ĐẠI HỌC AN GIANG
KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH
TRẦN MINH HIẾU
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO LỢI NHUẬN CHO VÙNG LÚA CHẤT
LƯỢNG CAO TẠI PHƯỜNG MỸ HÒA – LONG XUYÊN – AN GIANG
Chuyên ngành : QUẢN TRỊ KINH DOANH NÔNG NGHIỆP
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
1
Khóa luận được bảo vệ tại Hội đồng chấm bảo vệ luận văn
Khoa Kinh tế - Quản trị kinh doanh ngày ….. tháng 06 năm 2007
LỜI CẢM ƠN
Trải qua 5 tháng từ khi bắt đầu thu thập số liệu cho đến khi bài viết được
hoàn thành, Tôi đã học hỏi và tích luỹ được nhiều kinh nghiệm từ thực tế cuộc
sống, tất cả điều đó đã bổ sung thêm vào vốn kiến thức học tập từ ghế nhà
trường để làm hành trang vững bước vào tương lai.
Nhân đây, Tôi xin gửi lời cám ơn chân thành đến trường Đại Học An
Giang, đến khoa Kinh Tế - Quản Trị Kinh Doanh đã cung cấp nền tảng kiến
thức vô cùng quan trọng trong 4 năm học vừa qua, đã tạo điều kiện thuận lợi cho
Tôi trong quá trình thực hiện khóa luận.
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giảng dạy và hướng dẫn tận tình của thầy
đã trực tiếp hướng dẫn Tôi, đã tạo điều kiện cho Tôi tiếp súc nhiều với thực tế
cuộc sống, đã cho Tôi động lực để hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp.
Tôi xin gửi lời cảm ơn chung đến: Sở Nông Nghiệp và Phát Triển Nông
Thôn An Giang; Trung Tâm Khuyến Nông An Giang; Chi Cục Bảo Vệ Thực
Vật An Giang; Phường Mỹ Hòa. Đã tận tình giúp đỡ Tôi trong quá trình thu
thập số liệu phục vụ cho khóa luận.
Xin chân thành cảm ơn!
2
TÓM TẮT
Phường Mỹ Hòa với tiềm năng đa dạng, phong phú có nhiều điều kiện
thuận lợi để phát triển nông nghiệp đặc biệt là nghề trồng lúa truyền thống, hàng
Khái quát lại nền nông nghiệp Việt Nam trong những năm gần đây đã tiến
bộ vượt bật, từ một nền nông nghiệp lạc hậu và bị tàn phá nặng nề trong chiến
tranh, đến nay nông nghiệp ta không những xóa được tình trạng thiếu hụt về
lương thực mà còn trở thành một quốc gia xuất khẩu nông sản lớn trên thế giới,
đứng hàng thứ hai trên thế giới trong xuất khẩu gạo.
Trong xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập đang diễn ra ngày càng sâu sắc,
Việt Nam đã, đang và sẽ cố gắng hòa mình vào dòng chảy hội nhập của hệ thống
kinh tế thương mại thế giới bằng cách chủ động gia nhập vào các tổ chức kinh tế
trong khu vực và trên thế giới. Hiện nay Việt Nam đã gia nhập vào nhiều tổ
chức như: Hiệp định Chung về Thuế quan và Thương mại (General Agreement
on Tariffs and Trade – GATT), ASIAN và là thành viên thứ 150 của tổ chức
thương mại thế giới (WTO: World Trade Organization), tạo ra cho Việt Nam
nhiều cơ hội trong ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật về lai tạo giống, công
nghệ sinh học trong việc tạo ra nhiều giống mới chất lượng và năng suất cao,
các công nghệ tiên tiến sau thu hoạch…. Đồng thời cũng không tránh khỏi
những đe dọa về thị trường, về đối thủ cạnh tranh và đặc biệt là các tiêu chuẩn
về chất lượng vệ sinh an toàn trong sản xuất nông nghiệp ngày càng khắc khe
hơn.
