LỜI NÓI ĐẦU
Nhà nước là chủ thể đại diện đương nhiên trong xã hội có giai cấp thực hiện vai
trò quản lý (cai trị) và cung ứng dịch vụ công cộng cho xã hội công dân. Để quản lý
mọi mặt của xã hội, nhà nước sử dụng các công cụ hỗ trợ như: pháp luật, kế hoạch,
chính sách,... nhằm định hướng, điều tiết, bảo đảm và bảo vệ các quan hệ xã hội theo
định hướng đã đặt ra. Trong đó, công cụ pháp luật được coi là công cụ hữu hiệu do
nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện bằng quyền lực nhà nước. Tuy nhiên, những
hạn chế về năng lực, khả năng xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật và tổ
chức thực hiện của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền không những không đảm
bảo được mục tiêu mà nhà nước đặt ra mà còn gây tác động xấu đến các quan hệ xã
hội thuộc đối tượng điều chỉnh của nó.
Thực trạng hoạt động chấp hành và điều hành của cơ quan hành pháp trong điều
kiện của nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế ở Việt Nam hiện nay, phản ánh khả
năng, kỹ năng và năng lực trong việc tổ chức thực hiện các nhiệm vụ được nhà nước
giao trên các mặt, các lĩnh vực quản lý còn hạn chế, như: Điều tiết, định hướng, hoạch
định để bảo vệ thị trường còn mang tính đối phó; bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp
của chủ thể hay duy trì trật tự, kỷ cương còn yếu và kém nên hiệu quả chưa cao. Đặc
biệt, khi triển khai thực hiện Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện những
cam kết khung của Công ước quốc tế nhằm cắt giảm thuốc lá ở Việt Nam, trong đó có
việc cấm hút thuốc lá nơi công cộng, công sở,... cho thấy năng lực và khả năng thực tế
của các cơ quan quản lý nhà nước. Bởi, sau gần 1 tháng thực hiện, nhưng tình hình hút
thuốc vẫn không có sự chuyển biến ở những nơi nhạy cảm như: công sở, nhà ga, bến
xe, bệnh viện, trường học,... Điều này phản ánh hiệu quả thực thi các văn bản quy
phạm pháp luật trong thực tế còn thấp, chưa tạo được sự chuyển biến trong nhận thức
và ý thức tự giác chấp hành nghiêm minh của các chủ thể trong xã hội.
Để nâng cao hiệu lực thực thi của các văn bản quy phạm pháp luật trong thực
tế, đòi hỏi phải nâng cao khả năng ban hành và kỹ năng, biện pháp tổ chức thực hiện
của các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền, nhất là các lĩnh vực có liên quan
đến việc bảo đảm và bảo vệ sức khoẻ của con người trong giai đoạn hiện nay. Với
những lý do đó, tiểu luận lựa chọn vấn đề “Một số vấn đề về nâng cao hiệu lực,
1
vẫn diễn ra phổ biến mà không hề có lực lượng nào nhắc nhở hay xử phạt hành vi vi
phạm. Ngay cả ga TP. Hồ Chí Minh, nơi chờ lên tàu vẫn có nhiều người thản nhiên
2
hút thuốc. Đặc biệt, ngay cả nơi nhạy cảm với việc hút thuốc như bệnh viện vẫn tràn
ngập khói thuốc. Trong khuôn viên Bệnh viện Chợ Rẫy, một người đàn ông chừng 50
tuổi vừa “soi” tấm phim chụp X- quang vừa phì phèo thuốc lá. Ngay tại cổng khu vực
nhà xe có treo tấm biển lớn “Không hút thuốc trong khu vực nhà xe” nhưng chính
nhân viên trông giữ xe của Bệnh viện cũng điềm nhiên hút thuốc. Bước vào Bệnh
viện K, cơ sở điều trị bệnh nhân ung thư lớn nhất cả nước, ai cũng nhìn thấy ngay
tấm biển rất to với dòng chữ “Không hút thuốc lá”, kèm theo dòng phụ đề “Hút thuốc
lá là nguyên nhân chính gây ra bệnh ung thư”. Thế nhưng chỉ trong chưa đầy một giờ
quan sát tại khu vực ngồi chờ của người nhà bệnh nhân, chúng tôi đã gặp hàng chục
người đứng hút thuốc lá ngay dưới tấm biển “Cấm hút thuốc lá”. Thậm chí, một số
nhân viên y tế mặc áo blouse trắng cũng vừa đi vừa hút thuốc ngay trong khuôn viên
Bệnh viện....; Một điều đáng ngạc nhiên, khi chúng tôi đi qua một ngôi trường có bề
dày truyền thống hiếu học như Trường Chu Văn An, mặc dù có nhiều biển báo cấm
hút thuốc nhưng trong sân, ngoài cổng trường vẫn nghi ngút khói thuốc do các thầy
“xả tự nhiên” trước mặt biết bao nhiêu học sinh đang vui chơi trên sân trường. Khi
hỏi, Cô Hiệu phó cho biết: Đối với học sinh tuyệt nhiên không có hiện tượng hút
thuốc lá ở trong Trường vì đã phổ biến quy định cấm và xử lý hạ hạnh kiểm nếu vi
phạm, còn việc Thầy giáo hút thuốc trước học sinh thì còn chưa có quy định để xử lý
nên chỉ nhắc nhở các thầy nên hạn chế hút thuốc,...”[1]. Đây cũng chính là thực trạng
chung trong cả nước trong thời gian qua.
II. PHÂN TÍCH TÌNH HUỐNG
2.1. Cơ sở phân tích tình huống
Tình huống trên có thể được phân tích, đánh giá dưới nhiều góc độ, tiêu chí
khác nhau, chẳng hạn như: Căn cứ vào góc độ pháp lý có thể đánh giá về tình hình vi
phạm quy định của pháp luật của người dân, cán bộ, công chức, viên chức; dưới góc
Bên cạnh đó, các văn bản của Đảng và Nhà nước nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu
quả quản lý nhà nước như: Nghị quyết số 17-TW, Hội nghị lần thứ 5, Ban chấp hành
Trung ương Đảng khóa X ngày 1/8/2007 về “Đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng
cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước” và các văn bản quy phạm pháp
luật khác quy định về cải cách hành chính, phân cấp chức năng, nhiệm vụ, thẩm
quyền trong lĩnh vực y tế,...
2.2. Mục tiêu phân tích tình huống
4
Với những vấn đề mà diễn biến tình huống đề cập, có thể thấy hàng loạt câu
hỏi được đặt ra: Tại sao một văn bản của Chính phủ có sự chuẩn bị về thời gian và lộ
trình lại không được người hút thuốc lá, thuốc lào chấp hành nghiêm chỉnh? các cơ
quan có chức năng, nhiệm vụ tổ chức thực hiện và bảo đảm cho môi trường công
cộng không còn khói thuốc lại không thể làm gì được đối với các hành vi vi
phạm ?...là những câu hỏi cần phải được giải quyết một cách triệt để nhằm làm sáng
tỏ nguyên nhân của tình trạng hiệu lực, hiệu quả tổ chức thực hiện văn bản quy phạm
pháp luật của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền trong giai đoạn hiện nay.
2.3. Nguyên nhân và hậu quả của tình trạng trên
Tình huống chỉ ra một thực trạng thường thấy trong hoạt động quản lý nhà
nước nói chung và việc tổ chức thực hiện ở các lĩnh vực nói riêng, trong đó có lĩnh
vực y tế. Lý giải hiện tượng này, có thể đánh giá dựa trên các nguyên nhân khách
quan và chủ quan như:
Thứ nhất, nguyên nhân khách quan là những nhân tố không phụ thuộc vào ý
chí chủ quan của con người, có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến sự kém hiệu
quả của hoạt động tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật trong hoạt động
quản lý nhà nước về y tế. Về cơ bản:
Một là, do điều kiện của nền kinh tế thị trường đã tạo ra thị trường hàng hoá đa
dạng, nhất là thị trường các sản phẩm thuốc lá. Bên cạnh các sản phẩm thuốc lá trong
nước thì các sản phẩm thuốc lá ngoại nhập ngày càng tràn lan và có nhiều sản phẩm
văn bản quy phạm quy định về lộ trình cắt giảm tác hại thuốc lá ở Việt Nam như trên
đã trình bày, mặc dù do cơ quan quản lý cao nhất ban hành (Chính phủ, các Bộ và cơ
quan ngang bộ) nhưng hầu như vẫn mang tính chất chung chung, tính định hướng mà
chưa có quy định áp dụng cụ thể. Điều này tạo ra những kẽ hở trong quá trình chấp
hành và điều hành của chính quyền địa phương các cấp. Do vậy, hậu quả là tình trạng
hút thuốc lá nơi công cộng không được các cấp, ngành và địa phương tổ chức thực
hiện dẫn đến người hút cứ hút và không hề có biện pháp tác động nào từ phía cơ quan
hay người có thẩm quyền.
Hai là, hoạt động kiểm soát văn bản quy phạm pháp luật. Hoạt động kiểm soát
văn bản của Việt Nam hiện nay mang tính “hậu kiểm”-tức khi văn bản ra đời và tổ
chức thực hiện mới được cơ quan “Tư pháp” xem xét tính hiệu quả, hiệu lực và hợp
pháp, hợp hiến của văn bản. Do vậy, sự kiểm soát này rất khó trong thực tiễn khi văn
6
bản quy phạm lại do nhiều cơ quan thuộc các lĩnh vực khác nhau ban hành và tổ chức
thực hiện. Sự khó kiểm soát về thể thức, nội dung và tính khả thi của nó đã tạo ra hậu
quả là nhiều văn bản được ban hành nhưng không có sự kiểm soát, hoặc kiểm soát
một cách qua loa, đại khái,... dẫn đến khó thực hiện hoặc thậm chí gặp phải sự lên án
của dư luận (không thực thi được, đi ngược lại lợi ích của cộng đồng dân cư). Tình
trạng văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các Bộ về cấm hút thuốc lá
nơi công cộng trên đã chứng minh khả năng kiểm soát tính hiệu quả của văn bản
trong thực tế còn nhiều hạn chế. Do đó, khi văn bản có nhưng thiếu các quy định cần
và đủ để áp dụng các quy định này đối với người hút thuốc không chấp hành các quy
định của Nhà nước.
Ba là, năng lực tổ chức thực hiện và quản lý của Thủ trưởng các cơ quan nhà
nước, tổ chức chính trị-xã hội,... Năng lực tổ chức thực hiện của cơ quan quản lý nhà
nước và người có thẩm quyền các cấp, ngành và địa phương mà tình huống nêu lên
đã cho thấy nhiều vấn đề về tính chủ động, sáng tạo và năng lực tổ chức và quản lý
cụ thể. Chẳng hạn, nếu trong lĩnh vực giáo dục, từ Bộ trưởng Bộ giáo dục cho đến
thói quen lâu năm nên họ chỉ chủ yếu thoả mãn nhu cầu của mình mà bỏ qua những
người sung quanh và sức khoẻ của họ. Đây là một thói quen khó bỏ nhất là những
người thiếu niềm tin, ý chí và nghị lực. Nếu thói quen này không có sự tác động bằng
các biện pháp cứng rắn, như việc bắt buộc phải đội mũ bảo hiểm khi đi xe máy trong
lĩnh vực giao thông đường bộ thì cũng khó có thể hạn chế, kiểm chế và tiến tới ngăn
chặn được những tình trạng hút thuốc là của người nghiện.
2.4. Đánh giá tình huống
Như vậy, tình huống chỉ ra những động thái không đáng có trong hoạt động
quản lý nhà nước ở nước ta hiện nay. Điều này phản ánh tính hình thức trong phân
cấp chức năng, nhiệm vụ và tính mệnh lệnh hành chính “một chiều” thẳng đứng.
Thực tế, việc tổ chức thực hiện Nghị định của Chính phủ và Quyết định của Thủ
tướng Chính phủ trong lĩnh vực “cắt giảm tác hại của thuốc lá” thời gian qua đã
chứng minh việc phân công, phân cấp chỉ dừng lại ở việc “giao cho quyền hạn” mà
thiếu đi “tính trách nhiệm và phải chịu trách nhiệm” của cơ quan, người có thẩm
quyền hay sự thụ “động chờ” có văn bản thì làm còn không có văn bản thì thôi. Do
đó, tình trạng hút thuốc công khai không có người xử phạt, thậm chí những người có
khả năng xử phạt vi phạm hành chính thì là “nghiện thuốc” hoặc “ngại va chạm”....
Đánh giá vấn đề mà tình huống nêu có thể thấy:
8
Thứ nhất, đánh giá về hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hiện hành:
- Xét về mặt hình thức pháp lý trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật theo
Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 ở Việt Nam hiện nay thì các
văn bản do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành là các văn
bản mang tính chấp hành (văn bản dưới luật) các văn bản của cơ quan lập pháp (văn
bản luật) nên giá trị pháp lý của nó còn hạn chế. Nếu có Luật phòng, chống thuốc lá
thì có thể bảo đảm về tính thống nhất về hình thức pháp lý của văn bản sẽ cao hơn.
