PHẦN I
LỜI NÓI ĐẦU
Trong xu thế phát triển kinh tế, tỉnh Đồng Tháp đã và đang tập trung
xây dựng cơ sở hạ tầng nhằm thực hiện công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông
nghiệp, nông thôn, ứng dụng khoa học và công nghệ vào sản xuất để giảm
chi phí tăng năng suất lao động đem lại hiệu quả kinh tế trong hoạt động sản
xuất kinh doanh.
Hiện nay, sản xuất nông nghiệp tỉnh ta phát triển tương đối toàn diện,
liên tục và với tốc độ cao, cơ cấu kinh tế nông thôn bước đấu chuyển dòch
theo hướng tăng tỷ trọng của công nghiệp và dòch vụ, cơ sở hạ tầng, nhất là
hệ thống thủy lợi được tăng cường. Đời sống của đại bộ phận nông dân được
cải thiện. Bộ mặt nông thôn được đổi mới khang trang sạch đẹp hơn; đặc biệt
là hạ tầng cơ sở (điện, đường, trường, trạm). Những thành tựu đó đã góp phần
rất quan trọng vào sự ổn đònh và phát triển kinh tế - xã hội của đòa phương,
khẳng đònh vò trí rất quan trọng của nông nghiệp, nông thôn như vai trò quản
lý Nhà nước về nông nghiệp và phát triển nông thôn.
Tuy vậy, cũng còn có những mặt tồn tại yếu kém, cơ cấu kinh tế
chuyển dòch chậm, việc ứng dụng khoa học, công nghệ còn hạn chế, thò
trường tiêu thụ gặp nhiều khó khăn, quan hệ sản xuất ở nông thôn chậm đổi
mới, tiềm năng to lớn về đất đai, lao động ở một số vùng chưa khai thác có
hiệu quả. Đời sống một số bộ phận nông dân, nhất là ở vùng sâu, vùng xa còn
rất nhiều khó khăn. Khả năng cạnh tranh kém, quản lý Nhà nước về các dòch
vụ hạ lưới điện, dòch vụ bơm nước chưa chặt chẽ, thiếu đồng bộ, dẫn đến phát
sinh tranh chấp trong nội bộ nông dân, giữa nông dân với cán bộ, giữa công
dân với Nhà nước, có nơi gay gắt, phức tạp, có vụ khiếu nại vượt cấp, khiếu
nại tập thể. Điển hình như vụ khiếu nại tập thể của một số hộ dân ở xã A,
huyện X, khiếu nại tranh chấp về dòch vụ bơm nước.
Qua thời gian nghiên cứu, học tập lớp bồi dưỡng chuyên viên do Học
viện Hành chính quốc gia tổ chức và đối chiếu với thực tiễn công việc của
bản thân. Tôi xin chọn tình huống giải quyết việc khiếu nại của các hộ dân
về đường điện, đường nước tưới tiêu tại ấp N, xã A, huyện X, tỉnh Đồng Tháp
2/ Về chủ trương:
Năm 1995, 1996, huyện Ủy, UBND huyện X có chủ trương chung về
phát triển điện khí hóa nhằm phục vụ sản xuất và sinh hoạt cho nhân dân. Nhưng
trong q trình triển khai thực hiện tại địa phương, Đảng ủy HĐND, UBND xã A
khơng có nghị quyết đưa ra bàn bạc về việc chủ trương cho đầu tư đường trung,
hạ thế điện ấp N, cũng khơng có chủ trương vận động các chủ dịch vụ bơm nước
củ và các hộ dân của 07 tập đồn ấp N, xã A, với diện tích 320 ha để giao các
đường nước lại cho tập thể hoặc tư nhân thực hiện dịch vụ bơm nước. Tuy nhiên
tại thời điểm này ơng Nguyễn Tấn S - Bí thư Đảng ủy xã, ơng H - Chủ tịch
2
UBND xã có tham gia vào cổ phần, đường điện, đường nước ấp N, xã A có đến
vận động các chủ dịch vụ bơm nước củ và tập đoàn viên giao các đường nước lại
cho UBND xã A quản lý khai thác nhẳm gây quỹ xây dựng các công trình phúc
lợi địa phương và được sự thống nhất UBND xã quản lý thu dịch vụ 4kg
lúa/1000m
2
/năm. Nhưng sau đó UBND xã A bàn giao lại cho tư nhân thực hiện
có “09 thành viên”, do ông Phạm Ngọc Trứ làm đại diện, “09 thành viên” gồm:
1/ Ông Huỳnh Thanh P.
