Nguyễn V n Hng Lớp bồi d ỡng kiến thức QLNN ch ơng trình chuyên viên
Phần I - Đặt vấn đề
Phòng GD - ĐT có chức năng tham mu và quản lý nhà nớc về lĩnh vực
GD - ĐT, chịu trách nhiệm trớc Sở GD - ĐT và UBND cùng cấp về toàn bộ
công tác GD - ĐT trên địa bàn.
Các trờng mầm non là đơn vị cơ sở của giáo dục mầm non trong hệ thống
giáo dục quốc dân. Trờng đảm nhận việc nuôi dỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ
hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1.
Trờng MN do Phòng GD - ĐT quản lý và chỉ đạo trực tiếp một cách toàn
diện, trong đó có công tác tổ chức cán bộ.
Thành phố Bắc Ninh có 23 trờng mầm non, trong đó có 2 trờng quốc lập,
1 trờng thuộc khối cơ quan, 2 trờng t thục và 18 trờng bán công.
Tổng số cán bộ giáo viên có 461, trong đó có 55 cán bộ quản lý, 330 giáo
viên và 76 cô nuôi dỡng. Có 79/461 = 17,1% CBGV trong biên chế nhà nớc,
hợp đồng lao động = 82.9%
Đối với công tác tổ chức cán bộ, dù trong biên chế hay hợp đồng đều
phải có đủ tiêu chuẩn quy định tại chơng IV giáo viên cụ thể từ điều 29 35
(điều lệ trờng mầm non) của Bộ GD - ĐT ban hành
Với đặc điểm của các trờng mầm non, chủ yếu là dân lập và bán công,
nên giáo viên chủ yếu là hợp đồng, chế độ lơng của giáo viên mầm non hợp
đồng là từ nguồn thu học phí của học sinh trong trờng và chế độ, chính sách hỗ
trợ theo Quyết định số 77/QĐ-UBND ngày 29/5/2008 của UBND tỉnh về Chế
độ hỗ trợ đối với bậc học MN trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh để trả. Hàng năm,
hiệu trởng các trờng có trách nhiệm lên kế hoạch dự toán thu chi và bảo đảm
chế độ tháng ổn định cho CBGV trong trờng của mình.
Với sự phân cấp về công tác TCCB, phòng GD - ĐT quy định đối với các
trờng mầm non khi tuyển hợp đồng lao động phải thực hiện quy trình sau:
- Ngời xin việc phải nộp hồ sơ xin việc về bộ phận TCCB của phòng (để
kiểm tra các yêu cầu có đáp ứng với công việc định làm hay không).
- Trờng mầm non có nhu cầu tuyển hợp đồng thêm về lao động sẽ báo với
bộ phận tổ chức cán bộ về số lợng và các yêu cầu đối với ngời lao động định
trình độ đào tạo 76% trung cấp s phạm mầm non (chủ yếu đợc đào tạo tại chức).
Với các yếu tố trên góp phần tạo ra sự hạn chế về nhiều mặt trong đội
ngũ CBGV mầm non nói chung, trong đó có đội ngũ mầm non ở Thành phố.
Quản lý trờng mầm non với đội ngũ nh đã trình bày, đòi hỏi ngời hiệu tr-
ởng phải có đủ năng lực về mọi mặt nh quy định của điều lệ trờng mầm non,
ngoài ra còn phải hết sức nhạy cảm trong vấn đề sử dụng lao động ở trờng
mình.
Từ thực tế quản lý, tôi xin trình bày tiểu luận với đề tài Xử lý vụ Hiệu tr-
ởng có quyết định sai trong việc chấm dứt hợp đồng lao động đối với giáo viên
Phần II - Nội dung
1- Mô tả tình huống: Hiệu trởng có quyết định sai trong việc chấm dứt
hợp đồng lao động.
Vào một buổi sáng tháng 4/2009, đồng chí NTH hiệu trởng trờng mầm
non bán công T lên gặp đồng chí trởng phòng và đồng chí phụ trách TCCB của
2
Nguyễn V n Hng Lớp bồi d ỡng kiến thức QLNN ch ơng trình chuyên viên
phòng trình bày việc : chấm dứt hợp đồng lao động với cô N.T.N giáo viên hợp
đồng của trờng (tôi không tiện nêu tên cụ thể)
Câu chuyện diễn ra nh sau:
Tháng 3 năm 2004, cô N.T.N có trình độ trung cấp s phạm mầm non, là
giáo viên đã hết hợp đồng ở trờng mầm non H.S (trong TP), đợc đồng chí phó
trởng phòng phụ trách bậc học mầm non giới thiệu (không có văn bản) về trờng
mầm non T để liên hệ xin dạy hợp đồng (trờng T đang thiếu giáo viên). Đồng
chí hiệu trởng trờng T đã nhận và thoả thuận (cũng không có văn bản) với cô N.