- Xét về nội dung quy định của các văn bản trên, tuy có văn bản quy định về
nội dung các hành vi sản xuất, quảng cáo, kinh doanh, buôn bán, tàng trữ và sử
hiệu lực, hiệu quả của nó còn có nhiều vướng mắc, khó khăn. Cụ thể:
Một là, công tác tổ chức tuyên truyền, phổ biến đã được tổ chức triển khai đa
dạng, dưới nhiều hình thức khác nhau như: Hệ thống Panô áp phích ghi “cấm hút
thuốc” tại các nơi công cộng hay “thuốc lá có thể gây ung thư”, “thuốc lá có hại cho
sức khoẻ”; các phương tiện thông tin đại chúng (báo hình, báo nói, báo viết) và các
cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị-xã hội; tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế,... đều tổ
chức các buổi sinh hoạt phổ biến về các quy định của Chính phủ,.. Như vậy, công tác
tuyên truyền, phổ biến để mọi người dân, cán bộ, công chức, viên chức biết được lộ
trình và quy định của Nhà nước về cấm hút thuốc lá được tiến hành trước ngày có
hiệu lực của văn bản nên được mọi người biết đến và có tác dụng sâu rộng. Tuy
nhiên, các buổi tuyên truyền và các hình thức phổ biến vẫn chỉ dừng lại ở việc “thông
báo” cho chủ thể biết ngày cấm hút thuốc mà không hề tuyên truyền, phổ biến về
hình thức xử lý vi phạm đối với cá nhân có hành vi vi phạm hay cơ quan có thẩm
quyền về xử phạt vi phạm hành chính trong hút thuốc lá nơi công cộng, công sở.
Hai là, công tác tổ chức thực thi bảo đảm môi trường công cộng không có khói
thuốc ở các đơn vị hành chính lãnh thổ theo khu vực đã được giới hạn “cấm hút
thuốc”. Tình huống trên chỉ ra một thực tế là người hút vẫn cứ hút, bỏ qua các biển
quảng cáo, Panô áp phích có quy định cấm. Thực tế, bản thân các chính quyền địa
phương trong phạm vi, quyền hạn của mình nhất là cấp tỉnh cần phải chủ động xây
dựng quy trình, thủ tục nhằm đảm bảo cho các quy định của Chính phủ đi vào thực tế
thì dường như không có cấp chính quyền nào có động thái này mà chỉ dừng lại ở việc
tuyên truyền, phổ biến là chính. Điều này dẫn đến một thực trạng các quy định không
những không được chấp hành thực hiện mà còn bị người dân “coi thường”. Có thể
thấy, không thấy bóng dáng của cơ quan, người có thẩm quyền áp dụng trình tự xử
10
phạt hành chính đối với những người vi phạm tại nơi công cộng, công sở mà thay vào
đó chỉ có lực lượng kiêm nhiệm của các cơ quan, tổ chức đứng ra để nhắc nhở người
vi phạm. Chẳng hạn tại xe Miền Tây nơi cấm hút thuốc lá nhưng nhân viên kiểm soát
nơi công cộng-tức là không để những nơi này có khói thuốc gây ảnh hưởng đến sức
khoẻ của con người. Để đạt được thì cần xây dựng giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực
của văn bản quy định hiện hành bằng hiệu quả hoạt động của cơ quan quản lý nhà
nước có thẩm quyền.
* Phương án 1: Phân loại đối tượng người hút thuốc để xây dựng biện pháp
xử lý.
- Mục tiêu của phương án: Đảm bảo xây dựng các biện pháp xử lý phù hợp với
từng loại đối tượng hút thuốc, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi của cơ quan nhà
nước có thẩm quyền.
- Nội dung thực hiện: Để thực hiện được phương án trên, cần tiến hành:
+ Xây dựng văn bản nhằm phân loại các đối tượng hút thuốc. Đối tượng là cán
bộ, công chức, viên chức trong các cơ quan nhà nước, đơn vị hành chính-sự nghiệp,
doanh nghiệp của nhà nước; đối tượng là nhân viên trong các tổ chức chính trị-xã hội;
tổ chức xã hội; đối tượng là nhân viên trong các tổ chức kinh tế (người lao động); đối
tượng là người khác.