Ngày nay, con người đã đạt được trình độ phát triển rất cao về ứng dụng
công nghệ và khoa học kỹ thuật trong canh tác lúa, cũng như nhiều lĩnh vực sản
xuất khác. Nhưng nhiều nước trên thế giới vẫn còn phải sống dựa vào hoạt động
nông nghiệp là chủ yếu. Giáo sư – Tiến sĩ Võ Tòng Xuân có nói: “Lúa là sự
sống của hơn phân nữa dân số trên thế giới, là thực phẩm hạt quan trọng trong
bữa ăn của hàng trăm triệu người dân Châu Á, Châu Phi và Châu Mỹ Latinh
sống trong vùng nhiệt đới và Á nhiệt đới. Sống trong những vùng này, dân số
ngày càng gia tăng rất nhanh và hiện tại vẫn tăng nhanh như thế. Lúa vẫn là
nguồn thực phẩm chính của họ…”
Việc phát triển nông nghiệp cũng như nhiều vấn đề liên quan đến nông
dân và đặc biệt là lĩnh vực lúa trong nhu cầu cao của hội nhập, được xem là đề
tài được nhiều nhà khoa học trên thế giới quan tâm. Ở Việt Nam, đó cũng là lĩnh
1.2.1. Khảo sát hiện trạng sản xuất lúa trên địa bàn Phường Mỹ Hòa.
Phường Mỹ Hòa có diện tích đất sử dụng trong lĩnh vực nông nghiệp lớn
940,6 ha, hàng năm cung cấp cho Phường sản lượng lúa rất lớn 12.070 tấn(
3
),
nhưng đa phần không đồng đều nhau về chất lượng do đa dạng chủng loại, đất
sản xuất manh mún, nhỏ lẻ. Bên cạnh đó trong hai năm trở lại đây cơn đại dịch
rầy nâu gây bệnh vàng lùn và lùn xoắn lá lúa đã gây hại nghiêm trọng, đồng thời
do sự hạn chế của bà con nông dân trong ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật
trong canh tác đã dẫn đến năng suất giảm và kéo theo sự sụt giảm về chất lượng,
lợi nhuận thu lại trong sản xuất thì thấp nhưng chi phí bỏ ra thì rất cao.
1.2.2. Một số giải pháp nâng cao lợi nhuận.
Qua quá trình khảo sát hiện trạng sản xuất lúa trên Phường Mỹ Hòa cho
thấy bà con nông dân còn sản xuất nhỏ lẻ, đất sản xuất manh mún, diện tích đất
bình quân/hộ từ 3 đến 5 công, nông dân chưa có sự liên kết lại với nhau trong
quá trình sản xuất, chưa nắm rõ và do hạn chế về các tài liệu hướng dẫn kỹ thuật
canh tác, chưa cập nhật được các loại giống chất lượng cao nên chỉ sản xuất các
loại giống thường, không có khả năng kháng sâu bệnh từ đó bà con tốn nhiều chi
phí trong phun thuốc phòng và trị… Nhưng kết quả mang lại là năng suất thấp
và chất lượng không cao.
Do không có sự liên kết trong sản xuất nên hạn chế rất lớn trong khả năng
thương lượng giá khi bán, không bán được trực tiếp cho công ty hoặc nhà máy
mà chỉ bán cho thương lái nên thường bị ép giá.
Thấy được hiện trạng sản xuất hiện tại và nhu cầu ngày càng cao của thị
trường trong thời hội nhập trong lĩnh vực lúa gạo, nên trong bài viết này đưa ra
một vài giải pháp nâng cao lợi nhuận cho bà con trong quá trình canh tác lúa.
3
() Phường Mỹ Hòa báo cáo tổng kết về tình hình phát triển kinh tế xã hội 2006.
Sau đây là một số giải pháp nhằm giúp cho bà con nâng cao lợi
nhuận trong sản xuất lúa:
Giang
Sở nông nghiệp tỉnh Cần
Thơ
Trung tâm khuyến nông
quốc gia
Công Ty CP bảo vệ thực vật
An Giang
Khoa học kỹ thuật nông
nghiệp
1.4.2. Phương pháp xử lý dữ liệu.
Bảng câu hỏi sau khi phỏng vấn sẽ được tiến hành xử lý bằng phần mềm
phân tích dữ liệu SPSS for Windows sau đó sẽ tiến hành phân tích, so sánh và
đưa ra kết luận phục vụ cho khóa luận.
1.5. Ý nghĩa
Để hạn chế việc sản xuất manh mún nhỏ lẻ, việc sản xuất lúa bằng nhiều
loại giống khác nhau, và đặc biệt là cơn đại dịch rầy nâu gây bệnh vàng lùn và
lùn xoắn lá lúa đã đang và sẽ đe doạ trực tiếp đến mùa vụ của bà con. Nếu
không giải quyết tốt các vấn đề đó thì chi phí sản xuất của bà con sẽ rất cao, ảnh
hưởng rất lớn đến lợi nhuận mang lại. Để giúp cho bà con hiểu rõ hơn về tầm
quan trọng của việc canh tác lúa đúng kỹ thuật, canh tác giống chất lượng cao,
liên kết sản xuất để đảm bảo an toàn đầu ra, giúp bà con nắm vững về tình hình
dịch hại và các giải pháp đồng bộ để phòng trừ rầy nâu, bệnh vàng lùn và lùn
xoắn lá là vấn đề cấp bách hiện nay, nhằm tạo ra một quy trình canh tác lúa để
có lợi nhuận cao, chất lượng lúa được nâng lên đáng kể đáp ứng nhu cầu hội
nhập của thị trường.
Nghiên cứu, tham khảo ý kiến của bà con nông dân, cán bộ nông nghiệp
Phường cùng các giảng viên của trường Đại Học An Giang để đưa ra “Một số
giải pháp nâng cao lợi nhuận cho vùng lúa chất lượng cao tại Phường Mỹ Hòa –
Thành Phố Long Xuyên – Tỉnh An Giang”.
Chương 2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Hoàn thành đề cương
chi tiết
Chuẩn bị bảng câu hỏi
phỏng vấn nông dân
Phỏng vấn nông dân
Phân tích mẫu phỏng
vấn
Viết bài
Nộp bản nháp
Chỉnh sửa và hoàn
thành bản chính
Nộp bản chính
Chuẩn bị báo cáo
Bảo vệ khóa luận
2.2. Giới thiệu về vùng nghiên cứu (Giới thiệu về Phường Mỹ Hòa).
Mỹ Hòa là một Phường ven đô cách trung tâm thành phố Long Xuyên
khoảng 1km về hướng Tây.
Phía Bắc giáp Xã Mỹ Khánh và Phường Bình Khánh.
Phía Nam giáp Phường Mỹ Quí và Phường Mỹ Phước.
Phía Đông giáp Phường Đông Xuyên.
() PGS.TS Đoàn Xuân Tiên. Học Viện Tài Chính, Trang 44 Giáo trình Kế Toán Quản Trị; Nhà xuất bản Tài chính
Hà Nội 2005.
Từ khái niệm đó mở rộng ra về chi phí trong lĩnh vực lúa như sau:
Chi phí sản xuất lúa là toàn bộ các chi phí về lao động sống, nguyên nhiên
vật liệu và các chi phí cần thiết khác mà nông dân phải bỏ ra trong quá trình canh
tác lúa, được biểu hiện bằng tiền và tính cho một mùa vụ (thường là 3 tháng).
Qua đó ta có thể thấy các yếu tố của chi phí sản xuất lúa bao gồm:
Lao động sống là hao phí về sức lao động của nông dân, các lao động
thuê mướn khác trong canh tác lúa. Đó là yếu tố thứ ba trong bốn yếu tố quan
trọng trong nông nghiệp mà ông bà ta thường nói: “Nhất nước, Nhì phân, Tam
cần, Tứ giống”. Sự thành bại về năng suất cao hay thấp là một phần rất lớn vào
công chăm sóc, “Một nông dân giỏi là nông dân phải hiểu những gì cây lúa nói và
cây lúa khỏe năng suất cao là cây lúa được chăm sóc chu đáo bởi nông dân”.
Nguyên nhiên vật liệu là chi phí về các vật tư nông nghiệp như: Phân
bón, thuốc trừ sâu… về giống phục vụ cho sản xuất.
Các chi phí khác bao gồm các chi phí về thuê mướn các công cụ, thiết
bị cần thiết trong chuẩn bị ban đầu trước khi bước vào mùa vụ (làm đất, làm cỏ,
cày, bừa…).
2.3.2. khái niệm doanh thu.
Doanh thu là khoản thu của nhà sản xuất sau khi bán sản phẩm của mình và
được tính bằng tiền thể hiện qua công thức:
Doanh thu = sản lượng bán x giá bán.
Từ đây khái quát về khái niệm doanh thu trong lĩnh vực lúa:
Doanh thu của nông dân trong canh tác lúa chính là khoản tiền mà nông dân
thu được khi bán lúa.
Doanh thu = năng suất x giá bán.
2.3.3. Khái niệm lợi nhuận.
Lợi nhuận của nhà sản xuất chính là khoản dôi ra sau cùng mà nhà sản xuất
nhận được sau khi bù đắp các khoản chi phí và được biểu hiện bằng tiền thể hiện
thông qua công thức sau:
có đến 3 thửa nhưng mỗi thửa chỉ có từ 1 đến 3 công (53,3% số hộ gia đình) và
chỉ có 16,7% số hộ gia đình có từ 8 công trở lên.
Bảng 3.1. Diện tích đất canh tác phổ biến trên Phường
Tần số Phần trăm (%)
Diện tích Từ 1 đến 3 công 16 53,3
Từ 4 đến 7 công 9 30,0
Từ 8 công trở lên 5 16,7
6(1)
Phường Mỹ Hòa báo cáo tổng kết tình hình phát triển kinh tế xã hội năm 2006
kế hoạh công tác năm 2007.
Tổng số mẫu 30 100,0
(Nguồn: Phỏng vấn trực tiếp nông dân trên Phường)
Biểu đồ 3.1. Diện tích đất canh tác phổ biến trên Phường
Với
mật độ đó cho thấy diện tích đất nông nghiệp bình quân/hộ gia đình ở Phường
Mỹ Hòa dao động từ 3 đến 5 công thấp hơn nhiều so với diện tích đất nông
nghiệp bình quân/hộ của Tỉnh dao động từ 6 đến 8 công(
7
). Điều này liên quan
đến chi phí sản xuất lúa như: Nếu hộ gia đình canh tác từ 1 đến 3 công thì có khi
chi phí lên đến trên 1.100.000đồng/công, bình quân chi phí sản xuất lúa trên
phường dao động từ 900.000đồng đến 1.000.000đồng/công.
Biểu đồ 3.2. Mối quan hệ giữa chi phí và diện tích
7
Sở nông nghiệp tỉnh An Giang Báo cáo tổng kết ngành Nông Nghệp 2006 kế hoạch sản xuất 2007.
16,7
30
53,3
0
10
Từ 8 công trở lên
Từ 4 – 7 công
60
50
40
30
10
0
Trên 1.100.000
Đồng
Trên 900.000 -
1.100.000 Đồng
Từ 700.000 -
900.000 Đồng
Dưới 700.000
Đồng
20
Diện tích đất gia đình đang canh tác
Từ 1 – 3 công
Tổng mẫu 30 100,0
(Nguồn: Phỏng vấn trực tiếp nông dân trên Phường)
Bảng 3.3. Chi phí canh tác lúa vụ hè thu
Tần số
Phần trăm
(%)
Chi Phí
Dưới 700.000đồng/công 1 3,3
Từ 700.000đồng đến 900.000đồng/công 9 30,0
Trên 900.000đồng đến
1.100.000đồng/công
Từ 700kg đến 900kg/công 10 33,3
Trên 900kg/công 8 26,7
Tổng mẫu 30 100,0
(Nguồn: Phỏng vấn trực tiếp nông dân trên Phường)
Biểu đồ 3.5. So sánh năng suất lúa vụ đông xuân và hè thu
Bảng 3.6. Năng suất vụ hè thu
Tần số
Phần trăm
(%)
Năng
suất
Dưới 700kg/công 19 63,3
Từ 700kg đến 900kg/công 11 36,7
Tổng mẫu 30 100,0
(Nguồn: Phỏng vấn trực tiếp nông dân trên Phường)
Qua biểu đồ cho thấy năng suất lúa vụ đông xuân có cao hơn nhiều so với
năng suất lúa vụ hè thu. Trong vụ hè thu năng suất không thể đạt đến
900kg/công (45 giạ/công) và ở vụ này năng suất đạt rất thấp có đến 63,3% số hộ
nông dân chỉ đạt năng suất dưới 700kg/công. Cụ thể như sau:
Bảng 3.7. So sánh năng suất, chi phí và lợi nhuận giữa Phường Mỹ
Hòa và Tỉnh An Giang.
