LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm và lòng biết ơn chân thành, tôi xin được gửi lời cảm ơn đến:
- Đảng uỷ, Ban Giám đốc, Khoa Sau Đại học, Học viện Ngân hàng đã tạo điều kiện
giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và làm luận án
- Quý Thầy/Cô Khoa Sau Đại học đã cung cấp cho tôi phương pháp nghiên cứu,
kiến thức chuyên môn trong suốt khoá học và đặc biệt là kỹ năng nghiên cứu một
cách chủ động, sáng tạo.
- Quý Thầy/Cô trong Hội đồng chấm luận án đã đóng góp cho tôi những ý kiến quý
báu trong quá trình hoàn thành luận án.
- Các cán bộ, nhân viên Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước và các Công ty cổ phần
Chứng khoán Việt Nam đã giúp đỡ tôi trong quá trình tiếp cận thực tế và tìm hiểu
số liệu phục vụ cho việc hoàn thành luận án.
- Tôi xin cảm ơn sâu sắc đến cô giáo PGS.TS Tô Kim Ngọc và TS. Đào Lê Minh đã
tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và chỉ bảo cho tôi trong suốt thời gian học tập, nghiên
cứu và hoàn thành luận án.
- Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến những người đã sinh thành và nuôi dạy tôi
trưởng thành, những người thân trong gia đình, bạn bè, các đồng nghiệp đã động
viên, giúp đỡ tôi vượt qua những khó khăn trong quá trình học tập và hoàn thành
luận án.
Dù đã cố gắng rất nhiều trong thời gian nghiên cứu nhưng bản Luận án này
không thể tránh khỏi thiếu sót. Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý
báu của Quý Thầy/Cô và đồng nghiệp để bản luận án này được hoàn thiện hơn.
Xin trân trọng cảm ơn.
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu riêng của tôi. Các số liệu, kết
quả trong luận án là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng.
Trần Thị Xuân Anh
ii
MỤC LỤC
!8FWMJNONPPQRFPOSTVFP
RXIYNZY;[
"9:!2
";<5=
"";$1$65
"!9>6?@A#5!
FKI!AA
I/AE
\NQMJNONPNPPQRFPOSTU
B VFPWAE
/!NONPNPPQRFPOSTUB VFP
WA[
.B 7CD+,-A#52
#E+,-8
A#F
";+C,2=
//\NQMJNONPNPPQRFPOSTU
B VFPW[A
$,, *D($) *+,-A#25
;/1$) *+,-8A#G
#$HI0($)D$#.G"
/8\NQMJNONPOSTUB VFP
W]A
"#J7C'5
"#J0'2
""#$%&''
FKI/!:;
iv
I8!:A
BB^IMJNONPNPPQRFPOS
CRO
DMĐT
ĐTCK
ERM
KDCK
KSNB
NHĐT
NHTM
PSSS
QLRR
TTCK
UBCKNN
VaR
VĐL
Công ty chứng khoán
Giám đốc quản lý rủi ro
Danh mục đầu tư
Đầu tư chứng khoán
Quản lý rủi ro doanh nghiệp
Kinh doanh chứng khoán
Kiểm soát nội bộ
Ngân hàng đầu tư
Ngân hàng thương mại
Phương sai sai số thay đổi
Quản lý rủi ro
Thị trường chứng khoán
ủy ban chứng khoán nhà nước
Giá trị rủi ro
Vốn điều lệ
AGR Công ty chứng khoán ngân hàng nông nghiệp
TS
Công ty chứng khoán Phố Wall
Rủi ro
Rủi ro hệ thống
Rủi ro phi hệ thống
Tài sản
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
vii
viii
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sau 13 năm đi vào hoạt động, thị trường chứng khoán Việt Nam đã có những
bước tiến vượt bậc và đã có lúc được đánh giá là một trong những thị trường có tốc
độ phát triển nhanh nhất thế giới; đặc biệt là mức độ, tỷ lệ và tốc độ tăng vốn hóa.
Để đáp ứng nhu cầu của thị trường và nắm bắt cơ hội kinh doanh mới, nhiều công
ty chứng khoán đã được thành lập. Mười ba năm qua, từ chỗ chỉ có 4 công ty chứng
khoán khi thị trường đi vào hoạt động, tính đến 31/12/2012 UBCKNN đã cấp phép
hoạt động cho 105 công ty. Thông qua các hoạt động kinh doanh chính như môi
giới, tự doanh, bảo lãnh phát hành và tư vấn đầu tư, các công ty chứng khoán đã
góp phần nâng cao tính thanh khoản cho thị trường, thu hút vốn đầu tư trong và
ngoài nước cho nền kinh tế và thúc đẩy thị trường phát triển.
Tuy nhiên, những diễn biến phức tạp của thị trường chứng khoán trong thời
gian qua, đặc biệt cuộc khủng hoảng tài chính thế giới 2008, đã ảnh hưởng không
nhỏ đến hoạt động kinh doanh của các công ty chứng khoán Việt Nam. Nhiều yếu
kém của các công ty dần lộ diện: số lượng các công ty quá nhiều so với quy mô thị
trường, năng lực tài chính yếu kém, khả năng cạnh tranh chưa cao, công tác quản trị
công ty chưa hiệu quả … dẫn đến hiệu quả kinh doanh kém, thậm chí nhiều công ty
rơi vào tình trạng thua lỗ nhiều năm, mất khả năng thanh khoản và phải nằm trong
này cho công ty chứng khoán. Chính vì vậy trong phạm vi nghiên cứu của luận án
tiến sỹ, với mong muốn nghiên cứu và đánh giá thực trạng công tác quản lý rủi ro
tại các công ty chứng khoán, từ đó góp thêm tiếng nói phản biện cho các công ty
chứng khoán, giúp các nhà hoạch định chính sách, các nhà quản lý có cơ sở vững
chắc hơn trong việc ra quyết định để quản lý rủi ro một cách tốt nhất, đề tài “Tăng
cường Quản lý rủi ro trong hoạt động kinh doanh của các Công ty cổ phần chứng
khoán ở Việt Nam” đã được chọn làm đề tài luận án tiến sỹ.
3
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Khái niệm quản lý rủi ro doanh nghiệp (Risk Management - ERM) chính
thức xuất hiện vào đầu những năm 1950 trên thế giới. Đến năm 1963, nghiên cứu của
Robert Mehr và Bob Hedges đã tạo ra một bước ngoặt trong lĩnh vực nghiên cứu về
ERM bằng việc tổng kết các quan niệm trước đây về QLRR và đưa ra một định
nghĩa mới về vấn đề này. Theo Robert và Bob, ERM là một quy trình xem xét đánh
giá toàn diện các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp để nhận biết những nguy
cơ tiềm ẩn có thể tác động xấu đến các mặt hoạt động của doanh nghiệp, trên cơ sở
đó sẽ đưa ra các giải pháp ứng phó, phòng ngừa phù hợp tương ứng với từng nguy
cơ [81]. Trên nền tảng lý thuyết này, các nghiên cứu tiếp theo tập trung vào một số
vấn đề sau:
Thứ nhất, quản lý rủi ro được thực hiện như thế nào? Nghiên cứu của Clup
(2002) đã cụ thể hóa quy trình QLRR bao gồm các bước cơ bản: nhận diện rủi ro,
phân tích đánh giá rủi ro, phân loại xếp hạng, báo cáo rủi ro, xử lý rủi ro và giám sát
rủi ro. Nghiên cứu của Standard & Poor (2008) cho rằng một quy trình QLRR
doanh nghiệp không nhằm mục tiêu loại bỏ hết các rủi ro của doanh nghiệp hoặc
thay thế cho bộ phận kiểm soát nội bộ, thực chất QLRR được xây dựng nhằm đảm
bảo khẩu vị rủi ro của doanh nghiệp phù hợp với mục tiêu lợi nhuận đã đề ra.
Nghiên cứu của Lisa (2002) cũng đồng thuận với quan điểm này với khái niệm
QLRR tích hợp (Intergrated risk management), trong đó nhấn mạnh đến mối quan
hệ giữa mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp; cấu trúc vốn vốn và sử dụng các
công cụ tài chính để đạt được mục tiêu rủi ro [36, 64, 87].
trị doanh nghiệp thông qua các kênh sau:
- Smith và Stulz (1985) đã đặt nền móng đầu tiên về mối quan hệ giữa ERM
và thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp với kết luận QLRR sẽ giúp doanh nghiệp
giảm thiểu mức biến động dòng lợi nhuận trước thuế, từ đó giảm thiểu mức thuế
suất phải nộp và gia tăng lợi nhuận kỳ vọng sau thuế miễn là chi phí QLRR không
phải quá lớn [86].
5
- Dựa trên việc phân loại các chi phí đại diện, nghiên cứu của Jensen &
Meckling cũng chứng minh mâu thuẫn lợi ích có thể giảm thiểu bằng ERM. Việc
xây dựng chiến lược kinh doanh dựa trên khẩu vị rủi ro của doanh nghiệp sẽ ngăn
ngừa nhà quản lý không thực hiện một dự án kinh doanh mà rủi ro cao hơn kỳ vọng.
ERM sẽ đảm bảo để lợi nhuận kỳ vọng của doanh nghiệp được xây dựng và thực
hiện theo khả năng chấp nhận rủi ro của cả nhà quản lý và chủ sở hữu doanh nghiệp
(Stulz, 2002). Ngoài ra, ERM giúp tăng cường giám sát hoạt động của nhà quản lý
bằng cách thiết lập mối tương quan giữa kết quả hoạt động của doanh nghiệp, các
quyết định của nhà quản lý và chính sách lương thưởng; đánh giá hiệu quả quản lý
của các nhà quản lý chính xác hơn dựa trên mục tiêu lợi nhuận – rủi ro, từ đó hướng
mục tiêu quản lý doanh nghiệp theo lợi ích của các cổ đông hay chủ sở hữu thực sự
của doanh nghiệp (Breeden và Viswanathan, 1998; Degeorge, Moselle và
Zeckhauser, 1996; DeMarzo và Duffie, 1995; Ljungqvist, 1994; Stulz, 1996).
- ERM cũng có thể góp phần nâng cao giá trị doanh nghiệp thông qua việc
kết nối hiệu quả chính sách tài chính và chính sách đầu tư trong thị trường vốn
không hoàn hảo. Trên thực tế, một doanh nghiệp áp dụng các công cụ quản lý rủi ro
có thể đảm bảo dòng tiền ổn định cho phép theo đuổi kế hoạch đầu tư tối ưu là kết
quả nghiên cứu của Chidambaran và các cộng sự năm 2001; Copeland và Copeland,
1999; Froot , Scharfstein và Stein , 1993 -1994; Lewent và Kearney 1990; Mello và
Parsons, 1999 và 2000; Minton và Schrand,1999; Moore, Culver và Masterman ,
2000; Santomero, 1995.
- Smith và Stulz (1985) là những người đầu tiên nghiên cứu về tình trạng kiệt
quệ tài chính của doanh nghiệp đã kết luận rằng một doanh nghiệp rơi vào tình
những doanh nghiệp được kiểm toán bởi các công ty lớn có uy tín được xem có chất
lượng kiểm toán tốt, đó cũng chính là những công ty thực hiện ERM tốt, do đó lợi
ích của ERM được phản ánh đầy đủ vào giá trị doanh nghiệp (Brian và các cộng sự
2006; Anette (2006)).
7
Các định chế tài chính thường có xu hướng thực hiện ERM đầy đủ và tốt hơn
so với các doanh nghiệp sản xuất do bản chất kinh doanh rủi ro. Ngoài ra, các định
chế tài chính thường là doanh nghiệp kinh doanh có điều kiện và chịu sự giám sát
chặt chẽ bởi các cơ quan quản lý. Chẳng hạn như yêu cầu về vốn theo Basel. Điều
này buộc các công ty tài chính phải thực hiện ERM thường xuyên và đầy đủ (Brian
và các cộng sự, 2006); Waweru và Kisaka (2012).
Kleffner và các cộng sự (2003) đã nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu
quả ERM tại Canada cho thấy quản trị doanh nghiệp đóng vai trò thiết yếu. Sự ủng
hộ của các nhà quản lý cấp cao tác động trực tiếp đến việc thực hiện ERM. Do đó,
ERM thường có mối tương quan dương với những doanh nghiệp thực hiện quản trị
doanh nghiệp (corporate governance) và ngược lại. Trên cơ sở đó, nghiên cứu của
Beasley chứng minh những doanh nghiệp quản trị tốt thường có giá trị gia tăng theo
mức độ thực hiện ERM [61].
Các doanh nghiệp sẽ thực hiện tốt hơn ERM nếu có các quy định đầy đủ và
chặt chẽ về hoạt động này. Do vậy, Deloach (2004) chỉ ra sự khác biệt trong kết quả
nghiên cứu giữa các doanh nghiệp buộc phải thực hiện ERM và những doanh
nghiệp không bắt buộc phải thực hiện. Kết quả hiển nhiên những doanh nghiệp phải
thực hiện ERM theo luật cũng là những doanh nghiệp có mức biến động giá thấp
hơn. Nói cách khác ERM mang lại kết quả thực sự cho những doanh nghiệp này.
Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu về QLRR doanh nghiệp song các
nghiên cứu trên vẫn còn nhiều khoảng trống tri thức cần được tiếp tục nghiên cứu:
Một là, phần lớn các nghiên cứu tập trung vào các doanh nghiệp tại các thị
trường tài chính đã phát triển, một số được nghiên cứu ở những thị trường đang
phát triển. Các nghiên cứu trên thị trường mới nổi và kém phát triển chưa nhiều, đặc
biệt ở TTCK Việt Nam, chưa có một nghiên cứu đầy đủ nào về ERM được thực
hiện nay đang là vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm dưới các góc độ và
mục tiêu nghiên cứu khác nhau. Tác giả Lê Công Điền trong luận văn thạc sỹ kinh
tế năm 2010 với đề tài “Quản lý rủi ro tại các Công ty cổ phần chứng khoán ở Việt
9
Nam – Thực trạng và giải pháp hoàn thiện”, đã đánh giá thực trạng quản lý rủi ro
của các công ty chứng khoán trên cơ sở trình bày quy trình từng nghiệp vụ như môi
giới, tự doanh, bảo lãnh phát hành, kế toán tài chính, qua đó đề cập các rủi ro phát
sinh của từng nghiệp vụ này. Trên cơ sở đó, nêu các biện pháp kiểm soát rủi ro mà
các CTCK hiện nay đang áp dụng làm nền tảng đề ra các giải pháp hoàn hiện quản
lý rủi ro tại CTCK [11].
Đề tài luận văn đã chỉ rõ các loại rủi ro riêng lẻ (rủi ro phi hệ thống) mà các
công ty chứng khoán có thể gặp phải, từ đó phân tích, đánh giá và đưa ra các biện
pháp phù hợp nhằm hạn chế những loại rủi ro này. Tuy nhiên, luận văn chưa đánh
giá chi tiết và cụ thể các rủi ro hệ thống mà công ty chứng khoán có thể gặp phải
cũng như tác động chéo giữa các loại rủi ro trong hoạt động kinh doanh của công ty.