+ Tiến hành xây dựng các biện pháp xử lý phù hợp: Đối với đối tượng hoạt
động trong các cơ quan nhà nước giao cho thủ trưởng cơ quan và đồng nghiệp theo
dõi, phát hiện và xử lý với hình thức xử lý theo trách nhiệm kỷ luật hoặc trừ lương;
đối với nhân viên trong các tổ chức thì giao cho thủ trưởng các cơ quan này phát
hiện, báo cho cơ quan có thẩm quyền ngoài các biện pháp có thể áp dụng theo Điều lệ
của tổ chức thì phải báo cho cơ quan có thẩm quyền (Thanh tra chuyên ngành hoặc
Uỷ ban nhân dân) để tiến hành xử phạt; đối với đối tượng khác có thể sử dụng biện
pháp vừa động viên vừa xử lý hành chính theo quy định hiện hành.
- Nguồn lực thực hiện phương án:
+ Cơ quan thực hiện: Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ cần xây dựng văn bản
quy phạm pháp luật chỉ đạo cho các bộ, ngành và địa phương chủ động xây dựng kế
hoạch và tổ chức thực hiện.
+ Kinh phí thực hiện: Do các bộ, ngành và địa phương tổ chức thực hiện xác
định cụ thể.
12
lý và các cơ quan được phân cấp tổ chức thực hiện.
13
+ Nguồn lực thực hiện phương án: Kinh phí chi cho các cơ quan theo sự phân
cấp ngân sách nhà nước.
IV. LỰA CHỌN PHƯƠNG ÁN GIẢI QUYẾT
Ba phương án nêu trên đều có những ưu điểm và hạn chế nhất định. Song, để lựa
chọn được phương án tối ưu nhằm giải quyết vấn đề trong quản lý nhà nước về môi
trường có thể so sánh các ưu, nhược điểm của mỗi phương án theo bảng sau:
PHƯƠNG ÁN
ƯU ĐIỂM
Phương án 1
Tạo ra tính chủ động trong việc
NHƯỢC ĐIỂM
Khó áp dụng các quy
xây dựng các biện pháp ngăn chặnđịnh xử phạt hành chính đối
cụ thể theo từng đối tượng áp dụngvới những đối tượng không
thuộc thẩm quyền quản lý; Dễ tiến phải là nhân viên trong các tổ
hành các hoạt động nhằm tránhchức vì lực lượng mỏng như
được sự chồng chéo chức năng; đỡhiện nay.
lãng phí nguồn nhân lực tổ chức
thực hiện và có tính khả thi cao
nhất là đối với đối tượng là cán bộ,
công chức thuộc các cơ quan nhà
Phương án 2
nước.
khắc phục được. Do vậy, tiểu luận lựa chọn phương án 1 là phương án tối ưu để giải
quyết tình huống này.
V. GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ
5.1. Biện pháp tổ chức thực hiện phương án tối ưu
Để thực hiện được phương án 1 (phương án tối ưu), trên cơ sở những nội dung
đã được đề cập ở trên, tiểu luận xác định các bước tiến hành cụ thể như sau:
Bước 1: Xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật
Chính phủ chỉ đạo cho cơ quan chủ quản là Bộ Y tế, phối hợp với các cơ quan,
ban, ngành khác tiến hành khảo sát thực tế, phân loại đối tượng để từ đó soạn thảo
văn bản trình Chính phủ xem xét ban hành Nghị định. Nghị định phải thể hiện được
các nội dung cơ bản như: Đối tượng và phạm vi áp dụng; thẩm quyền và trách nhiệm
của các cơ quan thực hiện; khen thưởng và xử phạt. Thời gian để tiến hành khảo sát,
phân loại và ban hành Nghị định khoảng 3 tháng.
Bộ y tế, các bộ, ngành, địa phương chủ động xây dựng văn bản dưới dạng Chỉ
thị sau khi có văn bản của Chính phủ để xác định đối với từng đối tượng cụ thể thuộc
lĩnh vực mình quản lý; cơ quan, người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính và
các biện pháp bảo đảm thực hiện cụ thể. Cơ quan nào thì quản lý nhân viên của cơ
quan đó và áp dụng các biện pháp xử lý theo quy định chung. Các văn bản của Trung
ương phải đảm bảo tính tạo ra cơ sở pháp lý pháp lý thống nhất cho các chính quyền
địa phương (cơ quan có thẩm quyền chung và cơ quan chuyên môn có thẩm quyền
15
riêng), các cơ quan, đơn vị, hành chính sự nghiệp của nhà nước xác định rõ trách
nhiệm và biện pháp tổ chức thực hiện. Thời gian thực hiện có thể là 2 tháng.