2/ Ông Nguyễn Phước H.
3/ Ông Trần Ngọc T.
4/ Ông Nguyễn Văn N.
5/ Ông Nguyễn Ngọc A.
6/ Ông Nguyễn Tấn S.
7/ Ông Nguyễn Ngọc R.
8/ Ông Hồ Ngọc M.
9/ Ông Lê Hoàng Đ.
3/ Thủ tục thành lập tổ hợp tác:
Qua làm việc với UBND xã A, các cổ phần có liên quan được biết về thủ
tục, không có quyết định thành lập tổ hợp tác, không có phương án hoạt động,
- Trạm 75KVA đang phục vụ bơm nước thành hai điện kế: 02 điện kế
phục vụ bơm nước, 01 điện kế phục vụ cho sinh hoạt. Như vậy, 1/2 giá trò của
trạm biến áp 75KVA phục vụ cho ánh sáng sinh hoạt trò giá: 25.413.235đ +
3.750.000đ x 1/2 = 14.581.617đ.
Đến cuối năm 2002 có 284 hộ sử dụng tuyến điện nói trên.
* Về thu hồi vốn:
- Thu tiền đầu tư đối với các hộ sử dụng điện:
Từ năm 1996-2002: thu 264 hộ với số tiền 388.250.000 đồng (cao
nhất là 1.500.000 đồng/ hộ, thấp nhất là 800.000 đồng/hộ sử dụng điện). Phát
sinh từng thời điểm như sau:
+ Thu năm 1996: có 166 hộ với số tiền là 248.700.000 đồng.
+ Thu từ năm 1997-2002: 98 hộ với số tiền là 139.550.000 đồng.
Số tiền các hộ dân đóng được các ông thu giữ như sau:
+ Năm 1996 đến cuối năm 1998: Ông Trần Ngọc Trứ thu giữ.
+ Năm 1998 đến cuối năm 1999 : Ông Phạm Văn Niệm thu giữ.
+ Năm 2000 đến nay : Ông Trần Văn Minh thu giữ.
* Phần thu tiền điện sử dụng ánh sáng của các hộ sử dụng điện theo
giá tại các thời điểm như sau :
- Từ tháng 9/1998 đến tháng 01/1999: Thu 800đ/KWH.
- Từ tháng 02/1999 đến 30/9/2001: Thu 750đ/KWH.
- Từ tháng 10/2001 đến tháng 9/2002: Thu 850đ/KWH.
4
Thời gian này, Tổ hợp có khoán cho ông Minh thu 750đ/KWH.
- Tháng 10/2002 ông Minh thu 1.000đ/KWH; tháng 11/2002, ông
Minh thu 900đ/KWH.
Như vậy, tổng sồ tiền thu cao hơn giá trần điện nông thôn quy đònh
từng thời điểm quy đònh theo giá tính toán được là: 38.724.480 đồng.
Theo danh sách tổng thu hộ cá nhân sử dụng điện là 284 hộ.
Theo Hội đồng đònh giá của tỉnh ngày 16/12/2001 thực hiện theo
Thông tư số 06/2001/TTLT/BCN-BTC ngày 23/8/2001 của Bộ Công nghiệp
2
, nhưng tập đoàn viên đã thống nhất giá 40kg
lúa/1.000m
2
trong hợp đồng kinh tế giữa bên A là ông Đinh Văn Tá và ông
Nguyễn Văn Cực đại diện Ban quản lý Tập đoàn sản xuất ấp N. Bên B do
ông Trần Ngọc Trứ đại diện Tổ đầu tư điện trạm bơm ấp N.