Cô phải dạy thử 2 tháng, nếu đợc theo yêu cầu thì trờng sẽ hợp đồng, nếu
không sẽ chấm dứt hợp đồng. Với tiền lơng là 300.000đ/tháng (thấp hơn so với
các giáo viên khác là 50.000)
Cô N đồng ý và dạy tại một lớp khu lẻ của trờng. Hết năm học cô N đợc
xếp lơng 350.000đ/tháng (tơng đơng với các giáo viên khác của trờng). Cô N
công tác ở đó từ tháng 3/2004 đến tháng 4/2009 thì đồng chí hiệu trởng lên đề
s phạm mầm non, lên Tp tìm việc làm, trờng mầm non T là trờng thứ 3 ở thành
phố N đến làm việc.
Các trờng mầm non có 1 số dạng hợp đồng lao động sau:
- Hợp đồng từ 3- 4 tháng (thay cho ngời nghỉ sinh con)
- Hợp đồng dài hạn (có tham gia bảo hiểm xã hội)
Thu nhập của cô N hàng tháng hiện nay đợc từ 700.000 900.000đ.
Chồng N đi làm bảo vệ cho 1 cơ quan trong thành phố, lơng 700.000đ/tháng.
Với mức thu nhập đó, gia đình N quả thật là rất khó khăn, chật vật trong cuộc
sống. Và giờ đây N lại bị mất việc làm. Trớc hiện thực đó, N phải làm gì để giải
quyết cuộc sống gia đình mình ổn định.
2- Phân tích tình huống
Trong tình huống trên, tôi thấy có 4 vấn đề cần đặt ra nghiên cứu và giải
quyết đó là:
- Vấn đề thứ nhất: Việc chấp hành, thực hiện những quy định của ngành
ở đồng chí hiệu trởng trờng mầm non T cha nghiêm túc.
Điều đó thể hiện qua quá trình tiếp nhận và hợp đồng lao động với cô N
làm giáo viên của trờng cha đúng quy trình mà phòng quy định. Sau khi thử
việc, đồng chí nhận cô N về hợp đồng giảng dạy tại trờng, khi chấm dứt hợp
đồng lao động với cô N, đồng chí hiệu trởng không hề báo cáo với phòng, khi
cô N làm to chuyện, đồng chí mới đề nghị phòng giải quyết cho nhà trờng.
Điều đó là không đúng, bởi vì phòng không ra quyết định cho cô N đến
liên hệ hợp đồng lao động với trờng, cũng không hợp đồng lao động với cô N
cho trờng. Nên phòng không ra quyết định theo đề nghị của đồng chí hiệu trởng
trên.
Nguyên nhân dẫn tới vấn đề trên
- Thứ nhất là do đồng chí hiệu trởng còn coi nhẹ việc thực hiện quản lý
lao động theo quy định của ngành. Đồng chí cho rằng việc nhận giáo viên về
dạy hợp đồng khi thiếu và cho thôi việc khi trờng thừa giáo viên là vấn đề bình
thờng ở các trờng mầm non, vì số lợng giáo viên phụ thuộc vào sĩ số các cháu
tới lớp. Cho thôi việc đối với giáo viên hợp đồng thì không phức tạp về chế độ
Tại điều 28- bộ luật lao động hợp đồng lao động đợc ký kết bằng văn
bản và phải đợc làm thành 2 bản, mỗi bên giữ 1 bản.
Khi yêu cầu xem hợp đồng lao động của hai bên thì cô N nói sau 2
tháng thử việc cô Hiệu trởng vẫn cho cháu làm, tăng lơng cho cháu gần bằng
các cô giáo khác trong trờng. Nghỉ hè xong cô vẫn cho cháu làm việc tại trờng,
đến tháng 9/2004, cháu đợc tham gia đóng BHXH nên cháu nghĩ là mình đã đ-
ợc cô hiệu trởng cho làm chính thức ở đây và cũng không cần phải giấy tờ gì
cả!
Đối với cô N (đây là một hạn chế của ngời lao động, biểu hiện thiếu hiểu
biết về pháp luật nhà nớc (cụ thể là luật lao động), khi bình thờng thì không sao,
đến khi cần có hợp đồng bằng văn bản để bảo vệ quyền lợi cho chính bản thân
mình thì không có chứng cứ.
5
Nguyễn V n Hng Lớp bồi d ỡng kiến thức QLNN ch ơng trình chuyên viên
Đối với đồng chí hiệu trởng không thực hiện đúng luật lao động ở điểm:
sử dụng lao động dài hạn (5 năm) mà không làm hợp đồng bằng văn bản, chỉ
thoả thuận bằng miệng trong thời gian đầu, thời gian hợp đồng không rõ ràng,
chỉ thoả thuận thử việc trong 2 tháng, sau đó sử dụng tiếp nhng không thông
báo với cô N và kéo dài tình trạng đó trong 5 năm.
Khi đồng chí hiệu trởng tuyên bố chấm dứt hợp đồng lao động với cô N
trong tình trạng cô N đang mang thai 4 tháng, nh vậy là trái với luật lao động, vì
theo khoản 3 điều 111 (bộ LLĐ) ghi rõ : Ngời sử dụng lao động không đợc sa
thải hoặc đơn phơng chấm dứt hợp đồng lao động đối với ngời lao động nữ vì lý
do kết hôn, có thai, nghỉ thai sản, nuôi con dới 12 tháng tuổi, trừ trờng hợp
doanh nghiệp chấm dứt hoạt động.