Bước 2: Chỉ đạo và tổ chức thực hiện
Sau khi có văn bản của Chính phủ, các bộ, ngành và địa phương theo sự chỉ
đạo của Chính phủ để tiến hành tổ chức chỉ đạo thực hiện trong ngành, lĩnh vực và
địa phương mình quản lý.
năng và phối hợp nhịp nhàng trong phát hiện và xử lý các đối tượng.
Đối với địa phương:
- Chính quyền địa phương các cấp cần thấy rõ trách nhiệm của mình trong tổ
chức thực hiện các quy định ở công sở và chỉ đạo các đơn vị trên địa bàn tiến hành
thực hiện tốt các quy định được giao.
- Ủy ban nhân dân các cấp cần chỉ đạo và phối hợp với các tổ chức chính trị-xã
hội, tổ chức xã hội, đoàn thể, tổ chức kinh tế,... nhằm tổ chức tuyên truyền, vận động
nâng cao ý thức tự giác và phát hiện kịp thời các trường hợp vi phạm để tiến hành xử
lý hoặc giao cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý.
KẾT LUẬN
Hiệu lực và hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước, trong đó có cơ quan quản
lý nhà nước được xác định trong Nghị quyết số 17/NQ-TW, Hội nghị lần thứ 5 Ban
chấp hành Trung ương Đảng khoá X ngày 01/8/2007 về “Đẩy mạnh cải cách hành
chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước”. Theo đó, khẳng
định mối quan hệ biến chứng giữa hiệu lực và hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước
trong điều kiện ở nước ta hiện nay. Nếu hiệu lực của quản lý nhà nước là sự tác động
của chủ thể có thẩm quyền được pháp luật xác định một cách rành mạch (tính trách
nhiệm và phải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động công vụ được giao) thì hiệu quả
của hoạt động quản lý nhà nước được thể hiện thông qua sự chấp hành, đồng thuận và
hợp tác trong mối quan hệ giữa các cơ quan quản lý nhà nước với các đối tượng
thuộc khách thể của hoạt động quản lý. Do vậy, xét dưới khía cạnh này, thì việc
Chính phủ, các cơ quan thuộc Chính phủ, Bộ, và chính quyền địa phương các cấp
thực hiện chức năng chấp hành và điều hành đã không đạt được mục tiêu đặt ra nên
hiệu quả thực tế của nó thấp. Chẳng hạn như, tình trạng người hút thuốc vẫn ngang
nhiên, cơ quan có thẩm quyền thì “làm ngơ”, “bỏ mặc” hay thậm chí “coi như không
biết, không liên quan”,... đã phản ánh những thiếu sót từ khâu ban hành văn bản,
chuẩn bị và tổ chức thực hiện các quy định trong thực tế. Mặt khác, hiệu lực, hiệu quả
17
đẩy mạnh hoạt động phòng, chống tác hại của thuốc lá trong ngành y tế.
02. Bộ trưởng Bộ Y tế, Quyết định số 02/2007/QĐ-BYT ngày 15/01/2007
về việc ban hành quy định về vệ sinh an toàn đối với sản phẩm thuốc lá.
03. Bộ trưởng Bộ Y tế, Quyết định số 5281/QĐ-BYT ngày 31/12/2009 về
việc ban hành kế hoạch thực hiện Quyết định số 1315/QĐ-TTg của Thủ
tướng Chính phủ phê duyệt kế hoạch thực hiện Công ước khung về
kiểm soát thuốc lá trong ngành y tế
04. Chính phủ, Nghị định số 45/2005/NĐ-CP ngày 06/4/2005 về xử phạt
hành chính trong lĩnh vực y tế.
05. Đảng Cộng sản Việt Nam, Nghị quyết số 17/NQ-TW ngày 01/8/2007
về đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý
của bộ máy nhà nước.
06. Thủ tướng Chính phủ, Chỉ thị số 12/2007/CT-TTg ngày 10/5/2007 về
tăng cường các hoạt động phòng, chống tác hại của thuốc lá.
07. Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 129/2007/QĐ-TTg ngày
02/8/2007 ban hành kèm theo Quy chế về văn hoá công sở tại các cơ
quan hành chính nhà nước.
08. Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 1315/QĐ-TTg ngày 21/08/2009
về việc phê duyệt Kế hoạch thực hiện Công ước khung về kiểm soát
thuốc lá.
19