Tiểu luận tình huống quản lý nhà nướchoạt động thu hồi đất và đền bù giải phóng mặt bằng để thực hiện các dự án phát triển - Pdf 43

LỜI NÓI ĐẦU
Công tác đền bù giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất là vấn đề phức
tạp mang tính chất kinh tế - xã hội tổng hợp, thể hiện bản chất kinh tế của các mối
quan hệ về đất đai và chính sách, xã hội của Nhà nước. Vì vậy, đây là vấn đề luôn
nhận được sự quan tâm của nhiều ngành, nhiều cấp, của các tổ chức và cá nhân có
liên quan.
Trong thời gian qua, thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về
phát triển kinh tế, củng cố quốc phòng, an ninh, kết hợp đảm bảo an sinh xã hội và lợi
ích của nhân dân, tại nhiều địa phương trên phạm vi cả nước diễn ra hoạt động thu hồi
đất và đền bù giải phóng mặt bằng để thực hiện các dự án phát triển. Vì lợi ích chung,
đại bộ phận người dân trong khu vực thu hồi đất đều đồng tình, ủng hộ và tự giác thực
hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, không ít người còn vì lợi ích
chung đã chịu một phần thiệt thòi, giúp chính quyền các địa phương đẩy nhanh công tác
giải phóng mặt bằng.
Tuy nhiên, mặc dù Nhà nước đã có hàng loạt quy định về vấn đề bồi thường, hỗ trợ
và tái định cư khi cá nhân, tổ chức bị thu hồi đất nhưng trên thực tế quá trình thực hiện
gặp rất nhiều khó khăn, vướng mắc, chưa đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hoá,
hiện đại hoá. Thậm chí có lúc, có nơi xảy ra vụ việc phức tạp, kéo dài, làm chậm tiến độ
thực hiện dự án, gây tổn hại về kinh tế và ảnh hưởng trật tự trị an xã hội, mất nhiều thời
gian và công sức giải quyết. Nguyên nhân quan trọng nhất dẫn đến hiện tượng này là
người dân trong diện di dời, giải toả phải thay đổi nghề nghiệp, điều kiện sống, học tập,
thay đổi tập quán và các vấn đề tâm lý, xã hội khác. Mặt khác, một số cán bộ thực hiện
công tác đền bù, giải phóng mặt bằng còn chưa thực hiện đúng các quy định pháp luật về
bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất. Để góp phần giải quyết các đòi
hỏi khách quan cũng như tính cấp thiết của vấn đề này, tiểu luận xin đề cập đến một tình
huống phổ biến nảy sinh từ công tác đền bù, giải phóng mặt bằng tại nhiều địa phương
hiện nay, từ đó tìm ra phương án và kiến nghị biện pháp giải quyết, nhằm kết hợp hài
hoà giữa lợi ích của Nhà nước với lợi ích của cá nhân, tổ chức thuộc diện Nhà nước thu
hồi đất.
I. MÔ TẢ TÌNH HUỐNG
1

Mục tiêu cần đạt được khi giải quyết tình huống là tìm ra phương án tối ưu và
kiến nghị biện pháp giải quyết tình huống trên cơ sở các quy định của pháp luật về
2


đất đai, nhất là quy định về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất
hiện nay.
III. PHÂN TÍCH XỬ LÝ TÌNH HUỐNG
1. Mục tiêu của tình huống
Mục tiêu của tình huống là xác định các hiện tượng phổ biến nảy sinh trong
lĩnh vực đền bù, giải toả đất đai để thực hiện các chương trình, dự án phát triển kinh
tế của Nhà nước và của các địa phương trên thực tế hiện nay đã và đang còn nhiều
vướng mắc và phức tạp trong quá trình thực hiện từ phía các cơ quan chức năng, dẫn
đến không ít bức xúc trong nhân dân.
2. Cơ sở lý luận
Kể từ năm 2003 đến nay, thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ VII Ban chấp
hành Trung ương Đảng khoá IX về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai
trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Nhà nước đã ban
hành rất nhiều quy định về lĩnh vực này, đặc biệt là ban hành Luật đất đai năm 2003,
thay thế Luật đất đai năm 1993; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật đất đai
năm 1998; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật đất đai năm 2001. Luật đất đai
năm 2003 đã dành riêng một mục với 8 điều luật quy định một số vấn đề cơ bản nhất
về thu hồi đất. Tiếp đó, tại Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm
2004 về thi hành Luật đất đai cũng đã có hướng dẫn về vấn đề này. Trên cơ sở các
văn bản trên, Chính phủ ban hành các nghị định chuyên biệt về vấn đề này như Nghị
định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2004 quy định về bồi thường, hỗ trợ
và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng
5 năm 2007 quy định bổ sung về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu
hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai. Qua nhiều năm thực hiện,

thuật của quốc gia đều cần có đất (Ví dụ: xây dựng các trung tâm hành chính vốn
chưa tương xứng với vị thế và đảm bảo cho hoạt động công quyền tại nhiều địa
phương; xây dựng các công trình trọng điểm quốc gia; xây dựng nhà ở dành cho sinh
viên, người nghèo và người có thu nhập thấp; xây dựng thuỷ điện; các trường bắn, bãi
tập cho các nhà trường và hoạt động diễn tập chiến đấu của các đơn vị vũ trang; xây
dựng các trường học đạt tiêu chuẩn theo quy định của Bộ Giáo dục và đào tạo; xây
dựng các trung tâm dịch vụ; hoàn thiện các tuyến đường giao thông huyết mạch của
quốc gia và đường giao thông nối liền các địa phương, nội tỉnh, nội huyện và trên địa
4


bàn các xã, phường, thị trấn…). Vì lợi ích quốc gia và lợi ích chung của xã hội, Nhà
nước tiến hành thu hồi đất của cá nhân để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh,
lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, phát triển kinh tế, nhưng có bồi thường cho những
người có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật (người bị thu hồi đất có giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc có đủ điều kiện được cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất theo quy định tại Điều 50 Luật đất đai, trừ các trường hợp được quy định
tại khoản 2, 3, 4,5, 6, 7, 8, 9, 10, 11 và 12 Điều 38 và các điểm b, c, d, đ và g khoản 1
Điều 43 của Luật đất đai).
Việc thu hồi đất của cá nhân diễn ra tràn lan trên nhiều địa phương hiện nay
còn xuất phát từ sự yếu kém trong công tác quy hoạch đất đai, sự hạn chế về tầm nhìn
trong xác định mục tiêu cho sự phát triển kinh tế và nhiều lĩnh vực xã hội khác của
các cấp chính quyền từ Trung ương đến địa phương.
Bên cạnh đó, các quy định pháp luật về đất đai nói chung và về lĩnh vực thu
hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho người bị thu hồi đất còn nhiều bất cập.
Ngoài Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2004 về bồi thường, hỗ
trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất thì vấn đề pháp lý này còn được quy định
rải rác trong nhiều văn bản pháp lý khác, khiến cho việc nắm bắt và triển khai thực
hiện rất khó khăn. Qua nhiều năm, trước những vấn đề vướng mắc, Chính phủ đã ban
hành Nghị định số 69/2009/NĐ-CP để bổ sung, nhưng bản thân Nghị định này cũng

phương án bồi thường, giải phóng mặt bằng, tái định cư của chính quyền địa phương.
Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh là cơ quan có thẩm quyền trong xác định giá đất để tính bồi
thường, giá tính hỗ trợ phù hợp với địa phương trên cơ sở quy định về khung giá các
loại đất tại Nghị địnhsố 188/2004/NĐ-CP ngày 16 tháng 11 năm 2004 về phương
pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất. