Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Thị Bích Thuỷ
LỜI MỞ ĐẦU
Việt Nam đang trong thời kỳ đầu phát triển của một nền kinh tế, khuyến khích
và hỗ trợ phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ là hướng đi đúng đắn. Đến nay cả
nước có một số lượng lớn các doanh nghiệp vừa và nhỏ, đóng vai trò quan trọng trong
nền kinh tế.
Các doanh nghiệp vừa và nhỏ có những đặc thù riêng, mang nhiều lợi thế cũng
như những hạn chế so với các doanh nghiệp lớn, hiện nay khối doanh nghiệp này có
tiềm năng phát triển rất lớn nhưng đang phải đối mặt với vô số những khó khăn và
thách thức, trong đó khó khăn lớn nhất là vấn đề thiếu vốn cho sản xuất kinh doanh,
Nhiều ý kiến cho rằng, các doanh nghiệp vừa và nhỏ đang “khát vốn”.
Trong bối cảnh kinh tế hiện nay, Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước thực hiện
thắt chặt tiền tệ, nâng lãi suất để giảm lạm phát, hệ thống ngân hàng thực hiện cơ cấu
lại nợ cho vay theo hướng chọn lọc khách hàng nhằm đảm bảo mục tiêu kiểm soát,
cộng với việc tăng giá nhiều mặt hàng đầu vào. Hàng loạt các doanh nghiệp phải tuyên
bố ngừng hoạt động nhưng thực chất là phá sản do doanh thu không đủ bù đắp chi phí
khi lạm phát và lãi suất thị trường bị đẩy lên quá cao. Để vượt qua những khó khăn
trước mắt, các doanh nghiệp vừa và nhỏ rất cần sự hỗ trợ từ phía Nhà nước và các ngân
hàng thương mại về vấn đề tiếp cận nguồn vốn tín dụng ngân hàng để đảm bảo hoạt
động sản xuất kinh doanh.
Thành phố Thanh Hoá là một địa bàn dân cư có số lượng lớn các doanh nghiệp
vừa và nhỏ, có tiềm năng rất lớn khai thác tín dụng từ đối tượng này. Trong thời gian
thực tập tại Viettinbank chi nhánh Thanh Hoá, qua quá trình tìm hiểu và phân tích tình
hình hoạt động kinh doanh của chi nhánh, em nhận thấy rằng mở rộng cho vay đối với
khách hàng là doanh nghiệp vừa và nhỏ đang được chi nhánh chú trọng phát triển, và
đây cũng là phương hướng chỉ đạo mà Hội sở Viettinbank đã đưa ra. Vì vậy em đã
mạnh dạn chọn đề tài “Mở rộng cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng
Thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam chi nhánh Thanh Hoá” để thực hiện
nghiên cứu.
SVTT: Dương Văn Trường Lớp: 49B2 TCNH – MSSV:
0854027242
dựng và trưởng thành là một sự phát triển đi lên với tốc độ nhanh chóng, đóng
góp tích cực cho sự phát triển kinh tế tỉnh nhà.
1.2.Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lí
Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Thanh Hoá thực
hiện theo mô hình tổ chức là Chi nhánh cấp I của Ngân hàng TMCP Công
thương Việt Nam. Các sản phẩm dịch vụ chủ yếu mà Chi nhánh thực hiện bao
SVTT: Dương Văn Trường Lớp: 49B2 TCNH – MSSV:
0854027242
2
Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Thị Bích Thuỷ
gồm: Huy động vốn; Cho vay; Bảo lãnh; Tài trợ thương mại; Thanh toán, chuyển
tiền; Dịch vụ thẻ và ngân hàng điện tử.
Chức năng, nhiệm vụ các bộ phận được quy định như sau:
● Ban Giám đốc: quản lý, điều hành mọi hoạt động trong ngân hàng.
● Phòng tổ chức - hành chính:
- Thực hiện công tác tổ chức, đào tạo cán bộ;
- Quản lý lao động, tiền lương, bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội và các chế
độ liên quan đến chính sách của cán bộ công nhân viên;
- Thực hiện công tác quản trị và văn phòng phục vụ hoạt động kinh doanh;
- Thực hiện công tác bảo vệ, an ninh trật tự, an toàn tài sản tại ngân hàng.
● Phòng khách hàng doanh nghiệp:
- Trực tiếp giao dịch với khách hàng là các doanh nghiệp để khai thác vốn
bằng VND và ngoại tệ;
- Thực hiện các nghiệp vụ liên quan đến tín dụng, quản lý các sản phẩm
tín dụng;
- Trực tiếp quảng cáo, tiếp thị, giới thiệu và bán các sản phẩm, dịch vụ
ngân hàng cho các doanh nghiệp;
- Tham mưu cho Ban Giám đốc dự kiến kế hoạch kinh doanh;
- Tổng hợp, phân tích, đánh giá tình hình hoạt động kinh doanh;
- Báo cáo hoạt động kinh doanh;
● Phòng quản lý rủi ro:
- Tham mưu cho Ban Giám đốc về công tác quản lý rủi ro;
- Quản lý, giám sát thực hiện danh mục cho vay, đầu tư đảm bảo tuân thủ
các giới hạn tín dụng cho từng khách hàng;
- Thẩm định hoặc tái thẩm định khách hàng, dự án, phương án đề nghị cấp
tín dụng và tài sản bảo đảm;
- Thực hiện chức năng đánh giá, quản lý rủi ro trong toàn bộ các hoạt động
ngân hàng;
- Chịu trách nhiệm về quản lý và xử lý các khoản nợ có vấn đề;
- Quản lý, khai thác và xử lý các tài sản bảo đảm nợ vay nhằm thu hồi các
khoản nợ, theo dõi và đôn đốc thu hồi các khoản nợ đã xử lý rủi ro.
- Tổng hợp kết quả công tác quản lý rủi ro của các phòng (rủi ro tác
nghiệp).
● Phòng tiền tệ kho quỹ:
- Thực hiện nghiệp vụ quản lý an toàn kho quỹ, quản lý quỹ tiền mặt;
- Cung ứng và thu tiền cho các quỹ tiết kiệm, các điểm giao dịch;
- Thu chi tiền mặt cho khách hàng có lượng giao dịch tiền mặt lớn.
● Các phòng giao dịch:
- Trực tiếp giao dịch với khách hàng là các cá nhân để khai thác nguồn
vốn;
- Thực hiện các nghiệp vụ liên quan đến tín dụng, quản lý các sản phẩm tín
dụng;
- Cung ứng các dịch vụ ngân hàng liên quan đến nghiệp vụ thanh toán, xử
lý hạch toán các giao dịch;
- Quản lý và chịu trách nhiệm đối với hệ thống giao dịch trên máy vi tính;
- Quản lý quỹ tiền mặt đến từng giao dịch viên;
SVTT: Dương Văn Trường Lớp: 49B2 TCNH – MSSV:
0854027242
4
Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Thị Bích Thuỷ
và 07)
Ban Giám đốc
Bộ phận kiểm tra, kiếm
soát
Phòng
giao
dịch
Thanh
Hoa
Phòng
tiền tệ
kho
quỹ
Phòng
quản
lý rủi
ro
Phòng
thông
tin
điện
toán
Phòng
thanh
toán
xuất
nhập
khẩu
Quan hệ kiểm tra, kiểm soátQuan hệ quản lý điều hành
Phòng
“ 1.527 2.024 2.650
Trong đó: Dư nợ
cho vay nền kinh tế
“ 1.521 2.018 2.650
3 Tổng nguồn vốn
huy động
“ 1.285 1.554 1.893
4 Lợi nhuận sau thuế “ 31 27,7 51,7
5 Thu nhập bình
quân đầu người
Triệu/đồng
/người
11,4 14,1 19
(Nguồn: Phòng Tổng hợp – Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi
nhánh Thanh Hóa)
Phát huy được lợi thế hoạt động trên địa bàn đô thị, trong nhiều năm qua
Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Thanh Hoá luôn là ngân
hàng có tỷ trọng vốn huy động cao, chiếm khoảng 10,3% thị phần ngân hàng
toàn tỉnh. Trên cơ sở nguồn vốn dồi dào, Chi nhánh đã tích cực tham gia đồng tài
trợ cho nhiều dự án lớn của tỉnh như dự án Xi măng Bỉm Sơn, dự án BOT đường
tránh thành phố Thanh Hoá… Có thể nói, nguồn vốn đầu tư của Chi nhánh đã
góp phần tích cực trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển ngành nghề,
tạo công ăn việc làm cho người lao động. Thị phần đầu tư tín dụng luôn chiếm
trên 11% trong tổng khối lượng đầu tư tín dụng trên toàn địa bàn. Song song với
việc mở rộng tín dụng, quy mô hoạt động, Chi nhánh cũng không ngừng nâng
cao chất lượng tín dụng. Bên cạnh đó, Chi nhánh cũng luôn quan tâm đến phát
triển dịch vụ ngân hàng, cũng như áp dụng có hiệu quả các tiến bộ khoa học
công nghệ trong hoạt động ngân hàng, cung cấp nhiều dịch vụ tiện ích cho khách
hàng như: ngân hàng tự động ATM, trả lương qua tài khoản, thanh toán quốc tế,
chi trả kiều hối…
của Ngân hàng Thế giới, DN siêu nhỏ là DN có số lượng lao động bình quân
hàng năm dưới 10 người, DN nhỏ có số lượng lao động từ 10 đến dưới 50
người, còn DN vừa có từ 50 đến 300 lao động. Ở một số quốc gia và khu vực
SVTT: Dương Văn Trường Lớp: 49B2 TCNH – MSSV:
0854027242
8
Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Thị Bích Thuỷ
trên thế giới như sau:
Bảng 1.1: Tiêu chí xác định doanh nghiệp vừa và nhỏ một số nước trên thế
giới
Quốc gia Lĩnh vực Vốn đầu tư Số LĐ bình quân
Mỹ < 500 người
Đài loan < 80 triệu NT$ <200 người
Nhật Bản
Công nghiệp, sản xuất <100 triệu Yên <300 người
Bán buôn <30 triệu Yên <100 người
Bán lẻ, dịch vụ < 10 triệu Yên <50 người
Hàn Quốc
Chế tạo khai khoáng <300 người
Xây dựng <200 người
Dịch vụ <20 người
EU < 250 người
(Nguồn: Sưu tầm và tổng hợp)
Ở Việt Nam, ban đầu theo Nghị định số 90/2001/NĐ-CP ngày 23/9/2001,
DNVVN được định nghĩa là “cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký
kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng
hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người”. Sau đó, khái
niệm này được cụ thể hóa trong Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ban hành ngày
30/09/2009 như sau:
0854027242
9
Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Thị Bích Thuỷ
III. Thương mại và
dịch vụ
≤10 tỷ
đồng
> 10 -50
người
> 10 - 50 tỷ
đồng
> 50 - 100
người
(Nguồn: Nghị định số 56/2009/NĐ-CP)
Để xác định một DN là DNVVN, có thể áp dụng cả hai hoặc một trong
hai chỉ tiêu nói trên căn cứ vào tình hình kinh tế - xã hội cụ thể của ngành nghề,
lĩnh vực, từng địa phương.
1.1.2 Đặc điểm của doanh nghiệp vừa và nhỏ
Quy môn vốn không lớn, bộ máy hoạt động gọn nhẹ, tiết kiệm chi phí
quản lý doanh nghiệp. Thông thường, DNVNN được giới hạn quy mô vốn ở
một khoảng nhất định và không quá lớn. Đặc điểm này dẫn đến nhiều đặc điểm
khác của DNVVN. Vì nguồn vốn ban đầu thường là nhỏ, thành lập một
DNVVN không quá khó khăn, trong điều kiện như hiện nay lại có thể lựa chọn
nhiều loại hình DN. Trong một chừng mực nhất định, so với các DN lớn, một
lợi thế rõ rệt của DNVVN là gọn nhẹ và linh hoạt. DNVVN với số lượng lao
động ít, không đòi hỏi một bộ máy quản lý cồng kềnh, cơ cấu tổ chức phức tạp,
nhiều phòng ban. Điều này làm giảm chi phí quản lý, tăng lợi nhuận cho DN.
Năng động, nhạy bén, dễ thích ứng với những thay đổi của thị trường.
Do quy mô nhỏ, các DNVVN là những DN bám sát với thị trường nhất,
DNVVN có thể điều chuyển hướng kinh doanh với tốc độ nhanh nhất. Các DN
vốn đầu tư hạn chế, mỗi DN có thể lâm vào thiếu vốn thậm chí thiếu trầm trọng
khi có nhu cầu mở rộng thị trường, mở rộng đầu tư hay đổi mới, nâng cấp trang
thiết bị, đặc biệt là những trang thiết bị đòi hỏi vốn lớn. Tình trạng thiếu vốn
ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh của DN.
Năng lực cạnh tranh còn thấp, thị phần hoạt động nhỏ, các DNVVN
thường không cạnh tranh được với các DN lớn trong sản xuất dây chuyền hàng
loạt do hạn chế về quy mô TSCĐ, trang thiết bị máy móc. Vì vậy chỉ đáp ứng
một phần nhỏ nhu cầu cho thị trường, chiếm thị phần nhỏ trong nền kinh tế.
Ngoài ra, DNVVN gặp khó khăn trong thiết lập và mở rộng quan hệ hợp tác với
các đơn vị kinh tế bên ngoài địa phương DN đó đang hoạt động.
Khó tiếp cận nguồn vốn tín dụng ngân hàng, mỗi DN cần có kế hoạch
kinh doanh hiệu quả, đảm bảo nguồn trả nợ thì mới có khả năng tiếp cận vốn tín
dụng ngân hàng. Nếu không phải là KH truyền thống thì khó tiếp cận được
những chính sách tín dụng ưu đãi. Hạn chế về nhân lực và quản lý, về khả năng
tiếp cận thông tin thị trường, chưa minh bạch tài chính, vốn tự có thấp là
những nguyên nhân chính khiến ngân hàng e ngại khi cho vay DNVVN. Mỗi
khoản vay của các DNVVN có chi phí cao so với lợi nhuận thu được, các món
vay bị chia nhỏ gây khó khăn trong việc thu hồi vốn. Nếu xảy ra rủi ro phải xử
lý TSĐB cũng rất tốn kém và mất nhiều thời gian.
Nguồn nhân lực chất lượng không cao, đa số các chủ DNVVN chưa
được đào tạo bài bản, quản lý chủ yếu dựa trên kinh nghiệm thực tế nên yếu tố
quản lý DN thường hạn chế. Ban quản lý yếu kém thường dẫn đến đến một số
tình trạng không chớp được cơ hội kinh doanh, không định lượng được rủi ro
khi DN hoạt động. Các DNVVN chủ yếu tuyển dụng nguồn lao động phổ thông
nhàn rỗi, ít lao động có tay nghề, lại ít chú trọng đào tạo cán bộ công nhân
SVTT: Dương Văn Trường Lớp: 49B2 TCNH – MSSV:
0854027242
11
Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Thị Bích Thuỷ
viên, trình độ tay nghề và kỹ năng làm việc chưa được nâng cao, thiếu bí quyết,
Khối lượng hàng hóa dịch vụ trong nền kinh tế phong phú cả về
lượng và chất. DNVVN có ưu thế về số lượng, hoạt động ở hầu hết các lĩnh
vực, ngành nghề kinh doanh. Ở Việt Nam, gần như lĩnh vực nào cũng có sự
tham gia của các DNVVN trừ một số lĩnh vực có rào cản gia nhập thị trường
SVTT: Dương Văn Trường Lớp: 49B2 TCNH – MSSV:
0854027242
12
Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Thị Bích Thuỷ
lớn như cung ứng điện, cung cấp dịch vụ viễn thông là các DN lớn độc quyền…
Vì thế, các DNVVN đã tạo ra một khối lượng khổng lồ những loại hàng hóa,
dịch vụ và cung ứng cho nềm kinh tế, đáp ứng nhu cầu thị trường.
Độc quyền là một trong những thất bại của thị trường, sự tồn tại của các
DNVVN góp phần giải quyết thất bại này. Các lĩnh vực độc quyền ngày càng
gỡ bỏ rào cản gia nhập thị trường để các DN có thể tham gia. Người tiêu dùng
có nhiều sự lựa chọn về sản phẩm và chất lượng phục vụ, tạo điều kiện duy trì
tự do cạnh tranh trong nền kinh tế.
Đảm bảo tính năng động cho nền kinh tế. Vì hạn chế về khả năng tài
chính, DNVVN khó cạnh tranh được với DN lớn trong sản xuất dây chuyền,
các DN này phải tìm mọi biện pháp chuyển đổi mặt hàng nhanh, phù hợp với
thị hiếu người tiêu dùng, len lỏi vào các thị trường tiềm năng để tạo chỗ đứng
cho riêng mình, như vậy phát huy tính năng động của các DN, sẵn sàng thích
ứng mọi thay đổi của nền kinh tế.
Góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động và cơ cấu kinh tế. Các DNVVN
phân bố rải rác ở khắp các vùng miền, thu hút một số lượng lớn nguồn lao động
nhàn rỗi, đặc biệt là lao động trong khu vực sản xuất nông nghiệp, giảm dần số
lượng người lao động nông nghiệp, tăng cơ cấu lao động trong các ngành sản
xuất công nghiệp và dịch vụ. Hoạt động của các DNVVN cũng góp phần tăng
dần tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ trong thu nhập quốc dân.
Góp phần tạo ra sự cân đối trong nền kinh tế. Các DNVVN có thể thâm
nhập các thị trường tiêu dùng nhỏ lẻ mà DN lớn bỏ qua vì lợi nhuận quá ít. Mọi
Bằng việc sử dụng nguồn vốn ngân hàng, các DNVVN, đã tạo được đòn
bẩy tài chính, tối ưu hóa hiệu quả sử dụng vốn. Nếu sử dụng thích hợp, đòn bẩy
tài chính sẽ mang lại tỷ lệ lợi nhuận cao so với mỗi đồng vốn chủ sở hữu. Ngoài
ra, lãi vay là chi phí trước thuế nên sử dụng vốn vay sẽ tiết kiệm được một
khoản thuế cho DN.
Đối với các NHTM, cho vay là hoạt động mang lại lợi nhuận chủ yếu cho
ngân hàng. Hiện nay, môi trường kinh doanh dịch vụ ngân hàng ngày càng cạnh
tranh gay gắt, đặc biệt là các chi nhánh ngân hàng nước ngoài ngày càng chiếm
thị phần lớn, các NHTM trong nước cần phải khai thác những KH tiềm năng,
trong đó các DNVVN có tiềm năng đặc biệt với một số lượng đông đảo trong
nền kinh tế, quy mô sản xuất nhỏ, khả năng thu hồi vốn nhanh, vốn ngân hàng
không bị ứ đọng quá lâu ở các DN.
Cho vay các DN lớn phần lớn là các khoản vay có giá trị lớn, lâu thu hồi,
đôi khi phải cho vay với lãi suất ưu đãi do có sự bảo hộ của Nhà nước, nếu một
DN mất khả năng trả nợ thì tổn thất của ngân hàng sẽ rất lớn. Khi cho vay các
DNVVN, các khoản cho vay của ngân hàng được chia nhỏ, phân tán rủi ro, khi
xảy ra rủi ro tín dụng với một khoản vay nào đó thì tổn thất của ngân hàng cũng
không quá lớn. Như vậy thay vì cho vay một DN lớn thì NHTM có thể lựa chọn
cho vay hàng trăm DNVVN với giá trị tương đương để hạn chế rủi ro, đảm bảo
nguyên tắc đầu tư “không cho tất cả trứng vào một giỏ”.
Ngoài ra, mở rộng cho vay DNVVN đồng nghĩa với việc NHTM phải tìm
kiếm được những KH mới, tạo điều kiện cho ngân hàng quảng bá và cung cấp
SVTT: Dương Văn Trường Lớp: 49B2 TCNH – MSSV:
0854027242
14
Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Thị Bích Thuỷ
những sản phẩm dịch vụ liên quan cho DN như dịch vụ thanh toán trong nước,
thanh toán quốc tế, thanh toán lương công nhân viên qua thẻ, cho thuê ngăn tủ
sắt…qua đó tăng thu nhập ngoài lãi từ các hoạt động dịch vụ của ngân hàng.
Đối với nền kinh tế, việc các NHTM mở rộng hoạt động cho vay
+ Đánh giá tình hình tài chính, khả năng trả nợ của KH
SVTT: Dương Văn Trường Lớp: 49B2 TCNH – MSSV:
0854027242
15
Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Thị Bích Thuỷ
+ Dự kiến các rủi ro có thể xảy ra
+ Đánh giá TSĐB vốn vay (nếu có).
Sau khi hoàn tất thẩm định, cán bộ cho vay lập báo cáo thẩm định, ghi rõ
ý kiến đánh giá về dự án, phương án và nêu rõ quan điểm đồng ý cho vay, từ
chối cho vay, hay nêu các đề xuất khác và trình bộ phận trực tiếp cho vay xét
duyệt.
Căn cứ vào báo cáo thẩm định, hồ sơ vay vốn của KH, bộ phận trực tiếp cho
vay ghi ý kiến đánh giá về KH, dự án, món vay đồng thời nêu rõ các quan điểm
đồng ý cho vay, từ chối cho vay hoặc các đề xuất khác, sau đó trình toàn bộ hồ sơ
và báo cáo thẩm định cho người quyết định cho vay để xem xét quyết định
Bước 3: Quyết định cho vay
Trong phạm vi quyền hạn được ủy quyền, căn cứ nội dung báo cáo thẩm
định của bộ phận trực tiếp cho vay và hồ sơ vay vốn, người quyết định cho vay
ra một trong các quyết định đồng ý cho vay, từ chối cho vay hoặc yêu cầu bổ
sung , kiểm tra lại thông tin hoặc các quyết định khác.
* Trong trường hợp đồng ý cho vay
+ Cán bộ trực tiếp cho vay dự thảo và trình phụ trách bộ phận trực tiếp
cho vay hợp đồng vay vốn, hợp đồng đảm bảo tiền vay hoặc thông báo gửi KH
các điều kiện ràng buộc.
+ Phụ trách bộ phận trực tiếp cho vay kiểm tra, kiểm soát, ký kiểm soát
trên từng trang hợp đồng tín dụng, ký kiểm soát các công văn giấy tờ có liên
quan do cán bộ trực tiếp cho vay dự thảo. Trình toàn bộ hồ sơ và tài liệu đó cho
người quyết định cho vay.