Nội dung chỉ khai thác, nạo vét đường nước để phục vụ cho các điện tích
cho toàn vùng. Như vậy, ông Trứ là người đại diện Tổ đầu tư điện trạm bơm ấp N
chứ ông Trứ không phải là người đầu tư hạ điện, khi ông Trứ không còn làm thì bàn
giao cho ông Phạm Văn Niệm, ông Niệm làm nhiệm vụ như ông Trứ.
C/ DIỄN BIẾN XẢY RA TRANH CHẤP:
Tại hợp đồng kinh tế không số, chỉ có xác nhận ngày 22/6/2001. Bên A -
Nguyễn Văn Mẫm - Tập đoàn trưởng; Phạm Long Hải - Kế toán. Bên B - Phạm
Văn Niệm, được xác nhận của UBND xã A do ông Đào Hoàng Thọ ký. Nội dung
giao kết hợp đồng : Bên A giao cho bên B bơm nước cụ Đông Xuân 2000 đến Hè
Thu năm 2002. Như vậy, hợp đồng này giữa đại diện tập đoàn với người kinh doanh
dòch vụ bơm nước chứ chưa có một hợp đồng nào đại diện tập đoàn hoặc chủ kinh
doanh dòch vụ bơm nước ký hợp đồng với tập đoàn viên.
Đến vụ Đông Xuân năm 2002-2003, thì tại cuộc họp ngày 06/11/2002
đại hội tập đoàn viên, biên bản ghi về việc bình nghò giá cả nhưng thực chất
tập đoàn viên trong cuộc họp này đưa ra đấu giá, do đó trong cuộc họp nhiều
tập đoàn viên phê phán ông Niệm là người bơm nước vừa qua không tốt mà
vẫn còn thu lệ phí nước cao, do đó đề nghò thu phí thấp xuống. Ông Niệm
không đồng ý thì ông Chinh là tập đoàn viên mà cũng là người khai thác và
phục vụ bơm nước của những tập đoàn trên, trước khi hạ điện, để ông tiếp tục
phục vụ giá 35kg lúa/1.000m
2
, đến khi ông Phạm Văn Niệm phát biểu lần 2
là ông từ chối phục vụ tiếp dù giá cả bao nhiêu cũng không tiếp tục thực hiện
báo ý kiến của UBND huyện về việc đấu giá bơm nước ở đường nước ấùp N, xã
A. Nội dung, UBND huyện có đề cập đến đối tác mới tham gia đấu giá về mức
thu dòch vụ bơm nước có thấp hơn trước đây, đó là mặt tích cực, tuy nhiên theo
nhận xét của UBND huyện là đối tác mới không đủ năng lực, điều kiện để hoạt
động loại hình dòch vụ này. Lý do chưa trang bò các phương tiện cần thiết như
bơm, môtơ . . . Mặt khác, lưới điện đang là chủ sở hữu của chủ máy cũ nên
phục vụ bơm nước bằng máy nổ thì không phù hợp với chủ trương chung của
huyện.
Đối với chủ dòch vụ bơm nước đang phục vụ, nông dân có phản ảnh
không đảm bảo phục vụ tốt, vấn đề này cần chú ý. Mặt dù, văn bản ghi nhận
là hợp đồng kinh tế, trong thực tế đây là hợp đồng dân sự và chưa xảy ra việc
tranh chấp dân sự giữa chủ máy và hộ dân sản xuất ở diện tích nói trên, nên
chưa đủ cơ sở chấm dứt hợp đồng.
- Để giải quyết tốt trường hợp này, UBND huyện chỉ đạo UBND xã A
nên giữ nguyên hiện trạng cho chủ cũ tiếp tục thực hiện hợp đồng, không tách
ra hai chủ máy bơm nước.
Làm việc với chủ dòch vụ áp dụng khung giá theo công văn hướng
dẫn số 425/UB-NN ngày 31/10/2002 của UBND huyện về việc tổ chức thực
hiện các dòch vụ thủy lợi phục vụ sản xuất nông nghiệp năm 2003.
- Ngày 16/11/2002 Ban nhân dân ấp N, xã A có 02 biên bản làm việc
với một số người làm công cho ông Luật và ông Đông, tạm ngưng đặt máy
bơm nước.
7
- Ngày 18/11/2002 UBND xã A có biên bản về việc Đại hội tập đoàn
viên, giải quyết hợp đồng máy bơm nước khu vực Tập đoàn 5, 6, 7 có danh
sách 49 tập đoàn viên.
- Ngày 22/11/2002 UBND huyện X có công văn số 456/UB-HC về
việc trả lời tờ trình số 187 của UBND xã A.
Căn cứ ý kiến chỉ đạo tại công văn số 439/UB-HC ngày 13/11/2002,
UBND huyện khẳng đònh:
03/12/2002 của UBND xã A. Đến ngày 06/12/2002 UBND xã có biên bản trao
quyết đònh cho ông Đinh Văn Chinh và ông Đặng Văn Đông và biên bản đối
thoại trực tiếp với các hộ dân.
- Ngày 07/12/2002 UBND xã A có biên bản về việc tháo gở máy tập
thể tập đoàn viên 5, 6, 7 cũ, ấp N thuộc quyền sở hữu của ông Chinh và ông
Đặng Văn Đông để thực hiện Quyết đònh số 204/QĐ-UB ngày 03/12/2002 của
UBND xã A.
Sau đó, một số hộ dân của tập đoàn 5,6,7 (cũ) không thống nhất cách
giải quyết của đòa phương, khiếu nại đến UBND tỉnh.
Ngày 10/12/2002 UBND tỉnh Đồng Tháp ra Quyết đònh số 169/QĐ-
UB-NĐ về việc thành lập đoàn thanh tra kiểm tra giải quyết khiếu nại của
các hộ dân về đường điện, đường nước tại xã A, huyện X, tỉnh Đồng Tháp.
B/ PHÂN TÍCH XỬ LÝ TÌNH HUỐNG VỤ VIỆC:
Như phần diễn biến tình huống đã nêu cho thấy vụ việc khiếu nại của
các hộ dân rất gay gắt, do đòa phương xem xét giải quyết chưa thấu tình đạt
lý, không cho anh Đông và ông Chính thực hiện bơm nước, theo nguyện vọng
của đa số tập đoàn viên. Mặt khác máy bơm nước do các tập đoàn viên góp
vốn, nhưng đòa phương giải quyết cho ông Niệm tiếp tục hoạt động bơm nước,
gây bất bình trong nhân dân.
Được cơ quan thẩm quyền cho phép thành lập đoàn thanh tra làm rõ sự
việc và với quyết tâm và tinh thần thái độ công tâm, khách quan, bảo vệ lẽ
phải cuối cùng việc khiếu nại của các hộ dân được khôi phục quyền lợi vật
chất và những cán bộ có liên quan tùy mức độ vi phạm mà xử lý nghiêm
minh.
Do sự việc có liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành, rất phức tạp, để có
chứng cứ tham mưu đề xuất chính xác đúng pháp luật điều cần thiết là phải
xác đònh phân tích sự kiện chính, phân tích các sai phạm diễn biến sự việc,
nguyên nhân hậu quả của sự việc. Từ đó, có hướng xây dựng và lựa chọn
phương án tốt nhất.
1/ Phân tích, đánh giá nội dung của vụ việc:
huyện X còn xem nặng về thời gian của hợp đồng, ông Trần Ngọc Trứ là 10
năm (1997-2007), mà thực chất là hợp đồng vô hiệu.