Luận văn cũng chưa làm rõ thực trạng xử lý rủi ro, các công cụ, biện pháp phòng hộ
rủi ro tại các công ty chứng khoán. Ngoài ra, luận văn cũng chưa hệ thống hóa các
loại rủi ro và mức độ tác động của từng loại rủi ro đến hoạt động kinh doanh của
CTCK. Từ đó để thấy rằng những loại rủi ro nào nghiêm trọng và cần phòng ngừa
và những loại rủi ro nào có thể chấp nhận khi công ty thực hiện hoạt động kinh
doanh của mình.
Bài báo của PGS.TS Lê Hoàng Nga trên Tạp chí Chứng khoán số 174, tháng
4/2013 đã đưa ra một số nhận diện rủi ro hoạt động và triển khai Quản trị rủi ro tại
CTCK, trong đó đã phân tích những lý luận cơ bản về rủi ro hoạt động của CTCK,
từ đó đưa ra quy trình quản lý rủi ro. Song những phân tích trên chưa đi vào thực
tiễn và mới chỉ mang tính sơ lược. Một số bài viết khác về quản lý rủi ro của CTCK
tập trung vào việc giới thiệu, hướng dẫn quy trình quản lý rủi ro và một số biện
pháp để việc triển khai được thực hiện hiệu quả [18].
Như vậy, các bài nghiên cứu về QLRR tại các công ty chứng khoán ở Việt
Nam mới chỉ dừng lại ở việc phân tích, xác định rủi ro riêng lẻ trong hoạt động của
tại dưới hình thức là công ty cổ phần.
11
Phạm vi nghiên cứu là nhóm các công ty cổ phần chứng khoán Việt Nam,
bao gồm cả công ty chưa niêm yết và đã niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Hà
Nội và Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh, tính đến 31/12/2013,
kết hợp với việc nghiên cứu kinh nghiệm quản lý rủi ro trong hoạt động kinh doanh
của CTCK ở một số nước trên thế giới.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện các mục tiêu nghiên cứu trên, luận án sử dụng các phương pháp
phân tích, tổng hợp, đối chiếu so sánh, quy nạp vấn đề. Trên cơ sở phương pháp
duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để xem xét, đánh giá và làm sáng tỏ các vấn
đề thực tiễn, rút ra những điểm chủ yếu cần được giải quyết để đề xuất giải pháp,
kiến nghị phù hợp với thực tiễn.
Ngoài ra, luận án còn sử dụng phương pháp điều tra đối với các đối tượng là
nhà quản lý rủi ro tại các công ty chứng khoán, thống kê thu thập số liệu từ báo cáo
tài chính của CTCK, báo cáo thường niên của UBCKNN dưới dạng bảng số liệu
exel, sử dụng phần mềm EPIDATA và SPSS để phân tích, vẽ đồ thị và tính các hệ
số tương quan giữa các biến ngẫu nhiên.
Luận án cũng kế thừa, vận dụng một số kết quả nghiên cứu của các công
trình khoa học có liên quan đến nội dung nghiên cứu để làm sâu sắc thêm các luận
điểm trong đề tài luận án.
6. Kết cấu luận án
Ngoài phần mở đầu và kết luận, Luận án bao gồm 3 chương như sau:
Chương 1: Lý luận về quản lý rủi ro trong hoạt động kinh doanh của công ty
cổ phần chứng khoán
Chương 2: Thực trạng quản lý rủi ro trong hoạt động kinh doanh của các
công ty cổ phần chứng khoán ở Việt Nam
Chương 3: Một số giải pháp tăng cường quản lý rủi ro trong hoạt động kinh
doanh của các công ty cổ phần chứng khoán ở Việt Nam
12
được như mong muốn hay kỳ vọng, kết quả có thể gây tổn thất về giá trị tài sản, sự
giảm sút tỷ suất sinh lời thực tế so với lợi suất dự kiến.
