Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
BÁO CÁO THỰC TẬP
GIẢI PHÁP MỞ RỘNG CHO VAY
KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI CHI
NHÁNH NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG
KHU VỰC BA ĐÌNH
Giáo viên hướng dẫn :
Họ tên sinh viên : Nguyễn Hữu Thế
1
Nguyễn Hữu Thế Ngân Hàng 44A
1
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Mục Lục
2
Nguyễn Hữu Thế Ngân Hàng 44A
2
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Từ khi nền kinh tế nước ta đổi mới cho đến nay đã trải qua gần 20 năm,
bước đầu đã đạt được những thành quả nhất định. Nền kinh tế chuyển từ tập
trung bao cấp sang kinh tế nhiều thành phần đa hình thức sở hữu, các loại hình
kinh tế này phát triển đa dạng đan xen nhau khiến ranh giới giữa thành phần
này với thành phần khác không thể cứng nhắc. Điển hình là các doanh nghiệp
nhà nước sau khi sắp xếp lại và cổ phần hoá không thuần tuý thuộc sở hữu
Nhà nước mà thu nạp vào đó nhiều yếu tố sở hữu xã hội khác nhau.
Ngược lại, quá trình đổi mới phát triển kinh tế trên con đường cải cách
mở cửa và hội nhập cho thắy ngày càng rõ vai trò của các lực lượng kinh tế,
các chủ thể kinh tế ngoài quốc doanh như: Kinh tế hộ, KT tư nhân, KT cá thể,
KT tổ nhóm…Các lực lượng này có đóng góp rất lớn vào công cuộc phát triển
dạng cho nền kinh tế.
Tuy nhiên ở một số NHTM, đặc biệt là ở Chi nhánh Ngân hàng Công
thương khu vực Ba Đình qua chúng tôi xem xét việc cho vay đối với nhóm
khách hàng cá nhân còn gặp nhiều khó khăn. Để giải quyết khó khăn này cũng
như phát triển mảng cho vay đối với nhóm khách hàng cá nhân chúng ta cần
tiếp tục tìm hiểu để tìm ra các giải pháp. Đây là lý do chính mà tôi lựa chọn đề
tài: “Giải pháp mở rộng cho vay khách hàng cá nhân tại Chi nhánh Ngân
hàng Công thương khu vực Ba Đình”
Ngoài Lời mở đầu và Kết luận, nội dung chính của đề tài gồm 3 chương:
Chương 1 : Khái quát về hoạt động cho vay khách hàng cá nhân của
một Ngân hàng thương mại.
Chương 2 : Thực trạng hoạt động cho vay khách hàng cá nhân tại Chi
nhánh Ngân hàng Công thương khu vực Ba Đình.
Chương 3 : Giải pháp mở rộng hoạt động cho vay khách hàng cá
nhân tại Chi nhánh Ngân hàng Công thương khu vực Ba Đình.
4
Nguyễn Hữu Thế Ngân Hàng 44A
4
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Chương 1: Khái Quát Về Hoạt Động Cho Vay Khách Hàng Cá
Nhân Của Một Ngân Hàng Thương Mại.
1.1 Khái niệm và hoạt động cho vay của NHTM.
1.1.1 Khái niệm
Định nghĩa NHTM
ở Việt Nam, trong bước chuyển đổi sang kinh tế thị trường có sự quản lý
của Nhà nước, thực hiện nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần theo
định hướng XHCN. Mọi người được tự do kinh doanh theo pháp luật, được
bảo hộ quyền sở hữu và thu nhập hợp pháp, các hình thức sở hữu có thể hỗn
hợp, đan kết với nhau hình thành các tổ chức kinh doanh đa dạng. Các doanh
nghiệp, không phân biệt quan hệ sở hữu đều tự chủ kinh doanh, hợp tác và
khoản vay được NHTM cấp cho người vay thì người vay mới là bên chủ động:
có thể trả ngân hàng tiền vay trước hạn, đúng hạn thậm chí có thể xin gia hạn
thêm thời gian trả nợ. Còn các NHTM chỉ được phép quản lý các khoản vay
đó tuân theo hợp đồng đã ký, ngân hàng phải thực hiện theo đúng hợp đồng đã
ký trừ khi có những sai phạm của khách hàng khi thực hiện hợp đồng.
1.1.2 Vai trò của hoạt động cho vay
Đối với Ngân hàng thương mại.
Đối với hầu hết các ngân hàng, khoản mục cho vay chiếm quá nửa giá
trị tổng tài sản và tạo ra từ 1/2 đến 2/3 nguồn thu của ngân hàng. Đồng thời,
rủi ro trong hoạt động ngân hàng có xu hướng tập trung vào các khoản cho
6
Nguyễn Hữu Thế Ngân Hàng 44A
6
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
vay. Tình trạng khó khăn của một ngân hàng thường phát sinh từ các khoản
cho vay khó đòi, bắt nguồn từ một số nguyên nhân sau: Quản lý yếu kém, cho
vay không tuân thủ nguyên tắc tín dụng, chính sách cho vay không hợp lý và
tình trạng suy thoái ngoài dự kiến của nền kinh tế. Chính vì thế mà thanh tra
ngân hàng thường xuyên kiểm tra các danh mục cho vay của các ngân hàng.
Đối với các khách hàng và đối với nền kinh tế
Mọi người đều mong muốn các ngân hàng hỗ trợ cho sự phát triển của
cộng đồng địa phương thông qua việc cung cấp các khoản vay, đáp ứng nhu
cầu tài chính của doanh nghiệp và người tiêu dùng với một mức lãi suất hợp
lý. Rõ ràng cho vay là chức năng hàng đầu của các NHTM để tài trợ cho chi
tiêu của doanh nghiệp, cá nhân và các cơ quan Chính phủ.
Thông qua hoạt động cho vay, NHTM đã giúp cho quá trình sản suất
kinh doanh của các doanh nghiệp được liên tục và ổn định, góp phần vào sự
ổn định của nền kinh tế. Không chỉ có thế hoạt động cho vay còn nâng cao
mức sống các tầng lớp dân cư và cả cộng đồng. Chính vì thế mà hoạt động cho
vay của ngân hàng có mối quan hệ mật thiết với tình hình phát triển kinh tế tại
Các khoản này thường chiếm một tỷ trọng rất lớn trong tổng dư nợ cho vay
của các NHTM, chiếm phần lớn lợi nhuận mà hoạt động cho vay đem lại.
1.1.3.2 Phân loại theo phương thức cho vay
Cho vay thấu chi
Thấu chi là nghiệp vụ cho vay qua đó ngân hàng cho phép người vay
được chi trội (vượt) trên số dư tiền gửi thanh toán của mình đến một giới hạn
8
Nguyễn Hữu Thế Ngân Hàng 44A
8
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
nhất định và trong khoảng thời gian xác định. Giới hạn này được gọi là hạn
mức thấu chi.
Cho vay trực tiếp từng lần
Cho vay từng lần là hình thức cho vay mà mỗi lần vay khách hàng phải
làm đơn và trình ngân hàng phương án sử dụng vốn vay. Đây là hình thức
tương đối phổ biến của ngân hàng đối với các khách hàng không có nhu cầu
vay thường xuyên, không có điều kiện để được cấp hạn mức thấu chi. Một số
khách hàng sử dụng vốn chủ sở hữu và tín dụng thương mại là chủ yếu, chỉ
khi có nhu cầu thời vụ, hay mở rộng sản xuất đặc biệt mới vay ngân hàng, tức
là vốn từ ngân hàng chỉ tham gia vào một số giai đoạn nhất định của chu kỳ
sản xuất kinh doanh.
Cho vay theo hạn mức
Đây là nghiệp vụ tín dụng theo đó ngân hàng thoả thuận cấp cho khách
hàng hạn mức tín dụng. Hạn mức tín dụng có thể tính cho cả kỳ hoặc cuối kỳ.
Đó là số dư tối đa tại thời điểm tính. Đây là hình thức cho vay thuận tiện cho
những khách hàng vay mượn thường xuyên, vốn vay tham gia thường xuyên
vào quá trình sản xuất kinh doanh.