Từ các cơ sở trên, xác đònh hợp đồng này là hợp đồng vô hiệu và cần
phải được xử lý về mặt vật chất đối với hợp đồng vô hiệu.
Do vậy, việc bảo vệ cho ông Niệm tiếp tục thực hiện hợp đồng bơm
nước theo hợp đồng kinh tế trên là không có cơ sở.
* Về chi phí đầu tư:
10
Việc UBND huyện X ra công văn số 439/UB-HC, ngày 13/11/2002, ý
kiến của UBND huyện về việc đấu giá bơm nước ấp N, xã A và công văn số
156/UB-HC, ngày 22/11/2002, về việc trả lời tờ trình số 187 của UBND xã A
cho rằng thời gian hợp đồng dòch vụ bơm nước của ông Niệm chưa hết hạn và
ông Niệm đã đầu tư vốn khá nhiều vào tuyến điện trung thế để mở dòch vụ
bơm nước điện đang phục vụ tổng diện tích trên 320 ha, do đó không thể tách
ra hai chủ dòch vụ bơm nước, sự việc này cần xem xét lại vì:
- Nếu căn cứ hợp đồng kinh tế năm 1997 của ông Niệm là hợp đồng
vô hiệu, không đúng quy đònh của pháp luật, do vậy thời hạn cũng chấm dứt.
- Nếu căn cứ vào vốn đầu tư vào tuyến điện trung thế để mở dòch vụ
bơm điện, theo ý kiến của ông Niệm trình bày tại biên bản ngày 12/11/2002
là ông đồng ý bán hết đường dây điện phục vụ thắp sáng và đường dây bơm
điện với nguyên giá ban đầu 450.000.000 đồng là không hợp lý. Cụ thể như :
Tổng giá trò vốn đầu tư đường điện trung thế, hạ thề hỗn hợp 03
bình 25KVA, chi phí bồi hoàn, nhánh rẽ số tiền là: 329.049.289 đồng và chi
phí hạ trạm bơm điện là :104.181.000 đồng (theo bảng kê khai chi phí của
ông Trứ), tổng chi phí hai khoản trên là : 433.230.289 đồng. Về thu hồi vốn
qua kiểm tra được biết thu tiền đầu tư điện các hộ dân từ năm 1996 -2002, số
tiền là: 388.250.000 đồng và thu bán tải điện 50.000.000 đồng. Tổng hai
khoản thu trên là :438.250.000 đồng, chưa tính tiền thu điện ánh sáng cao hơn
quy đònh là 38.724.480 đồng và 288 tấn lúa.
Như vậy, so sánh số tiền thu kinh doanh điện ánh sáng chênh lệch
b/ Việc giải quyết của UBND huyện X:
Khi xảy ra tranh chấp, UBND huyện chủ trì cuộc họp ngày
02/12/2002 tại biên bản số 35, các ngành huyện tham gia giải quyết chưa đạt
tình thấu lý do ý kiến kết luận của đồng chí Chủ tòch UBND huyện chỉ đạo
cho ông Niệm tiếp tục dòch vụ bơm nước theo hợp đồng. Do đó, chỉ đạo
UBND xã A ra Quyết đònh hủy bỏ kết quả Đại hội tập đoàn viên ngày
06/11/2002 của Tập đoàn 5, 6, 7, ấp N, xã A. Chính từ chỉ đạo này, có một số
điểm chưa phù hợp và đảm bảo theo quy đònh của pháp luật, đồng thời UBND
huyện báo cáo nội vụ trên về tỉnh không xác thực tế làm cho việc tranh chấp
trở nên gay gắt và phức tạp hơn. Mặt khác, trong các đường nước này có 09
cổ phần hùn là cán bộ, do đó cách xử lý không dân chủ.