Việc làm trên của đồng chí hiệu trởng đã dẫn đến những phản ứng gay
gắt của cô N.
Khi làm việc riêng với cô N, cô đã nói bây giờ cháu biết việc phản ứng
của cháu với cô hiệu trởng nh thế là sai. Nhng khi đó, cháu không nghĩ gì hơn
đợc nữa, mà chỉ biết rằng mình sắp mất việc làm, với 700.000đ lơng tháng của
đúng với hiệu trởng. Điều đó một phần là do sự hiểu biết về pháp luật cha đợc
sâu sắc, một phần là do không làm chủ đợc bản thân trong mọi mối quan hệ và
một phần là do hoàn cảnh khách quan đa lại.
Đối với đồng chí hiệu trởng: Ngoài những lý do đã nêu trên, để chấm dứt
hợp đồng với cô N, còn lý do nữa (Sau này mới nói ra) đó là: lo khi có một giáo
viên nh cô N thì cuối năm sẽ ảnh hởng tới thi đua của nhà trờng. Với ngời
CBQL ngoài việc quản lý ngời lao động bằng pháp luật, bằng các quy định của
ngành, còn cần cả tấm lòng của mình đối với ngời lao động.
Nếu trong trờng hợp này, đồng chí hiệu trởng hiểu hơn và mở rộng tấm
lòng mình đối với cô N hơn nữa thì sẽ không dẫn tới 1 loạt các phản ứng của cô
N gây ra đối với mình, và tôi tin rằng cô N nếu không nói ra lời cảm ơn, thì
trong suy nghĩ của cô, hẳn sẽ có lời đó đối với đồng chí hiệu trởng và trong
công tác chắc chắn cô sẽ làm việc tốt hơn.
3- Lựa chọn phơng án giải quyết
Với tình huống trên, theo tôi có 3 phơng án giải quyết sau:
- Phơng án 1:
Phòng GD-ĐT triệu tập cả 2 ngời về phòng làm bản kiểm điểm, tự kiểm
điểm trớc phòng, phòng chủ toạ cuộc họp phân tích những điểm đúng, điểm sai
của mỗi ngời và để công tác nh cũ.
- Phơng án 2:
Vẫn để cô N làm việc tại trờng T, sau thời gian ghỉ sinh con theo quy
định của luật lao động (12 tháng) phòng đồng ý cho đồng chí hiệu trởng chấm
dứt hợp đồng lao động với cô N.
- Phơng án 3:
Phòng chấp nhận việc tham gia đóng BHXH của cô N nh một hợp đồng
dài hạn. Hớng dẫn hiệu trởng làm bản hợp đồng lao động cho cô N, sẽ thuyên
chuyển cô N đến dạy ở một trờng mầm non khác trong thành phố.
*Với phơng án 1:
-Ưu điểm: Lấy hoà giải là chính, giải quyết nội bộ, có thời gian để cả hai
hiểu nhau và cùng độ lợng với nhau, để cùng sửa chữa khuyết điểm.
khó khăn ban đầu và dần dần ổn định trong cuộc sống.
Phần III Kết luận
Qua tình huống trên, cho chúng ta một bài học: Dù ở bất kỳ lĩnh vực nào,
cấp nào cũng không thể buông lỏng sự quản lý của nhà nớc đợc.
Tất cả các quy định, quy chế của cơ quan, của ngành, bộ luật của nhà nớc
mọi ngời đều phải nghiêm túc thực hiện đúng.
Đối với ngời cán bộ quản lý, ngoài việc tuân thủ theo những quy định của
văn bẳn, còn cần phải năng động, có khả năng vận dụng thích ứng với đơn vị
mình, cần phải thờng xuyên quan tâm sâu sát với ngời lao động để hiểu rõ hoàn
cảnh, tâm t, nguyện vọng của họ, từ đó có những quyết định đúng.
8
Nguyễn V n Hng Lớp bồi d ỡng kiến thức QLNN ch ơng trình chuyên viên
Pháp luật lao động quy định quyền và nghĩa vụ của ngời lao động và ngời
sử dụng lao động các tiêu chuẩn lao động, các nguyên tắc sử dụng và quản lý
lao động, góp phần thúc đẩy sản xuất, vì vậy, có vị trí quan trọng trong đời sống
xã hội và trong hệ thống pháp luật của quốc gia.
Vì vậy, các cấp, các ngành nên thờng xuyên tuyên truyền cho CBCNV
LĐ của đơn vị mình nắm vững, thông hiểu để vận dụng vào cuộc sống nh một
phơng tiện để thực hiện nghĩa vụ và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình trong
quan hệ lao động. Đồng thời, hiểu luật pháp, ngời lao động sẽ tự chủ, tự tin hơn
trong lao động, sáng tạo, tích cực phấn đấu để tiến bộ và phát triển, nhằm nâng
cao hiệu quả trong sử dụng và quản lý lao động, góp phần thực hiện CNH
HĐH đất nớc, vì mục tiêu Dân giàu, nớc mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn
minh.
Ngời thực hiện
Nguyn Vn Hng
9