Cho vay luân chuyển
Cho vay luân chuyển là nghiệp vụ cho vay dựa trên luân chuyển của
hàng hoá. Doanh nghiệp khi mua hàng có thể thiếu vốn, ngân hàng có thể cho
hàng phải chuyển quyền kiểm soát tài sản đảm bảo sang cho ngân hàng trong
thời gian cam kết. Danh mục và điều kiện của tài sản cầm cố được ngân hàng
quy định cụ thể dựa trên quy định của pháp luật và chính sách tín dụng của
10
Nguyễn Hữu Thế Ngân Hàng 44A
10
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
từng ngân hàng. Các tài sản cầm cố là các tài sản mà ngân hàng có thể kiểm
soát và bảo quản tương đối chắc chắn, đồng thời việc nắm giữ không ảnh
hưởng đến quy trình hoạt động của khách hàng, chẳng hạn như: các loại giấy
tờ có giá, kim loại quý, ngoại tệ mạnh…
- Cho vay thế chấp.
Trong hình thức cho vay này, người vay phải chuyển các giấy tờ chứng
nhận quyền sở hữu (hoặc sử dụng) các tài sản đảm bảo sang cho ngân hàng
nắm giữ trong thời hạn đã cam kết.
Đối với thế chấp bằng tài sản thì những tài sản mang thế chấp thường là
bất động sản như nhà cửa, quyền sử dụng đất… hoặc là những động sản mà
việc nắm giữ nó không thuận tiện như ô tô, xe máy… Việc thế chấp bằng tài
sản cho phép người nhận tài trợ tiếp tục được sử dụng tài sản trong thời gian
vay, tuy nhiên quá trình sử dụng có thể làm biến dạng tài sản, hơn nữa khả
năng kiểm soát tài sản đảm bảo của ngân hàng bị hạn chế. Việc định giá tài
sản đảm bảo cũng là một khó khăn đòi hỏi phải có sự thẩm định kỹ lưỡng,
tránh định giá quá cao gây thiệt hại cho ngân hàng hoặc định giá quá thấp gây
ảnh hưởng đến khả năng vay của khách hàng. Tuy nhiên đối với cho vay cá
nhân thì tài sản đảm bảo cũng không quá lớn như nhà xưởng, dây chuyền sản
xuất… như đối với cho vay kinh doanh.
Bảo đảm bằng tài sản hình thành từ vốn vay.
Khi khách hàng có nhu cầu vay vốn nhưng không có tài sản đảm bảo,
hoặc tài sản đó không đáp ứng được các yêu cầu của ngân hàng thì ngân hàng
có thể yêu cầu khách hàng sử dụng chính tài sản được hình thành từ nguồn tài
12
Nguyễn Hữu Thế Ngân Hàng 44A
12
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
thức tiếp cận cung như quản lý hợp lý mới có thể khai thác tốt mảng khách
hàng này.
Tuy nhiên tuỳ vào mỗi mục đích quản lý khác nhau mà mỗi ngân hàng
có thể phân loại các khoản cho vay theo các tiêu thức khác nhau phù hợp với
mục đích đó. Trên thực tế việc kết hợp nhiều tiêu thức với nhau thường được
các ngân hàng sử dụng.
1.2 Hoạt động cho vay khách hàng cá nhân
1.2.1 Vị thế của khách hàng cá nhân đối với hoạt động kinh
doanh của NHTM
Hoạt động trước kia của các NHTM chủ yếu chỉ tập trung vào đối
tượng khách hàng là các doanh nghiệp lớn, các tổ chức kinh tế có những
khoản vay lớn. Mà ít chú trọng đến đối tượng khách hàng là các cá nhân, dẫn
đến những lãng phí trong khai thác tiềm năng cũng như lợi ích từ nhóm đối
tượng khách hàng này.
Tuy nhiên mấy năm trở lại đây, các NHTM cũng đã có những điều
chỉnh trong hoạt động của mình, chú trọng nhiều hơn đến đôí tượng khách
hàng là các cá nhân. Đặc biệt là sau các vụ mà NHTM bị lỗ do cho vay các
Tổng công ty lớn của Nhà nước trong khoảng các năm 2000. Các NHTM như
bừng tỉnh và đã san sẻ bớt lực lượng phục vụ để phục vụ tốt hơn cho nhóm
đối tựng là các khách hàng cá nhân.