- Mặc dù, cuộc họp ngày 06/11/2002 chỉ có 36hộ/136hộ tập đoàn
viên
tham gia Đại hội (chiếm 26,5%) là chưa đảm bảo về điều kiện để tiến hành
đại hội. Tuy nhiên, nội dung đại hội đảm bảo phù hợp pháp luật và nhu cầu
phát triển đời sống sản xuất.
Do vậy, lẽ ra khi phát hiện cấp ủy và UBND xã phải có lãnh đạo, cử cán
bộ hướng dẫn Đại hội lại theo quy đònh của pháp luật và quy chế dân chủ cơ sở.
- Về giá dòch vụ bơm nước:
12
Mặc dù, hiện tại tỉnh chưa ban hành bảng quy đònh khung giá và có
giao cho các huyện, thò căn cứ vào tình hình thực tiễn đòa phương ban hành
quy đònh giá trần phục vụ nông nghiệp phải đảm bảo khi đấu thầu có lợi cho
người sản xuất và mang tính tham khảo.
Ở đây, UBND huyện X có ban hành giá trần đối với khu vực này là
37 kg lúa/1.000m
2
.
Ngày 23/5/1997, UBND tỉnh có ban hành Quyết đònh số :32/QĐ-UB,
về việc ban hành quy đònh về quản lý và khai thác các công trình bờ bao,
Tóm lại, việc UBND xã A, trên cơ sở ý kiến chỉ đạo của huyện ra
Quyết đònh hủy bỏ kết quả Đại hội tập đoàn viên là chưa phù hợp với chủ
trương chung và pháp luật của Nhà nước về quy chế dân chủ cơ sở, chủ
trương kinh tế hợp tác và quy trình đấu thầu nhằm hạ giá thành sản xuất trên
một đơn vò diện tích, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất và có lợi cho
người dân.
2/ Nguyên nhân và hậu quả của tình huống:
a/ Nguyên nhân:
Tập trung một số nguyên nhân chủ yếu sau:
- UBND xã A, UBND huyện X có lúc có nơi chưa thực hiện hết
chức năng quản lý Nhà nước của cấp mình về đường điện, các dòch vụ bơm
nước chưa đúng quy đònh !
- Quy chế dân chủ cơ sở chưa thực hiện đồng bộ, từ đó dẫn đến
khiếu kiện gay gắt trong nhân dân.
- Các cổ phần tham gia "Tổ hợp tác" đường điện, đường nước chưa chấp
hành nghiêm quy đònh của pháp luật; thiếu kiểm tra để một số cá nhân lợi dụng tín
nhiệm thu và chiếm dụng tiền của nhân dân, biểu hiện tư lợi cá nhân.
b/ Hậu quả:
- Về kinh tế ảnh hưởng đến sản xuất.
- Gây tác động xấu về mặt xã hội, dân khiếu kiện đông người đến
cấp tỉnh ảnh hưởng tới lòng tin của nhân dân đối với Nhà nước.
3/ Xây dựng phương án xử lý tình huống:
Từ phân tích nguyên nhân của việc khiếu nại và hậu quả của tình huống.
Việc UBND xã A và UBND huyện X giải quyết bác đơn khiếu nại của
các hộ dân Tập đoàn 5, 6, 7 tranh chấp đường điện, đường nước tưới tiêu với
ông Phạm Văn Niệm đại diện cho 09 thành viên đa số là cán bộ; giữ nguyên
hiện trạng cho ông Phạm Văn Niệm tiếp tục hoạt động bơm nước tại Tập
đoàn 5, 6, 7 với lý do là:
- Thời gian hợp đồng với UBND xã A chưa hết hạn và đầu tư đường
điện, đường nước số tiền là: 450.000.000 đồng. Nếu ông Đông và ông Chinh
Phân tích nội dung, nguyên nhân và hậu quả của tình huống. Tôi xin
đề xuất các phương án xử lý vấn đề trên như sau:
a/ Phương án 1:
- Kiểm điểm làm rõ trách nhiệm, xử lý kỷ luật cán bộ có liên quan
trực tiếp làm sai đẫn đến bắt người, đồng thời trả máy bơm hước mà UBND
xã A đã giữ lại cho tập thể nhân dân Tập đoàn 5, 6, 7.
- Về dòch vụ bơm nước: Giữ nguyên cho ông Phạm Văn Niệm "Tổ
hợp tác" tiếp tục hoạt động tưới tiêu trên diện tích 170 ha của 163 hộ, nhưng
15
mức giá giảm xuống bằng mức giá mà tập thể nhân dân trước đây đã thống
nhất cho ông Niệm phục vụ là 35 kg lúa/1.000m
2
.
- Chi trả 148.211.829đ cho Tổ hợp tác do ông Niệm làm Tổ trưởng.
* Ưu điểm:
+ Xử lý kỷ luật cán bộ được quần chúng đồng tình.
+ Trả máy lại cho tập thể là phù hợp với quy đònh của pháp luật.
+ Giữ cho ông Niệm tiếp tục phục vụ bơm nước, đảm bảo ổn đònh
việc xuống giống sản xuất diện tích 170 ha vụ Đông Xuân 2002-2003 của Tập
đoàn 5, 6, 7.
+ Trả tiền cho Tổ hợp tác là đúng với chủ đầu tư về thủ tục hợp
đồng hạ thế điện.
* Khuyết điểm:
+ Tâm lý của nhân dân không đồng tình, vì mấy năm trước đây
ông Niệm "Tổ hợp tác" phục vụ tưới tiêu chưa tốt cho việc sản xuất.
+ Không đán ứng được nguyện vọng chung, lâu dài của nhân dân
Tập đoàn 5, 6, 7. Vì trước khi xảy ra tranh chấp nhân dân họp bàn thống nhất
cho ông Niệm phục vụ bơm nước giá 35 kg lúa/1.000m
2
. Nhưng ông Niệm
- Giao dòch vụ bơm nước cho tập thể nhân dân quản lý hoạt động tưới
tiêu là chưa đủ tư cách pháp nhân về hoạt động sản xuất kinh doanh. Mặt khác,
tại cuộc họp ngày 06/11/2002, số tập đoàn viên tham gia quá ít chỉ có 36/136 hộ
tham gia dự cuộc họp Đại hội tập đoàn viên (chiếm 25%) chưa đảm bảo về điều
kiện tiến hành Đại hội để quyết đònh cho phương án sản xuất kinh doanh.
- Việc trả tiền cho dân là phù hợp nhưng gặp khó khăn trong việc
chi trả đúng đối tượng (do sổ sách thất lạc). Hơn nữa, chi tiền cho dân vận
động góp lại để sửa chữa đường điện đang bò xuống cấp sẽ khó khăn hơn.
c/ Phương án III:
- Kiểm điểm làm rõ trách nhiệm, xử lý kỷ luật cán bộ có liên quan
trực tiếp làm sai đẫn đến bắt người; đồng thời trả máy bơm hước mà UBND
xã A đã giữ lại cho tập thể nhân dân Tập đoàn 5, 6, 7.
- Thu hồi các trạm biến áp (75 KVA và 160 KVA), các đường nước
có nguồn gốc của tập thể nhân dân (Tổ hợp tác) đang sử dụng (tại Tập đoàn
5, 6, 7) giao cho UBND xã A quản lý đưa ra tổ chức Đại hội dân, chọn đối tác
để thực hiện phục vụ tưới tiêu theo đúng quy đònh của pháp luật.
- Chi 148.211.829 đồng giao cho UBND xã A tổ chức Đại hội dân
sửa chữa 02 nhánh rẽ đường điện hạ thế nhằm đảm bảo an toàn kỹ thuật về
điện và bàn giao toàn bộ đường điện này cho Điện lực quản lý.
* Ưu điểm:
+ Xử lý kỷ luật cán bộ được quần chúng đồng tình.
17
+ Trả máy lại cho tập thể nhân dân là phù hợp theo quy đònh pháp luật.
+ Giao cho UBND xã đưa ra Đại hội dân chọn đối tác phục vụ tưới
tiêu là đúng theo quy đònh, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân, là cong
bằng dân chủ.
+ Giao tiền 148.211.829 đồng cho UBND xã A đưa ra lấy ý kiến
nhân dân sửa chữa lại 02 nhánh rẽ của đường điện đang bò xuống cấp, chưa
đảm bảo an toàn kỷ thuật về điện và bàn giao cho Điện lực quản lý phù hợp
với quy đònh của pháp luật.
PHẦN III
KẾT LUẬN - KIẾN NGHỊ
1/ Kết luận:
a/ Về chủ trương:
Thực hiện chủ trương chung của huyện X, phát triển điện khí hóa
nông thôn nhằm phục vụ sản xuất và sinh hoạt cho nhân dân, Đảng ủy,
UBND xã A không có Nghò quyết đưa ra bàn bạc về chủ trương đầu tư đường
điện trung hạ thế và các trạm bơm nước Tập đoàn 5, 6, 7. Quá trình thực hiện
09 cổ phần (do ông Niệm làm Tổ trưởng) sử dụng con dấu của UBND xã để
ký hợp đồng thi công đường điện, việc này Đảng ủy, HĐND, UBND xã A
không quản lý, kiểm tra và giám sát quá trình thực hiện.
b/ Về thủ tục thành lập:
- Về thủ tục, Tổ hợp tác thực hiện không đúng trình tự thủ tục theo
quy đònh của pháp luật tại Điều 120 Bộ luật Dân sự năm 1995.
- Việc góp vốn của từng thành viên trong cổ phần không có biên bản
góp vốn của từng cổ phần, không có hợp đồng hợp tác, không có chứng từ thu
tiền, không có sổ sách theo dõi việc thu chi. . . do đó không đủ cơ sở pháp lý
để chứng minh việc góp vốn của 09 cổ phần để đầu tư đường điện để sử dụng
cho việc sinh hoạt dòch vụ bơm nước. Việc đầu tư đường điện và các trạm
bơm, đường nước phần lớn là thu tiền công sức của dân.
2/ Kiến nghò :
1/ Kiến nghị Tỉnh ủy, UBND tỉnh chỉ đạo cho Huyện ủy, UBND huyện
X tổ chức phê và tự phê, nhằm phát huy ưu điểm và kiểm điểm các cán bộ
thuộc thẩm quyền có liên quan ( theo danh sách 09 cổ phần) với các sai phạm,
cụ thể như: Chưa gương mẫu chấp hành đúng quy định pháp luật một số trường
hợp sau:
- Thủ tục: Tổ hợp tác thực hiện hoạt động chưa đúng trình tự, thủ tục
theo quy đònh pháp luật, chưa đúng theo Điều 120 Bộ luật Dân sự công bố
ngày 09/11/1995.
- Việc đầu tư hai nhánh rẽ: Năm 1996, Tổ hợp tác tự đầu tư chưa được
thủy lợi phí) cho ngân sách xã.
+ Ông Trần Văn Minh nộp số tiền là 18.999.730 đồng (do thu tiền
điện KWH cao hơn giá khoán của Tổ hợp tác) cho ngân sách xã, đưa ra Đại
hội dân, cải tạo sửa chữa lưới điện hạ thế. . .
+ Ông Nguyễn Tấn S nộp 12.800 kg lúa (nợ dòch vụ thủy lợi phí) nộp
cho ngân sách xã.
+ Ông Phạm Văn Niệm nộp 7.283 kg lúa (nợ dòch vụ thủy lợi phí)
nộp cho ngân sách xã.
20
5/ Kiểm điểm Chủ tòch UBND xã A về việc ban hành Quyết đònh số
202/QĐ-UB ngày 03/12/2002 về việc hủy bỏ Đại hội tập đoàn viên ngày
06/11/2002./.
21