+ Sau khi các văn bản đã được ký kết giữa các bên, cán bộ trực tiếp cho
vay đóng dấu, lấy số công văn và gửi theo quy định
phận kế toán cho vay, bộ phận kho quỹ, gửi KH và lưu giữ tại bộ phận trực tiếp
cho vay (do cán bộ trực tiếp cho vay quản lý).
+ Cán bộ trực tiếp cho vay lưu giữ và bảo quản chặt chẽ toàn bộ tài liệu
do KH cung cấp, hồ sơ tín dụng (bản gốc), các biên bản làm việc và ghi chép
làm việc và các tài liệu liên quan khác. Các tờ trình, báo cáo phát sinh trong quá
trình cho vay, nếu bản gốc đã được lưu tại phòng kế toán hoặc phòng kho quỹ
thì phải chụp lưu bản sao. Sau khi KH trả hết nợ gốc và lãi thì lập bảng kê các
chứng từ kèm hồ sơ vay để lưu giữ theo chế độ quy định.
b. Quy trình phát tiền vay
Bước 1: Nhận và kiểm tra các căn cứ phát tiền vay
+ Cán bộ trực tiếp cho vay thực hiện việc kiểm tra các căn cứ rút tiền vay
phù hợp với hợp đồng tín dụng và các quy định hiện hành, ký trình phụ trách bộ
phận trực tiếp cho vay bao gồm: Các giấy tờ liên quan đến việc rút vốn vay của
KH; Hợp đồng tín dụng đã ký, Giấy nhận nợ.
+ Phụ trách phận trực tiếp cho vay kiểm soát, nêu rõ quan điểm chấp
thuận phát tiền vay hoặc không chấp nhận phát tiền vay và trình người xét
duyệt phát tiền vay.
+ Người xét duyệt phát tiền vay kiểm tra hồ sơ và ra quyết định chấp
thuận phát tiền vay hoạt từ chối phát tiền vay và nêu rõ lý do và chuyển hồ sơ
SVTT: Dương Văn Trường Lớp: 49B2 TCNH – MSSV:
0854027242
17
Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Thị Bích Thuỷ
lại bộ phận trực tiếp cho vay thực hiện các quyết định của mình.
Bước 2: Thực hiện phát tiền vay
+ Trường hợp được người xét duyệt cho vay chấp thuận phát tiền vay,
cán bộ trực tiếp cho vay thông báo cho KH và chuyển hồ sơ cho bộ phần có liên
quan để thực hiện phát tiền vay theo yêu cầu của KH
+ Trong trường hợp khác, dự thảo công văn trả lời và hoàn trả hồ sơ yêu
cầu rút tiền vay cho KH.
18
Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Thị Bích Thuỷ
được thể hiện tổng quát qua một số chỉ tiêu thời điểm và thời kỳ như sau:
Bảng 2.4: Các chỉ tiêu thời điểm
Đơn vị: Tỷ đồng
Thời điểm 31/12/2009 30/6/2010 31/12/2010 30/6/2011
Tổng vốn huy động 513,5 605 820 1206
Tổng dư nợ 267 523 800 900
Dư nợ KH DN 232,6 483 776 861,7
Dư nợ KH DNVVN 110 235 350 395
Nợ xấu 2,4 3 3,2 3,808
Nợ xấu DNVVN 0,9 1,1 1,3 1,7
Số lượng KH 116 130 147 168
Số lượng KH DN 32 43 52 58
Số lượng KH DNVVN 26 36 45 49
(Nguồn: Báo cáo hoạt động kinh doanh Vietinbank Thanh Hóa)
Bảng 2.5: Các chỉ tiêu thời kỳ
Đơn vị: Tỷ Đồng
Thời kỳ 6 tháng đầu 2010 6 tháng cuối 2010 6 tháng đầu 2011
DS cho vay 389 480 407
DS cho vay DNVVN 180,9 205 240
DS thu nợ 133 203 307
DS thu nợ DNVVN 55,9 90 195
(Nguồn: Báo cáo hoạt động kinh doanh Vietinbank Thanh Hóa)
Để đánh giá thực trạng mở rộng cho vay DNVVN, phân tích những chỉ
tiêu phản ánh sự mở rộng cho vay DNVVN dưới đây:
2.2.2.1 Số lượng khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ vay vốn tại chi
nhánh
Bảng 2.6: Số lượng KH DNVVN vay vốn tại chi nhánh
Đơn vị: KH
gia tăng số lượng KH DN chủ yếu là tăng KH DNVVN. Chi nhánh mới thành
lập, quy mô hoạt động còn tương đối nhỏ nên cho vay đối tượng DNVVN là
phù hợp nhất đối quy mô huy động vốn, cơ cấu kỳ hạn huy động và khả năng
tài chính của chi nhánh, hơn là cho vay DN lớn. Như vậy, chi nhánh đã chú
trọng khai thác đối tượng DNVVN để mở rộng cho vay.
Trong hoạt động ngân hàng, cho vay là nghiệp vụ chủ yếu mang lại lợi
nhuận cho ngân hàng. Vì vậy, việc tìm kiếm KH và đặt quan hệ tín dụng, đồng
thời giữ chân KH truyền thống là ưu tiên hàng đầu của mỗi NHTM. Qua những
nhận xét trên cho thấy, Vietinbank chi nhánh Thanh Hoa đã không ngừng xây
dựng quan hệ tín dụng mới và chủ yếu đối với KH DNVVN, chi nhánh đang đi
đúng hướng và bám sát với định hướng tập trung khai thác các DNVVN như
chỉ đạo của Hội sở chính Vietinbank. Khi quy mô hoạt động tăng lên sẽ đẩy
mạnh mở rộng tín dụng hơn nữa đối với các DN lớn.
2.2.2.2 Doanh số cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ
Bảng 2.7: Doanh số cho vay DNVVN
SVTT: Dương Văn Trường Lớp: 49B2 TCNH – MSSV:
0854027242
20
Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Thị Bích Thuỷ
Đơn vị: Tỷ đồng
Thời kỳ 6 tháng đầu
2010
6 tháng cuối
2010
6 tháng đầu 2011
DS cho vay 389 480 407
DS cho vay DNVVN 180,9 205 240
Mức tăng tuyệt đối 24,1 35
Tốc độ tăng tương đối 13,32% 17,07%
Tỷ trọng cho vay
21
Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Thị Bích Thuỷ
thì chi nhánh cần phải có nhiều biện pháp để đạt được những mục tiêu sử dụng
vốn hiệu quả.
2.2.2.3 Dư nợ doanh nghiệp vừa và nhỏ
Bảng 2.8: Dư nợ DNVVN
Đơn vị: Tỷ Đồng
Thời điểm 31/12/2009 30/6/2010 31/12/2010 30/6/2011
Tổng vốn huy động 513,5 605 820 1206
Tổng dư nợ 267 523 800 900
Dư nợ KH DNVVN 110 235 350 395
Mức tăng tuyệt đối 125 115 45
Tốc độ tăng tương đối 113,63% 48,94% 12,86%
Dư nợ DNVVN/Tổng dư nợ 41,2% 44,93% 43,75% 43,89%
Dư nợ DNVVN/Tổng vốn huy
động
21,42% 38,84% 42,68% 32,75%
(Nguồn: Báo cáo hoạt động kinh doanh Vietinbank Thanh Hóa)
Dư nợ DNVVN tương đối thấp, cuối năm 2009 chỉ đạt 110 tỷ đồng.
Sang năm 2010 có tăng lên nhưng con số này vẫn thấp. Dư nợ DNVVN của chi
nhánh so với tổng dư nợ DNVVN của toàn hệ thống Vietinbank là một con số
khá khiêm tốn. Cuối năm 2009 dư nợ DNVVN của Vietinbank là 38.210 tỷ
đồng, chi nhánh Thanh Hóa chỉ chiếm 0,28%, cuối năm 2010 dư nợ Vietinbank
là 52.337 tỷ đồng, chi nhánh Thanh Hóa chỉ chiếm 0,69%.
Chi nhánh có tốc độ tăng tương đối dư nợ DNVVN rất cao trong giai
đoạn đầu hoạt động. Dư nợ tại thời điểm 30/06/2010 tăng 113% so với thời
điểm cuối 2009. Đây cũng là một điều dễ hiểu, do số KH ký hợp đồng tín dụng
mới vẫn trong thời hạn vay vốn, chưa phải hoàn trả vốn vay cho ngân hàng, như
vậy doanh số thu nợ 6 tháng đầu 2010 thấp, chỉ đạt 55,9 tỷ đồng. Sang 6 tháng
cuối năm, tốc độ tăng đã giảm dần chỉ còn gần 50% so với cuối quý 2 2010 và
Qua biểu đồ về chỉ tiêu dư nợ DNVVN/ Tổng vốn huy động thấy được sự
mở rộng cho vay DNVVN của chi nhánh. Trong tổng vốn mà chi nhánh huy
động được, khoản vốn dùng để cho vay DNVVN đã tăng lên qua các thời kỳ.
Cuối 2009, dư nợ DNVVN còn thấp nên tỷ lệ này chỉ đạt hơn 20% nhưng các
giai đoạn sau, thực hiện chỉ đạo của Hội sở là khai thác tín dụng các DNVVN,
tỷ trọng này đã tăng lên, cao nhất vào cuối 2010 đạt gần 43%, sau đó có giảm
nhẹ do quy mô huy động vốn 6 tháng đầu 2011 tăng cao, tăng đến 47% so với
tại 31/12/2010, vượt cả kế hoạch đề ra.
Bảng 2.9: Cơ cấu dư nợ DNVVN theo kỳ hạn
Thời điểm 31/12/2009 30/6/2010 31/12/2010 30/6/2011
Tổng dư nợ 110 235 350 395
Dư nợ ngắn hạn 92 190 289 320
Tỷ trọng 83,36% 82,98% 82,57% 81,1%
Dư nợ trung và dài
hạn
18 38 61 75
(Nguồn:Báo cáo hoạt động kinh doanh Vietinbank Thanh Hóa)
Nhìn vào biểu đồ trên ta thấy được cho vay DNVVN, cho vay ngắn hạn
SVTT: Dương Văn Trường Lớp: 49B2 TCNH – MSSV:
0854027242
23
Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Thị Bích Thuỷ
là chủ yếu. Điều này không chỉ thấy ở cho vay DNVVN mà thấy ở tổng dư nợ
của chi nhánh. Ví dụ tại thời điểm 31/12/2010 tổng dư nợ của chi nhánh là 800
tỷ đồng thì trong đó dư nợ ngắn hạn là 703 tỷ, chiếm 87,87% tổng dư nợ, còn
cao hơn cả tỷ trọng dư nợ ngắn hạn cho vay DNVVN.
Nguyên nhân là do các khoản vay tiêu dùng của KH cá nhân hầu hết là
vay ngắn hạn. Nguyên nhân thứ hai là nguồn vốn chi nhánh Thanh Hoa huy
động được cũng chủ yếu là vốn ngắn hạn, chiếm đến 98% số dư huy động. Nghiệp
vụ chuyển hoán kỳ hạn nguồn tiềm ẩn nhiều rủi ro nên chi nhánh cũng chủ yếu cho
24
Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Thị Bích Thuỷ
hơn nhiều so với cho vay VND, mặc dù có thể có rủi ro tỷ giá nhưng các
DNVVN có nhu cầu tín dụng trong thời hạn không quá dài nên rủi ro tỷ giá
cũng tác động không nhiều.
2.2.2.4 Tỷ lệ nợ xấu cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ
Nợ xấu là chỉ tiêu phản ánh chất lượng hoạt động cho vay DNVVN của
chi nhánh.
Bảng 2.11: Tỷ lệ nợ xấu cho vay DNVVN
Đơn vị: Tỷ đồng
Thời điểm 31/12/2009 30/6/2010 31/12/2010 30/6/2011
Nợ xấu 2,4 3 3,2 3,808
Tổng dư nợ 267 523 800 900
Nợ xấu/ Tổng dư nợ 0,89% 0,57% 0,4% 0,423%
Nợ xấu DNVVN 0,9 1,1 1,3 1,7
Dư nợ KH DNVVN 110 235 350 395
Nợ xấu DNVVN/Dư nợ
DNVVN
0,8% 0,46% 0,37% 0,43%
(Nguồn: Báo cáo hoạt động kinh doanh Vietinbank Thanh Hóa
Qua bảng số liệu cho thấy được, nợ xấu cho vay DNVVN tăng dần qua
các thời kỳ, từ mức 0,9 tỷ đồng cuối năm 2009 sau tăng lên 1,7 tỷ vào cuối quý
2 năm 2011 nhưng nếu so sánh nợ xấu với dư nợ DNVVN thì tỷ lệ nợ xấu lại
giảm dần, tương ứng giảm từ 0,8% xuống còn 0,43%. Tỷ lệ nợ xấu dưới 1% là
một con số rất tích cực đối với hoạt động ngân hàng. Cuối năm 2009, tỷ lệ nợ
xấu cao hơn hẳn là do một số khoản nợ xấu từ Phòng giao dịch số 6 chi nhánh
Thanh Hóa chuyển sang trong số đó có một khoản liên quan đến các công ty,
trong năm 2010, chi nhánh đã làm thủ tục khởi kiện và tiến hành thu hồi nợ.
Tỷ lệ nợ xấu DNVVN nhìn chung xấp xỉ bằng tỷ lệ nợ xấu chung của
chi nhánh và thấp hơn một chút. Nguyên nhân là do các khoản cho vay DN lớn