Đối tượng khách hàng cá nhân không chỉ là nhóm đối tượng có nhu cầu
vay vốn. Mà nhóm đối tượng này còn là một lực lượng cung cấp cho các
NHTM một lượng vốn lớn. Nguồn vốn này chủ yếu là các khoản tiết kiệm của
13
Nguyễn Hữu Thế Ngân Hàng 44A
13
thêm 275 ngàn doanh nghiệp nữa để vươn tới con số nửa triệu doanh nghiệp.
Nếu đạt được số lượng doanh nghiệp này thì tốc độ phát triển kinh tế ở mức
8% sẽ được đảm bảo.
Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư mới sẽ có hiệu lực từ 1/7 tới và sẽ có
tác động mạnh mẽ đến môi trường đầu tư kinh doanh của Việt Nam. Vì thế,
ông Phúc đã hứa với các doanh nghiệp là sẽ tiến hành xây dựng các văn bản
hướng dẫn đảm bảo tinh thần cởi mở của Luật, theo hướng cải cách hành
chính hỗ trợ doanh nghiệp.
Trong thời gian tới, để thuận lợi trong thu hút đầu tư, Bộ KH-ĐT sẽ
thực hiện phân cấp mạnh mẽ hơn nữa, các dự án lên đến 40 - 50 triệu USD sẽ
được quyền quyết cho các địa phương; những ngành nghề trước đây cho là
nhạy cảm như: chữa bệnh, đào tạo nghề cũng sẽ được phần cấp cho các tỉnh.
1.2.3 Nguồn gốc hình thành hoạt động cho vay khách hàng cá
nhân, khẳng định về tiêu dùng của xã hội
Hoạt động vay mượn trong nền kinh tế có nguồn gốc từ những quan hệ
kinh tế mà tại đó việc thanh toán chi trả không thực hiện được hoặc khó có thể
thực hiện được ngay. Vì vậy thông qua sự tin tưởng cũng như hiểu biết lẫn
nhau mà hoạt động tín dụng từ đó ra đời.
Đặc biệt là trong điều kiện kinh tế ngày càng phát triển, đời sống con
người ngày càng được nâng cao thì sự tiêu dùng của mỗi cá nhân nói riêng và
tiêu dùng của toàn xã hội nói chung sẽ ngày càng được mở rộng cả về quy mô
lẫn chất lượng. Các cá nhân có xu hướng tiêu dùng nhằm nâng cao mức sống
của mình thoả mãn các nhu cầu cũng như các mục tiêu, kế hoạch của họ.
15
Nguyễn Hữu Thế Ngân Hàng 44A
15
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Tuy nhiên không phải lúc nào các cá nhân cũng có đủ khả năng tài
chính để chi trả cho các nhu cầu đó ngay tại thời điểm phát sinh nhu cầu, mặc
dù đây là các nhu cầu hợp lý và rất hiệu quả đối với cá nhân đó. Từ đây nhu
được rủi ro thông qua việc cho vay được nhiều món vay đối với nhiều khách
hàng. Các đối tượng thường được các NHTM xếp vào đối tượng khách hàng
cá nhân không căn cứ vào giá trị của khoản vay là lớn hay nhỏ mà căn cứ vào
tư cách của đối tượng xin vay trước pháp luật. Do với tư cách là cá nhân chứ
không phải là một tổ chức nên đối tượng khách hàng cá nhân không có tư cách
pháp nhân, vì vậy quan hệ với khách hàng là quan hệ trực tiếp giữa ngân hàng
cho vay với người đến xin vay. Còn cho vay đối với các tổ chức thì người đến
xin vay ngân hàng là người đại diện hợp pháp cho tổ chức, cá nhân này có tư
cách của tổ chức chứ không mang tư cách của một cá nhân.
1.2.5 Đặc trưng của hoạt động cho vay khách hàng cá nhân.
Đặc trưng về khoản vay: Các khoản cho vay đối với khách hàng cá nhân
thường là các khoản có giá trị nhỏ, nhưng số lượng các khoản vay là rất lớn
Đặc trưng về chất lượng khoản vay: Chất lượng của các khoản vay
thường là khá tốt. Tuy nhiên các khoản cho vay đối với các khách hàng cá
nhân chỉ có chất lượng tốt khi không có những biến cố từ phía khách hàng.