Trong kinh doanh, rủi ro được quan niệm là nhân tố ảnh hưởng ngược chiều
đối với lợi nhuận kỳ vọng. Rủi ro làm giảm lợi nhuận kỳ vọng, đôi khi triệt tiêu lợi
nhuận và dẫn đến vỡ nợ, phá sản của doanh nghiệp. Tuy nhiên, điều có ý nghĩa thiết
thực nhất là rủi ro trong kinh doanh cần được hiểu dưới góc độ rủi ro tài chính. Đó
là một quan niệm không chia cắt giữa rủi ro và lợi nhuận. Quan niệm về rủi ro cũng
chính là quan niệm về hai mặt của một vấn đề, đằng sau lợi nhuận hứa hẹn mà một
hành vi kinh doanh mang lại là những rủi ro tiềm tàng. Các nhà quản lý kinh doanh
không thể quan niệm tách rời giữa hai mặt – rủi ro và lợi nhuận được.
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, khái niệm rủi ro được nhắc đến với
hàm ý là độ lệch khỏi lợi nhuận kỳ vọng, nếu lệch về phía trên, đó là sự gia tăng lợi
nhuận, nếu lệch về phía dưới, đó là sự gia tăng “rủi ro”. Bản thân thuật ngữ rủi ro
như vậy đã bao hàm cả lợi nhuận và rủi ro theo nghĩa thông thường.
Từ quan điểm trên, rủi ro trong kinh doanh chứng khoán được hiểu là những
biến cố không mong đợi mà khi xảy ra sẽ dẫn đến tổn thất về tài sản của CTCK,
giảm sút lợi nhuận thực tế so với dự kiến hoặc phải bỏ ra thêm một khoản chi phí để
có thể hoàn thành một nghiệp vụ kinh doanh nhất định. Khái niệm này bao hàm hai
nội dung cơ bản: (1) Sự thay đổi; (2) Kết quả của sự thay đổi là không lường trước
được. Sự thay đổi hay chính là sự không chắc chắn về những tình huống có thể xảy
ra trong tương lai, hoặc không thể chỉ định rõ chuyện gì sẽ xảy ra, khả năng chắc
chắn là bao nhiêu phần trăm. Đối với từng quy mô, kết quả của sự thay đổi sẽ khác
nhau. Về cơ bản, đối với CTCK, ngoài lợi nhuận, rủi ro có thể ảnh hưởng đến tài
sản, uy tín, đạo đức, thiệt hại nhân sự, rủi ro nghiệp vụ và cuối cùng là giá trị và
hình ảnh của công ty.
14
Qua khái niệm trên, có thể rút ra một số nhận xét sau để hiểu rõ hơn về bản
chất của rủi ro trong hoạt động kinh doanh của công ty chứng khoán.
Một là, rủi ro mang tính tất yếu, luôn tồn tại và gắn liền với hoạt động kinh
doanh của CTCK. Điều này xuất phát từ đặc điểm cơ sở khách hàng, mối quan hệ
không thuộc khả năng và quyền hạn của công ty, cũng như rủi ro do nhân viên
nghiệp vụ ghi sai nội dung và yêu cầu của khách hàng trong quá trình ký kết hợp
đồng và thực hiện giao dịch như rủi ro nhập lệnh sai, rủi ro áp dụng biểu phí sai cho
khách hàng ….
- Rủi ro trong hoạt động tự doanh bắt nguồn từ đầu tư vượt quá hạn mức thẩm
quyền đầu tư mua bán chứng khoán cho chính công ty; nhân viên hoặc người không
đủ thẩm quyền tiến hành hoặc tham gia tiến hành vào xúc tiến các thủ tục mua bán
chứng khoán cho công ty bằng nguồn vốn của công ty; xung đột quyền lợi với
khách hàng, ưu tiên thực hiện lệnh tự doanh của công ty trước lệnh của khách hàng;
lỗi sau giao dịch chuyển sang tài khoản tự doanh của công ty.