Phường Mỹ Hòa
(a)
Tỉnh An Giang
(b)
Năng suất bình quân (kg) 680 630
Giá bán (đồng/kg) 2.850 2.850
Doanh thu (đồng) 1.938.000 1.795.500
Chi phí (đồng) 1.000.000 750.000
Lợi nhuận (đồng) 938.000 1.045.500
JASMINE 1 3,3
VND 95-20 2 6,7
Tổng Mẫu 30 100,0
(Nguồn: Phỏng vấn trực tiếp nông dân trên Phường)
Bảng 3.9. Tên giống mà bà con nông dân trên Phường Mỹ Hòa canh
tác vụ Hè thu
Tần số Phần trăm (%)
Giống lúa OM 1490 7 23,3
OM 3536 4 13,3
IR 50404 8 26,7
OM 2514 1 3,3
OM 2517 5 16,7
OM 2519 1 3,3
OMCS 2000 3 10,0
VND 95-20 1 3,3
Tổng Mẫu 30 100,0
(Nguồn: Phỏng vấn trực tiếp nông dân trên Phường)
Giống mà bà con đang sử dụng xuất phát từ nhiều nguồn khác nhau,
nhưng nhìn chung có 3 nguồn chính: Giống xác nhận; Giống được để lại từ vụ
trước; Giống được trao đổi với nông dân khác. Trong đó có đến 56,7% số hộ
nông dân sử dụng giống của mình để lại từ vụ trước, tuy nhiên quá trình để
giống lại của bà con trải qua nhiều vụ:
Bảng 3.10. Nguồn giống phổ biến trên Phường Mỹ Hòa
Tần số
Phần trăm
(%)
Nguồn
gốc
Giống nguyên chủng 0 0,0
Giống xác nhận 7 23,3
Bảng 3.12. Lượng giống bà con dùng để gieo sạ
Tần số
Phần trăm
(%)
Số lượng
Dưới 15 kg 3 10.0
Từ 15 kg đến 18 kg 12 40,0
Từ 19 kg đến 22 kg 14 46,7
Từ 23 kg trở lên 1 3,3
Tổng mẫu 30 100,0
(Nguồn: Phỏng vấn trực tiếp nông dân trên Phường)
Mặc dù lượng giống bà con sử dụng để gieo sạ còn cao, tuy nhiên bà con
nông dân ta đã nhận thức được việc sử dụng lượng giống nhiều không làm tăng
năng suất mà còn trực tiếp ảnh hưởng đến năng suất và kéo theo sự sụt giảm về
lợi nhuận. Qua trao đổi trực tiếp với bà con thì đa phần bà con muốn giảm lượng
giống xuống trong vụ sau, có 63,3% số hộ gia đình có nguyện vọng sử dụng
lượng giống ít hơn từ 2 – 3 kg/công so với hiện tại. Chính vì điều đó mà Tôi tin
chắc rằng giải pháp về giống mà Tôi trình bày ở mục 4.1 Trang 26 sẽ được nông
dân ủng hộ và đạt kết quả tốt.
Biểu đồ 3.8. Lượng giống nông dân thường sử dụng
Bảng 3.13. Bà con muốn dùng lượng giống nhiều hơn hay ít hơn
Tần số Phần trăm (%)
Giá trị
Nhiều hơn 11 36,7
Ít hơn 19 63,3
Tổng mẫu 30 100,0
(Nguồn: Phỏng vấn trực tiếp nông dân trên Phường)
Biểu đồ 3.9. Bà con muốn dùng lượng giống nhiều hơn hay ít hơn
Bảng 3.14. Điều quan trọng hơn khi gia đình chọn giống
Tần số Phần trăm (%)