Bên cạnh đó các khoản vay thường có tính rủi ro cao nên nó dược các ngân
hàng cho vay áp dụng mức lãi suất cao nhất trong bảng lãi suất cho vay áp
dụng đối với các khoản vay trong các NHTM.
17
Nguyễn Hữu Thế Ngân Hàng 44A
17
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Đặc trưng về thời hạn khoản vay: Thời hạn của cá khoản vay chủ yếu
là ngắn hạn, một phần là trung hạn và một phần rất nhỏ là dài hạn. Điều đó có
thể được giải thích phần nào là do đây là hình thức cho vay với mức lãi suất
cao nhất trong các NHTM.
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới mở rộng hoạt động cho vay
khách hàng cá nhân.
1.3.1 Các nhân tố chủ quan thuộc phía ngân hàng
Đây là những nhân tố thuộc về bản thân, nội tại ngân hàng liên quan
vay vốn của khách hàng đối với ngân hàng. Ngân hàng nào có lãi suất cho vay
thấp hơn sẽ thu hút được nhiều khách hàng đến với mình. Tuy nhiên các ngân
hàng không thể hạ lãi suất thấp hơn hẳn so với các ngân hàng khác để thu hút
khách mà lãi suất cạnh tranh này phải được xác định trên cơ sở quy định
chung về lãi suất của hệ thống ngân hàng, lãi suất phải phù hợp với lợi nhuận
của ngân hàng, đảm bảo trang trải được chi phí của về quản lý, về trả lãi huy
động, bù đắp được rủi ro có thể xảy ra
Về phương thức cho vay: Phương thức cho vay đa dạng phong phú, đáp
ứng nhu cầu của khách hàng tại từng thời điểm khác nhau là nhân tố quan
trọng để mở rộng quy mô hoạt động tín dụng nói chung và tín dụng ngắn hạn
nói riêng.
Về tài sản đảm bảo tiền vay: Khách hàng muốn vay vốn tại ngân hàng
phải đáp ứng các điều kiện, nguyên tắc vay vốn. Trong các điều kiện đó, điều
kiện về tài sản bảo đảm tiền vay đóng vai trò quan trọng trong quyết định cho
vay của ngân hàng.
19
Nguyễn Hữu Thế Ngân Hàng 44A
19
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Thứ hai: là công tác tổ chức của ngân hàng
Ngân hàng có một cơ cấu tổ chức khoa học sẽ đảm bảo được sự phối
hợp chặt chẽ nhịp nhàng giữa các cán bộ, nhân viên, các phòng ban trong ngân
hàng, giữa các ngân hàng với nhau trong toàn bộ hệ thống cũng như với các
cơ quan khác liên quan đảm bảo cho ngân hang hoạt động nhịp nhàng, thống
nhất có hiệu quả, qua đó sẽ tạo điều kiện đáp ứng kịp thời yêu cầu khách hàng,
th eo dõi quản lý chặt chẽ sát sao khoản vốn huy động cũng như các khoản
cho vay, từ đó nâng cao hiệu quả tín dụng.
Thứ ba: Chất lượng đội ngũ cán bộ ngân hàng.
Con người là yếu tố quyết định đến sự thành bại trong quản lý vốn tín
dụng nói riêng và hoạt động quản lý ngân hàng nói chung. Kinh tế càng phát
động kinh tế diễn ra trong nó, và hoạt động cho vay khách hàng cá nhân cũng
không nằm ngoài quy luật đó.Thậm chí hoạt động này của ngân hàng chịu ảnh
hưởng rất lớn bởi tình trạng này. Khi nền kinh tế trong trạng thái hưng thịnh
thì hoạt động của các NHTM cũng trong xu hướng diễn ra mạnh mẽ, khi đó
nhu cầu vay tiền của khách hàng cá nhân cũng gia tăng, cùng với đó là sự gia
tăng trong cạnh tranh giữa các NHTM càng trở nên gay gắt hơn.
Về phía khách hàng
Để đảm bảo khoản tín dụng sử dụng có hiệu quả, mang lại lợi ịch cho
ngân hàng góp phần vào sự tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội thì khách
hàng có vai trò hết sức quan trọng. Một khách hàng có tư cách đạo đức tốt, có
tình hình tài chính vững vàng, có thu nhập sẽ sẵn sàng hoàn trả đầy đủ những
khoản vốn vay của ngân hàng khi đến hạn, qua đó đảm bảo an toàn và nâng
21
Nguyễn Hữu Thế Ngân Hàng 44A
21
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
cao chất lượng tín dụng. Nhân tố này bao gồm rất nhiều các yếu tố, nhưng chủ
yếu là: khả năng tài chính của khách hàng, năng lực và uy tín của khách hàng.
Về phía môi trường pháp lý
Hoạt động tín dụng ngân hàng được qui định chặt chẽ bởi các văn bản
qui phạm pháp luật do NHNN ban hành. Các đối tượng khách hàng nằm trong
chiến lược mở rộng cho vay của ngân hàng cần được thừa nhận về mặt pháp
lý. Đây là điều kiện để người vay vốn yên tâm, mạnh dạn đầu tư, sản xuất còn
ngân hàng thì thuận lợi hơn khi ra các quyết định cho vay.
Mặt khác như đã phân tích, mở rộng cho vay nhưng vẫn phải duy trì
chất lượng và hiệu quả cho ngân hàng. Nếu hệ thống pháp luật không đồng bộ,
việc thực thi pháp luật không nghiêm sẽ tạo ra kẽ hở trong quản lý tín dụng,
gây nên những rủi ro trong hoạt động cho vay của ngân hàng như khách hàng
có hành vi lừa đảo để vay vốn, cán bộ ngân hàng có hành vi sai trái ảnh
hưởng đến chất lượng cho vay.
(TW – Thành phố – Quận). Với mô hình quản lý này, trong những năm đầu
thành lập (tháng 7/88 – tháng 3/93) hoạt động kinh doanh của NHCT Ba Đình
kém hiệu quả, không phát huy được thế mạnh và ưu thế của 1 Chi nhánh
NHTM trên địa bàn Thủ đô, do hoạt động kinh doanh hoàn toàn phụ thuộc vào
NHCT Thành phố Hà Nội cùng với những khó khăn thử thách trong những
năm đầu chuyển đổi mô hình kinh tế theo đường lối đổi mới của Đảng.
Trước những khó khăn vướng mắc từ mô hình tổ chức quản lý, cũng
như từ cơ chế, bắt đầu từ 01/04/1993, Ngân hàng Công thương Việt Nam thực
hiện thí điểm mô hình tổ chức NHCT hai cấp (Cấp TW- Quận), xoá bỏ cấp
trung gian là NHCT Thành phố Hà Nội, cùng với việc đổi mới và tăng cường
công tác cán bộ. Do vậy, ngay sau khi nâng cấp quản lý cùng với việc đổi mới
cơ chế hoạt động , tăng cường đội ngũ cán bộ trẻ có năng lực thì hoạt động
kinh doanh của Ngân hàng Công thương Ba Đình đã có sức bật mới, hoạt
động kinh doanh theo mô hình 1 NHTM đa năng, có đầy đủ năng lực, uy tín
để tham gia cạnh tranh một cách tích cực trên thị trường. Nhanh chóng tiếp
cận với thị trường và không ngừng tự đổi mới, hoàn thiện mình để thích nghi
với các môi trường kinh doanh trong cơ chế kinh tế thị trường.
Kể từ khi chuyển đổi mô hình quản ký mới cho đến nay, hoạt động kinh
doanh của Chi nhánh NHCT khu vực Ba Đình không ngừng phát triển theo
định hướng “ổn định – An toàn – Hiệu quả và phát triển” cả về quy mô, tốc độ
tăng trưởng, địa bàn hoạt động, cũng như về cơ cấu- màng lưới, tổ chức bộ
máy. Cho đến nay, bộ máy hoạt động của Chi nhánh NHCT Khu vực Ba Đình
có trên 300 cán bộ – nhân viên (trong đó trên 85%có trình độ Đại học và trên
Đại học, 10% có trình độ Trung cấp và đang đào tạo Đại học, còn lại là lao
động giản đơn) với 12 phòng nghiệp vụ, 1 phòng giao dịch, 11 Quỹ tiết kiệm,
24
Nguyễn Hữu Thế Ngân Hàng 44A
24
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
hoạt động trên một địa bàn rộng bao gồm các quận: Ba Đình, Hoàn Kiếm, Tây