- Rủi ro trong hoạt động bảo lãnh phát hành: ứng với mỗi hình thức bảo lãnh
phát hành khác nhau mức độ rủi ro có thể mang lại cho CTCK là khác nhau. Chẳng
hạn, với hình thức BLPH chắc chắn, CTCK sẽ gặp rủi ro về giá khi số lượng chứng
khoán nhận bảo lãnh không phân phối hết. Ngoài ra, CTCK có thể gặp rủi ro về
pháp lý, đó là những thiệt hại về mặt tài chính trực tiếp hoặc gián tiếp gây ra bởi các
tranh chấp và kiện tụng với các đối tác trong quá trình giao dịch, soạn thảo hợp
đồng không chặt chẽ …
- Rủi ro trong hoạt động tư vấn: xuất phát từ việc tư vấn sai ảnh hưởng đến uy
tín của CTCK hoặc việc ký kết hợp đồng tư vấn không đúng với nội dung quyền
hạn của công ty hoặc không đúng với yêu cầu, gây ra hậu quả bất lợi cho công ty.
1.1.2.2. Theo nguồn gốc phát sinh rủi ro
Theo cách phân loại này, rủi ro trong hoạt động kinh doanh chứng khoán
được chia thành rủi ro hệ thống và rủi ro phi hệ thống như sau:
16
Rủi ro hệ thống được hiểu là loại rủi ro tác động đến toàn bộ hoặc hầu hết
các chủ thể trong nền kinh tế trong đó có CTCK. Sự bấp bênh của môi trường kinh
tế như sự sụt giảm GDP, biến động lãi suất, pháp luật, tốc độ lạm phát thay đổi là
những yếu tố tạo ra rủi ro hệ thống, gây ảnh hưởng lớn đến hiệu quả hoạt động kinh
doanh của công ty, từ đó dẫn đến những biến động trong giá chứng khoán công ty
trên thị trường. Rủi ro hệ thống bao gồm một số rủi ro chính sau:
sinh từ hoạt động nội tại của công ty và chỉ ảnh hưởng đến chính công ty hay một
ngành cụ thể. Khả năng quản lý, thị hiếu tiêu dùng, đình công và nhiều yếu tố khác
là nguyên nhân gây ra những bất ổn trong hoạt động kinh doanh của CTCK. Rủi ro
phi hệ thống gồm:
Thứ nhất là rủi ro kinh doanh được hiểu là những rủi ro phát sinh khi quyết
định và thực hiện các chiến lược đầu tư, kinh doanh của doanh nghiệp. Rủi ro kinh
doanh bao gồm:
- Rủi ro ngoại biên: là rủi ro xuất hiện do việc quyết định hoặc thực hiện chiến
lược đầu tư đi chệnh những động thái của các nhân tố thị trường như CTCK khi dự
báo sai mức thay đổi lãi suất, đầu tư nhầm thị trường …
- Rủi ro đầu tư: là rủi ro đe dọa hiệu quả đầu tư kỳ vọng của từng khoản mục,
danh mục đầu tư. Rủi ro đầu tư bao gồm cả rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường và rủi
ro thanh khoản.
- Rủi ro phát triển kinh doanh: là những rủi ro liên quan đến hoạt động quảng
bá hình ảnh, danh tiếng, chiến lược kinh doanh, mở rộng khách hàng, chăm sóc
khách hàng, phát triển sản phẩm …
Thứ hai là rủi ro tài chính liên quan đến việc công ty tài trợ cho hoạt động
của mình. Rủi ro này nằm bên phần nguồn vốn của bảng cân đối tài sản và liên quan
đến việc sử dụng nợ của công ty. Các chỉ số tài chính thường được dùng để xác
định sự lành mạnh trong hoạt động của công ty, đặc biệt là các chỉ số nợ trên tổng
tài sản, tỷ lệ thu nhập trên tổng tài sản. Rủi ro này liên quan nhiều đến: