LỜI MỞ ĐẦU
1. ĐẶT VẤN ĐỀ:
Sự hình thành và phát triển thị trường chứng khoán trên thế giới có cách đây
hàng trăm năm, nhưng cho đến nay, nó vẩn còn chưa mất đi tính huyền bí vốn có
của nó. Chính sự huyền bí của thị trường chứng khoán đã có tác dụng lớn lao đối
với nền kinh tế nói chung, và cho giới đầu tư chứng khoán nói riêng. Có thể nói
thị trường chứng khoán là một hoạt động kinh tế_ xã hội đầy mâu thuẫn: vừa
trừu tượng nhưng hết sức cụ thể, vừa chặt chẽ ghê ghớm về luật pháp nhưng
quyền tự do đầu tư lại rộng rãi nhất cho mọi đối tượng, vừa đầy rẩy rủi ro nhưng
cũng hứa hẹn những khoản lợi nhuận hấp dẫn, thường yên ả nhưng có lúc ồn ào
thậm chí náo loạn. Một hiện tượng như vậy làm nảy sinh một tình cảm dè dặt, lo
ngại trong chúng ta là điều dể hiểu. Để giúp các nhà đầu tư có thể tự tin hơn
trong quyết định đầu tư của mình thông qua việc có những quyết định đúng đắn
khi tham gia thị trường chứng khoán, nhóm sinh viên chúng tôi đã đi đến việc
nghiên cứu đề tài “Các tiêu chí tài chính để chọn mã chứng khoán trên sàn
giao dịch TP. HCM”.
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI:
Đề tài tập trung vào giải quyết hai vấn đề cơ bản:
2.1. Vấn đề thứ nhất về mặt lý luận:
Vận dụng lý luận và những mô hình phân tích báo cáo tài chính và các chỉ số
tài chính đặc biệt là việc phân tích tốc độ tăng trưởng và mô hình chiết khấu cổ
tức làm rõ cơ sở lý luận về vai trò của các tiêu chí tài chính trong việc định giá
chứng khoán và lựa chọn các cổ phiếu trên sàn giao dịch.
2.2. Vấn đề thứ hai về mặt thực tiễn:
Đánh giá tổng quan về thị trường chứng khoán và hiệu quả hoạt động của thị
trừong chứng khoán.
Phân tích các chỉ số tài chính của một số công ty tiêu biểu trên sàn giao dịch
chứng khoán Tp. HCM.
- 1 -
Phân tích và đánh giá thực trạng sử dụng các chỉ số tài chính trong đầu tư
chứng khoán đã đề xuất với các cơ quan nhà nước, công ty dịch vụ phân tích tài
chính và nhà đầu tư để việc vận dụng các tiêu chí tài chính trong đầu tư chứng
khoán được tốt hơn là cơ sở để cho thị trường chứng khoán phát triển một cách
bền vững.
Trong tất cả các vấn đề thì việc nghiên cứu giữa lý thuyết và thực tiễn xảy ra
vẩn luôn có khoảng cách, song với sự cố gắng của nhóm hi vọng đề tài này sẽ
thực sự bổ ích cho các nhà đầu tư chứng khoán, đặc biệt là các nhà đầu tư mới
gia nhập thị trường.
Trong quá trình thực hiện đề tài nhóm đã nhận được sự hướng dẫn tận tình
của PGS. TS Phan Thị Cúc trưởng khoa Tài chính – Kế toán, TS. Nguyễn Trung
Trực cùng với một số giảng viên khoa Tài Chính Kế Toán trường Đại Học Công
Nghiệp TP. HCM,
Mặc dù nhóm đã có nhiều cố gắng song do điều kiện hạn chế về thời gian,
phạm vi nghiên cứu, cũng như khả năng còn khiêm tốn nên đề tài không thể
tránh khỏi thiếu sót, rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô và
bạn đọc khác.
Xin chân thành cảm ơn!
- 3 -
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁC TIÊU CHÍ TÀI CHÍNH TRONG
ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN
1.1. Giới thiệu chung về phân tích các chỉ số tài chính trong đầu tư chứng
khoán.
Phân tích tài chính là quá trình thu thập và xử lý các dữ liệu và sự kiện tài
chính thông qua các kỹ thuật và công cụ thích hợp để tạo ra thông tin tài chính có
giá trị nhằm rút ra các kết luận hoặc ra các quyết định tài chính. Nói ngắn gọn,
phân tích tài chính là một quá trình bao gồm bốn khâu căn bản: (1) Thu thập dữ
liệu, (2) Phân tích và xử lý dữ liệu thu thập được, (3) Tạo ra thông tin tài chính, và
(4) Kết luận hoặc ra quyết định tài chính. Dưới đây chúng ta sẽ xem xét chi tiết
hơn từng từng khâu này.
ật
ph
â
n
tíc
h
că
n
b
ả
n
v
à
qu
a
n
t
rọng
nh
ất c
ủ
a
ph
â
n
tíc
h b
ế
n
v
iệc
x
ác
đ
ị
nh
v
à
sử
dụng
các t
ỷ
số
tài c
h
í
nh
để
đo
l
ường
v
iề
u
l
o
ại t
ỷ
số
tài c
h
í
nh
kh
ác
nh
a
u.
Dự
a
v
à
o
các
h
t
hứ
c
sử
à
nh
b
a l
o
ại: t
ỷ
số
tài
- 4 -
c
h
í
nh
x
ác
đ
ị
nh
t
ừ
b
ả
ng
câ
n
nh
ậ
p
v
à t
ỷ
số
tài c
h
í
nh
x
ác
đ
ị
nh
t
ừ
cả
h
ai
b
á
o
cá
o
t
h
ể c
h
ia t
h
à
nh
: các t
ỷ
số
t
h
a
nh kho
ả
n,
các t
ỷ
số
nợ,
t
ỷ
số
kh
ả
kh
ả
n
ă
ng
s
i
nh
l
ợ
i
,
v
à các t
ỷ
số
tă
ng
t
rưởng.
Ngoài ra còn các phương pháp phân tích khác như phân tích xu hướng, phân
tích kỹ thuật…
1.2. Cơ sở lý luận về chứng khoán và thị trường chứng khoán
1.2.1. Thị trường chứng khoán:
Thị trường chứng khoán trong điều kiện của nền kinh tế hiện đại, được
quan niệm là nơi diễn ra các hoạt động giao dịch mua bán chứng khoán trung
và dài hạn. Việc mua bán này được tiến hành ở thị trường sơ cấp khi người mua
Các nhà đầu tư cá nhân
Các nhà đầu tư có tổ chức
• Các tổ chức kinh doanh trên thị trường chứng khoán
Công ty chứng khoán
Quỹ đầu tư chứng khoán
Các trung gian tài chính
• Các tổ chức có liên quan đến thị trường chứng khoán
Cơ quan quản lý Nhà nước
Sở giao dịch chứng khoán
Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán
• Tổ chức lưu ký và thanh toán bù trừ chứng khoán
Công ty dịch vụ máy tính chứng khoán
Các tổ chức tài trợ chứng khoán
Công ty đánh giá hệ số tín nhiệm...
- 6 -
1.2.1.3. Các nguyên tắc hoạt động cơ bản của thị trường chứng khoán
Thị trường chứng khoán hoạt động theo các nguyên tắc cơ bản sau:
Nguyên tắc công khai
Nguyên tắc trung gian
Nguyên tắc đấu giá
1.2.1.4. Cấu trúc và phân loại cơ bản của thị trường chứng khoán
Thị trường chứng khoán là nơi diễn ra các giao dịch, mua bán những sản
phẩm tài chính (cổ phiếu, trái phiếu, các khoản vay ngân hàng... có kỳ hạn trên 1
năm). Sau đây là một số cách phân loại TTCK cơ bản:
Căn cứ vào sự luân chuyển các nguồn vốn
Thị trường chứng khoán được chia thành thị trường sơ cấp và thị trường thứ
cấp.
+) Thị trường sơ cấp
Thị trường sơ cấp là thị trường mua bán các chứng khoán mới phát hành.
Trên thị trường này, vốn từ nhà đầu tư sẽ được chuyển sang nhà phát hành thông
kết quả kinh doanh; Được quyền bầu cử, ứng cử vào bộ máy quản trị và kiểm
soát công ty; Và phải chịu trách nhiệm về sự thua lỗ hoặc phá sản tương ứng với
phần vốn góp của mình.
Các cổ đông sở hữu cổ phiếu ưu đãi cũng là hình thức đầu tư vốn cổ phần
như cổ phiếu thông thường nhưng quyền hạn và trách nhiệm hạn chế như: lợi tức
cố định; không có quyền bầu cử, ứng cử….
Tác dụng của việc phát hành Cổ phiếu:
Đối với Công ty phát hành:
Việc phát hành cổ phiếu sẽ giúp cho Công ty có thể huy động vốn khi thành
lập hoặc để mở rộng kinh doanh. Nguồn vốn huy động này không cấu thành một
- 8 -
khoản nợ mà công ty phải có trách nhiệm hoàn trả cũng như áp lực về khả năng
cân đối thanh khoản của công ty sẽ giảm rất nhiều, trong khi sử dụng các
phương thức khác như phát hành trái phiếu công ty, vay nợ từ các tổ chức tín
dụng ...thì hoàn toàn ngược lại. Tuy nhiên, mỗi phương thức huy động đều có
những ưu nhược điểm riêng và nhà quản lý công ty phải cân nhắc, lựa chọn tùy
từng thời điểm và dựa trên những đặc thù cũng như chiến lược kinh doanh của
công ty để quyết định phương thức áp dụng thích hợp.
Đối với nhà đầu tư cổ phiếu:
Nhà đầu tư là tổ chức, cá nhân Việt Nam và tổ chức, cá nhân nước ngoài
tham gia đầu tư trên thị trường chứng khoán.
Nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp là ngân hàng thương mại, công
ty tài chính, công ty cho thuê tài chính, tổ chức kinh doanh bảo hiểm, tổ chức
kinh doanh chứng khoán.
Quỹ đầu tư chứng khoán là quỹ hình thành từ vốn góp của nhà đầu tư với mục
đích kiếm lợi nhuận từ việc đầu tư vào chứng khoán hoặc các dạng tài sản đầu tư khác,
kể cả bất động sản, trong đó nhà đầu tư không có quyền kiểm soát hàng ngày đối với
việc ra quyết định đầu tư của quỹ.
Các nhà đầu tư trên thị trường sẵn sàng mua Cổ phiếu được công ty phát
hành. Giấy chứng nhận sở hữu cổ phần được phát hành dưới dạng chứng thư có
hoạch, tài trợ, đầu tư và hoạt động sản xuất. Báo cáo tài chính bao gồm bốn loại
bảng là: bảng cân đối kế toán, bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, bảng
báo cáo lưu chuyển tiền tệ, bảng thuyết minh báo cáo tài chính, sau đây sẽ giới
thiệu rõ hơn ba loại bảng trên trừ bảng thuyết minh báo cáo tài chính.
1.3.1.1. Bảng cân đối kế toán
Cho biết tình hình tài sản và nguồn hình thành tài sản của doanh nghiệp với
phương trình kế toán: Tổng tài sản = Tổng nguồn vốn, phương trình kế toán
thể hiện bảng cân đối kế toán tại một thời điểm. Các khoản mục trong bảng cân
đối kế toán được sắp xếp theo tính thanh khoản giảm dần. Bảng cân đối kế toán
không cập nhật giá thị trường của các tài sản dài hạn ít có tính thanh khoản như
văn phòng, nhà kho, thiết bị… Bảng cân đối kế toán không bao gồm hết tất cả
tài sản của công ty. Một vài tài sản có giá trị nhất lại là tài sản vô hình như bản
quyền, danh tiếng, kỹ năng quản lý và lực lượng lao động lành nghề thường
không được phản ánh trong bảng cân đối kế toán. Các kế toán viên thường cân
nhắc khi ghi các tài sản này vào bảng cân đối kế toán trừ khi chúng được xác
- 10 -
định và định giá. Phần bên phải của bảng cân đối kế toán cho thấy nguồn tiền
nào dùng để mua tài sản. Trước tiên đó là những khoản nợ gồm nợ phải trả trong
năm gọi là nợ ngắn hạn. Chênh lệch giữa tài sản lưu động và nợ ngắn hạn gọi là
vốn luân chuyển ròng. Tiếp theo là các khoản nợ dài hạn của công ty do phát
hành trái phiếu hay vay trực tiếp ở ngân hàng. Phần còn lại là vốn cổ phần. Vốn
cổ phần của công ty đơn giản chỉ là tổng giá trị của vốn luân chuyển ròng và tài
sản cố định trừ cho nợ dài hạn. Một phần của vốn cổ phần có được là do bán cổ
phần cho các nhà đầu tư, phần còn lại là từ lợi nhuận giữ lại nhân danh các cổ
đông để tái đầu tư vào công ty.
1.3.1.2. Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
Phản ánh thành quả tài chính của công ty trong khoảng thời gian của bảng
cân đối kế toán. Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh cung cấp những chi tiết
về doanh số, chi phí lợi nhuận hay các khoản thua lỗ của công ty trong một thời
kỳ. Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh được xác định dựa trên cơ sở kế toán
vay;
thuế
và
thu
nhập
bao
gồm
thu
nhập
dành
cho
c
ổ
đông
nắm
c
ổ
động
thường
có
h
ai
khoản
chi
phí
quan
trọng
đó
là
khấu
hao
tài
sản
hữu
hình
hoạ
t
động
chư
a
kể
khấu
hao
tài
sản
hữu
hình
và
tài
sản
vô
hình
chúng
ta
đượ
c l
c
ủ
a
ngân
hàng
thường
quan
tâm
đến
chỉ
tiêu
này
vì
nó
cho phép
xác
định
khả
năng
li
ên
quan
đến
giá
trị
c
ổ phần
như
giá
c
ổ
ph
i
ếu,
l
ợ
i
nhuận
trên
c
ổ
(BVPS)
và
dòng
ti
ền
trên
c
ổ
phần
(CFPS).
Công
thứ
c
tính
các
chỉ
tiêu
này
l
ần
l
ượ
t
đượ
a
ng
l
ưu
hành.
- 11 -
1.3.1.3. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Phản ánh dòng tiền lưu chuyển vào và ra vì thu nhập thường không ngang
bằng với dòng tiền thuần ngoại trừ trong trường hợp toàn bộ vòng đời của công ty.
Vì kế toán phát sinh tạo ra các con số khác biệt so với kế toán dòng lưu chuyển
tiền tệ mà dòng tiền rất quan trọng trong kinh doanh.
Báo
cáo
l
ưu
chuyển
ti
ền
t
ệ
là
báo
cáo
trình
và
tình
hình
số
sư
ti
ền
cuố
i
kỳ
c
ủ
a
công
t
y.
Lưu
ý
khái
niệm
o
cáo
l
ưu
chuyển
ti
ền
t
ệ
g
i
úp
phản
ánh
bổ
sung
tì
nh
hình
tài
chính
công
t
được.
Chẳng hạn,
ngay
c
ả
khi
công
t
y
b
á
o
cáo
trên
báo
cáo
thu
nhập
thể
ti
ền
không
t
ăng
lê
n
hoặ
c
thậm
c
h
í
g
i
ảm
đ
i.
Đ
i
ều này
dễ
đư
Tạ
i
sao
vậy?
Lý
do
là
công
ty
có
thể
sử
dụng
l
ợ
i
nhuận
ròng
vào
nh
công
ty
có
thể
đ
ã
sử
dụng
l
ợ
i
nhuận
ròng
để
tài
trợ
cho
khoản phả
i
thu,
t
đầu
t
ư
vào
chứng. Báo
cáo
l
ưu
chuyển
ti
ền
t
ệ
thường
bao
gồm
báo
cáo
các
dòng
ti
doanh,
hoạ
t
động
đầu
t
ư
và
hoạ
t
động
tài
chính,
và
báo cáo
tóm
t
ắ
t tì
nh
hình
ti
ền
chính
c
ủ
a
công
t
y
nó
i
chung
bao
gồm
bảng
cân
đố
i
kế
toán,
báo
cáo
kế
ạ
i.
Mụ
c
đích
chính
c
ủ
a
báo
cáo
tài
chính
là
nhằm
ghi
nhận
và
phản
ánh
các
giao
chính
t
hường
đượ
c
soạn
thảo
theo
nộ
i
dung
và
kế
t c
ấu
chuẩn
nên
đôi khi
khó
cung
số
li
ệu để
phụ
c
vụ
cho
mụ
c tiêu
nghiên
c
ứu
riêng.
Hơn
nữa,
bản
thân
báo
cáo
tài
về
tài
chính
công
t
y.
Muốn
có
thông
tin t
hêm về
tình
hình
tài
chính
công
ty,
báo
cáo
tài
Giá trị của tỉ số này có thể chấp nhận được hay không phụ thuộc vào các
nhân tố :
Ngành nghề doanh nghiệp đang hoạt động, ví dụ đối với công ty hoạt động
trong ngành phục vụ công cộng, tỉ số thanh toán hiện hành bằng 1 có thể là phù
hợp nhưng đối với doanh nghiệp sản xuất, giá trị này báo hiệu những khó khăn
trong thanh toán nợ của các doanh nghiệp.
Khả năng dự đóan dòng tiền: nếu doanh nghiệp càng có khả năng dự đoán
chính xác, tỉ số này càng dễ được chấp nhận ở mức thấp.
Tỉ số thanh toán nhanh (Quick ratio)
Thông thường, trong tài sản ngắn hạn thì hàng tồn kho là là lọai tài sản
chuyển đổi thành tiền chậm nhất. Vì vậy, công việc đo lường khả năng thanh
toán nợ ngắn hạn của doanh nghiệp mà không cần bán hàng tồn kho là điều cần
thiết.
Khả năng này được thể hiện qua tỉ số thanh tóan nhanh.
Tài sản ngắn hạn - Hàng tồn kho
- 13 -
Tỉ số thanh toán nhanh =
Nợ ngắn hạn
Giống như tỉ số thanh toán hiện hành, giá trị phù hợp cho tỉ số này phụ thuộc
rất nhiều vào ngành doanh nghiệp đang hoạt động.
Tỉ số này thường được sử dụng khi hàng tồn kho của doanh nghiệp có tính
thanh khoản thấp. Nếu hàng tồn kho dễ chuyển hóa thanh tiền mặt, tỉ số thanh
toán hiện hành sẽ được ưa thích hơn trong việc đo lường khả năng thanh khỏan
của doanh nghiệp vì tính chính xác và hợp lý cao hơn.
Khi các tỉ số trong nhóm tỉ số phản ánh tính thanh khoản có giá trị càng cao,
công ty càng có khả năng trong việc thanh toán nợ ngắn hạn. Tuy nhiên, nó cũng
phản ánh việc sử dụng ngân quĩ kém hiệu quả vì những lý do:
Tài sản ngắn hạn ngắn hạn thường sinh lợi thấp hơn tài sản cố định nếu
được sử dụng hợp lý. Nợ dài hạn thường có chi phí sử dụng cao hơn nợ ngắn
rượu nho vì ngành này cần thời gian dài để rượu có thể lên men.
Cũng rất có ích khi tính tỉ số này cho mỗi thành phần chủ yếu trong hàng
tồn kho nó giúp doanh nghiệp điều chỉnh kịp thời sự mất cân bằng (quá thừa
hay thiếu ) của các thành phần đó.
Từ tỉ số vòng quay của hàng tồn kho, chúng ta dễ dàng tính được thời gian
tồn kho bình quân (average age of inventory) bằng cách lấy số ngày trong năm
(360 ngày) chia cho vòng quay hàng tồn kho.
Kỳ thu tiền bình quân (Average collection period)
Kỳ thu tiền bình quân là một tỉ số rất hữu ích trong việc đánh giá chính sách
tín dụng thương mại cũng như chính sách thu nợ của một doanh nghiệp và được
tính như sau:
Khoản phải thu x 360
Kỳ thu tiền bình quân =
Doanh thu thuần
Trong đó: Các khoản phải thu và doanh thu thuần được lấy từ bảng cân đối
kế toán và báo cáo kết quả kinh doanh.
- 15 -
Tỉ số này được dùng để so sánh giữa các doanh nghiệp trong ngành hoặc các
điều khoản trong chính sách tín dụng của doanh nghiệp đó. Ví dụ, chính sách tín
dụng của một công ty cho khách hàng nợ 30 ngày kể từ ngày mua hàng. Nhưng
trên thực tế, kỳ thu nợ bình quân là 50 ngày. Nó cho thấy một số lớn khách hàng
không thanh toán đúng hạn, gây ra những thiệt hại trong thu nhập của công ty
( công ty có thể đầu tư nơi khác để kiếm lãi ). Ngòai ra, 1 sự chậm trể trong
thanh toán có thể là dấu hiệu khách hàng đang gặp khó khăn về tài chính. Vì vậy,
nếu kỳ thu tiền bình quân có khuynh hướng gia tăng trong khi chính sách của
doanh nghiệp không thay đổi, doanh nghiệp cần thực hiện ngay những hành
động nhằm thu hồi công nợ.
Kỳ thanh tóan bình quân ( Averrage Payable Period)
Đứng ở giác độ nhà đầu tư, bao giờ chúng ta cũng muốn biết thông số “ kỳ
doanh, còn giá trị thuần của tài sản cố định = tổng tài sản cố định – khấu hao lũy
kế của TSCĐ, các giá trị này chúng ta lấy từ bảng cân đối kế toán.
Một vấn đề cần quan tâm khi phân tích vòng quay tài sản cố định là tài sản
cố định được ghi chép theo giá quá khứ và lạm phát làm cho giá trị nhiều tài sản
cố định được phán ánh trong sổ sách kế toán dưới giá trị thực. Vì vậy, nếu chúng
ta so sánh tỉ số này giữa hai doanh nghiệp, 1 doanh nghiệp có lượng tài sản được
mua sắm cách đây nhiều năm và một doanh nghiệp có có lượng tài sản cố đinh
vừa mới được mua sắm nó sẽ có khuynh hướng cao hơn nhiều ở doanh nghiệp
“có lượng tài sản cố định cũ” so với doanh nghiệp còn lại.
Vì vậy đây là điểm chúng ta cần phải cẩn trọng khi thực hiện phân tích chéo.
Ngoài ra tỉ số này quá thấp hoặc quá cao so với số liệu bình quân ngành cũng đòi
hỏi 1 sự tìm hiểu kỹ, bởi vì nhiều khi doanh nghiệp dầu tư thừa về tài sản cố
định, chi phí sử dụng vốn sẽ rất lớn làm doanh nghiệp giảm sức cạnh tranh.
Ngược lại, nếu đầu tư vốn không đủ sự thiệt hại trong tương lai (mất khách hàng
tiềm năng, chi phí phát sinh do đình trệ sản xuất) sẽ không tránh khỏi.
Vòng quay tổng tài sản ( Total Asset Turnover)
Vòng quay của tổng tài sản được dùng để đánh giá hiệu quả sử dụng tổng tài
sản thuần của doanh nghiệp. Nó đựoc tính như sau:
- 17 -
Doanh thu thuần
Vòng quay tổng TS =
Tổng TS thuần
Trong đó: Tổng tài sản thuần bằng tổng tài sản trừ đi khấu hao lũy kế của tài
sản cố định, giá trị này được lấy từ bảng cân đối kế toán, còn doanh thu thuần
được lấy từ báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh.
Vòng quay này cũng nên được so sánh giữa các doanh nghiệp trong cùng
một ngành bởi vì nó biến động rất nhiều giữa các ngành. Ví dụ, vòng quay tổng
tài sản của những ngành công nghiệp nặng đòi hỏi vốn lớn như luyện kim, sản
xuất ô tô có thể chỉ bằng 1, nhưng lại có thể tới chục lần trong ngành bán lẽ.
Đồng thời nó còn bị tác động bởi phương thức thuê tài sản. Đối với những doanh
Đòn bẩy tài chính đem đến cho các doanh nghiệp sử dụng nợ với tỉ trọng cao
trong tổng nguồn vốn cơ hội để khuyếch đại ROE khi điều kiện thuận lợi xảy ra
nhưng nó cũng mang lại cho doanh nghiệp này nhiều rủi ro trong điều kiện xấu.
Vì vậy, việc chọn lựa chọn một tỉ lệ nợ cho phù hợp với doanh nghiệp trong
từng điều kiện cụ thể là điều rất quan trọng.
Tỉ số nợ trên tài sản( Debt to asset ratio)
Tỉ số này được dùng để đo lường tỉ lệ của tài sản được tài trợ bằng nợ vay.
Tỉ số này được tính như sau:
Tổng nợ
Tỉ số nợ =
Tổng tài sản
Trong đó: Tổng nợ bao gồm = Nợ ngắn hạn + Nợ dài hạn , tổng tài sản =
Tài sản ngắn hạn + Tài sản dài hạn, các giá trị này được lấy từ bảng cân đối kế
toán.
Nếu chúng ta so sánh tỉ số nợ giữa những doanh nghiệp cùng một ngành, ta
sẽ thu được nhiều thông tin hữu ích. Ví dụ, đòn bẫy tài chính có phù hợp với rủi
ro kinh doanh của ngành hay không, mức độ nợ của doanh nghiêp có thể vay
thêm hay giảm bớt ...
Tài sản dài hạn trên vốn cổ phần(Long termdebt to Equity)
- 19 -
Tỉ số này cho ta thấy mối quan hệ giữa nợ dài hạn và vốn cổ phần. Tỉ số và
thường được dùng để đo lường mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính của một doanh
nghiệp.
Nợ dài hạn
Tỉ số nợ dài hạn trên VCSH =
Vốn CSH
Trong đó: Các già trị này ta đều lấy ra từ bảng cân đối kế toán.
Thông thường, các doanh nghiệp sở hữu nhiều tài sản cố định, hoặc tạo ra
được những dòng tiền ổn định thường sử dụng đòn bẩy tài chính với mức độ
cao, trong khi các doanh nghiệp ít đầu tư vào tài sản cố định, hoặc tạo ra những
như lãi vay, chi phí thuê tài sản, cổ tức của cổ phần ưu đãi
Khả năng thanh EBIT + chi phí thuê tài sản
toán các khoản định phí =
Lãi vay +CP thuê tài sản +[cổ tức cổ phần ưu đãi / (1-t)]
Trong đó: t : là thuế suất thuế thu nhập của doanh nghiệp.
Phép toán : [(cổ tức cổ phần ưu đãi )/(1-t)] được thực hiện nhằm mục đích
điều chỉnh số cổ tức này về trước thuế để phù hợp với các khỏan mục còn lại
trong công thức.
Tỉ số này đo lường rủi ro cho cả những người chủ nợ lẫn cổ đông, vì nếu
doanh nghiệp không đủ khả năng chi trả cho các khoản định phí, nó có thể lâm
vào tình trạng phá sản. Tỉ số này càng cao, rủi ro càng thấp và ngược lại.
1.3.2.4. Tỉ số phản ánh khả năng sinh lợi (Profitability Ratios)
Nhóm tỉ số phản ánh khả năng sinh lợi bao gồm những tỉ số đo lường thu
nhập của doanh nghiệp trong mối tương quan với doanh thu, tài sản , vốn cổ
phần.
Đối với những tỉ số đo lường khả năng sinh lợi tương quan với doanh thu,
một công cụ phổ biến và hữu hiệu thường được sử dụng là bảng báo cáo thu
nhập được chuẩn hóa theo số phần trăm (common – size income statement).
Trên báo cáo này, mỗi chi tiết được tính bằng 1 con số phần trăm (%) trên
doanh thu. Vì vậy các nhà quản trị dễ dàng và nhanh chóng hơn khi nghiên cứu
khuynh hướng biến động của chi phí, thu nhập và so sánh kết quả hoạt động của
doanh nghiệp qua những năm khác nhau.
Tỉ số lãi gộp trên doanh thu (Gross profit margin)
- 21 -
Tỉ số này dùng để đo lường % lãi gộp trên 1$ doanh thu ( Lãi gộp = doanh
thu thuần – giá vốn hàng bán) nó được tính như sau:
Lãi gộp
Lãi gộp trên doanh thu =
Doanh thu thuần
Khi so sánh tỉ số này giữa các doanh nghiệp cùng ngành tại cùng một thời
Tỉ số lãi trên tổng tài sản được dùng để đo lường một cách tổng quát hiệu
quả sử dụng tài sản trong qúa trình tạo ra thu nhập của doanh nghiệp
Lãi thuần sau thuế
Lãi trên tổng tài sản =
tổng tài sản
Tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản là một thước đo thích hợp cho tính hiệu quả của
hoạt động kinh doanh. Tỷ số này phản ánh lợi nhuận của công ty được sinh ra từ
tổng tài sản(hoặc tài trợ). Thước đo này không phân biệt lợi nhuận được tạo ra từ
nguồn tài trợ nào. Do vậy phân tích chỉ tập trung vào đánh giá hoặc dự báo thành
quả hoạt động. Ngoài ra để tính tỷ suất sinh lợi đôi khi phải thực hiện một số
điều chỉnh:
o Điều chỉnh tài sản không hoạt động
o Điều chỉnh tài sản vô hình
o Điều chỉnh khấu hao tích lũy.
Chúng ta cần so sánh tỉ số của doanh nghiệp với tỉ số bình quân của ngành để có
nhận xét hợp lý. Nếu nó quá thấp, cần phân tích kỹ những nhân tố tác động để
tìm ra giải pháp khắc phục.
Lãi trên vốn cổ phần ( Return equity – ROE)
Tỉ số lãi trên vốn cổ phần được dùng để đo lường lãi suất thu được khi các cổ
đông (bao gồm cả cổ đông giữ cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi) đầu tư vào
doanh nghiệp. Đây là một trong những quan tâm lớn nhất đối với các cổ đông
của công ty.
Lãi sau thuế
Lãi trên vốn cổ phần =
(ROE) Vốn cổ phần
Trong trường hợp nếu bạn chỉ muốn tính lãi trên vốn cổ phần đối với cổ đông
thường công thức tính như sau:
(lãi sau thuế - cổ tức cổ phiếu ưu đãi )
Lãi trên cổ phần thường =
không bao gồm số cổ phiếu do chính doanh nghiệp nắm giữ (cổ phiếu quỹ) hoặc
được phép phát hành nhưng chưa phát hành.
Trong thực tế có nhiều trường hợp có thể gây biến động tới số lượng cổ
phiếu đang lưu hành và do vậy P/E sẽ thay đổi, và do đó chúng ta phải điều
chỉnh lại số cổ phiếu thường đang lưu hành.
- 24 -
- Trường hợp công ty thực hiện mua lại cổ phiếu trên thị trường làm
cổ phiếu quỹ/ bán cổ phiếu quỹ: ngày ghi nhận số cổ phiếu lưu hành giảm/
tăng thêm là ngày kết thúc đợt mua/ bán đó.
Số lượng cổ phiếu lưu hành bình quân trong năm được tính như sau:
Số lượng cổ phiếu bình quân lưu hành trong kỳ =[(Số cổ phiếu đầu
kỳ)x(Số ngày từ đầu kỳ đến khi kết thúc đợt mua/ bán CPQ) +( Số cổ phiếu lưu
hành sau khi thực hiện mua/ bán CPQ)x(Số ngày từ khi kết thúc đợt mua/ bán
CPQ cho đến cuối kỳ)]/ Tổng số ngày trong kỳ.
- Trường hợp công ty thực hiện phát hành riêng lẻ cho đối tác chiến
lược/ cán bộ công nhân viên: ngày ghi nhận số cổ phiếu lưu hành tăng thêm là
ngày lượng cổ phiếu này chính thức được giao dịch trên TTGDCK.
Số lượng cổ phiếu lưu hành bình quân trong năm được tính như sau:
Số lượng cổ phiếu bình quânlưu hành trong kỳ =[(Số cổ phiếu đầu kỳ) x
(Số ngày từ đầu kỳ đến khi cổ phiếu phát hành riêng lẻ được chính thức giao
dịch) + (Số cổ phiếu lưu hành sau khi thực hiện phát hành riêng lẻ) x (Số ngày từ
khi cổ phiếu phát hành riêng lẻ được giao dịch cho đến cuối kỳ)]/ Tổng số ngày
trong kỳ
Trường hợp trả cổ tức bằng cổ phiếu/ cổ phiếu thưởng: số cổ phiếu lưu
hành trong kỳ được điều chỉnh qua 2 giai đoạn:
+ Điều chỉnh hồi tố: tất cả các sự kiện xảy ra trước ngày giao dịch không
hưởng quyền nhận cổ tức bằng cổ phiếu/ cổ phiếu thưởng (XR) phải được điều
chỉnh theo hệ số tương ứng với tỷ lệ trả cổ tức hoặc thưởng cổ phiếu.
Hệ số điều chỉnh = (Tổng số lượng cổ phiếu sau khi trả cổ tức/ thưởng cổ
phiếu)/( Tổng số lượng cổ phiếu trước khi trả cổ tức/ thưởng cổ phiếu)