thể diễn ra theo nhiều
chiều hƣớng khác nhau.
Trƣớc hết, số dân hay số ngƣời trong độ tuổi lao động cho biết nguồn
cung lao động của nƣớc xuất khẩu. Nếu nguồn cung này dồi dào thì khả năng
sản xuất sẽ đƣợc gia tăng và tiềm năng xuất khẩu đƣợc mở rộng.
Tuy nhiên, ở một khía cạnh khác, số dân của một nƣớc cũng cho biết
động của thu nhập của ngƣời dân ở quốc gia nhập khẩu tới kim ngạch thƣơng
mại giữa hai nƣớc, ngƣời ta có thể thay biến GDP bằng biến GDP bình quân
đầu ngƣời (đƣợc tính bằng ). Trong một số trƣờng hợp, ngƣời ta
cũng có thể thay số dân bằng số ngƣời trong độ tuổi lao động (labor force) và
sử dụng biến . Về thực chất, biến này cho biết năng suất
(productivity) của mỗi ngƣời trong độ tuổi lao động ở quốc gia nhập khẩu.
Mục đích của việc sử dụng biến này là nhằm hạn chế sai số khi sử dụng biến
22
GDP bình quân đầu ngƣời khi mà có một bộ phận dân số không có thu nhập
(ngƣời ngoài độ tuổi lao động).
3.2.2. Dân số của nước nhập khẩu
Cũng giống nhƣ dân số của nƣớc xuất khẩu, dân số của nƣớc nhập khẩu
cũng là yếu tố quan trọng ảnh hƣởng tới kim ngạch thƣơng mại giữa hai quốc
gia. Tuy nhiên, tác động này cũng không rõ ràng và có thể diễn ra theo nhiều
chiều hƣớng khác nhau.
Trƣớc hết, dân số của nƣớc nhập khẩu biểu hiện quy mô của thị trƣờng
nƣớc nhập khẩu. Dân số càng đông thì nhu cầu của thị trƣờng nhập khẩu càng
đa dạng, và do đó nhu cầu với hàng hóa nói chung và hàng hóa nhập khẩu nói
riêng càng tăng.
Tuy nhiên, ngƣợc lại dân số của nƣớc nhập khẩu cũng cho biết nguồn
cung lao động ở nƣớc đó. Dân số càng đông thì nguồn cung lao động càng dồi
dào và nƣớc đó có thể sẽ có khả năng sản xuất đủ nhu cầu của mình mà không
cần nhập khẩu.
Nhƣ vậy tác động của biến dân số nƣớc nhập khẩu tới kim ngạch
thƣơng mại giữa hai quốc gia có thể là tác động cùng chiều hoặc ngƣợc chiều,
tùy thuộc vào từng trƣờng hợp cụ thể.
3.3. Nhóm các yếu tố hấp dẫn, cản trở
Theo sơ đồ 1.2 (Mô hình trọng lƣợng trong thƣơng mại quốc tế) ở phần
trên, nhóm các yếu tố hấp dẫn, cản trở gồm có: Các chính sách khuyến khích/
Thông thƣờng, khoảng cách địa lý sẽ có tác động ngƣợc chiều đến xuất
khẩu. Vì khoảng cách địa lý càng xa đồng nghĩa với chi phí vận chuyển, và
24
rủi ro trên đƣờng vận chuyển càng lớn. Ngƣợc lại, khoảng cách càng gần thì
chi phí vận chuyển càng giảm và rủi ro càng đƣợc hạn chế.
Nhƣ vậy trên đây nhóm nghiên cứu đã giới thiệu khái quát về mô hình
trọng lƣợng và các biến số thƣờng xuất hiện trong mô hình trọng lƣợng với tƣ
cách là những yếu tố tác động tới kim ngạch thƣơng mại giữa hai quốc gia.
Nhờ vào việc xét đến tác động của nhiều nhóm yếu tố và khả năng lƣợng hóa
dễ dàng các yếu tố đó, mô hình trọng lƣợng đã và đang đƣợc sử dụng rất phổ
biến trong các phân tích về thƣơng mại quốc tế. Do vậy, nghiên cứu này của
chúng tôi cũng sẽ đặt nền tảng trên mô hình trọng lƣợng để xác định và đánh
giá các yếu tố tác động tới kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng thủ công mỹ nghệ
của Hà Nội giai đoạn 2005 – 2009.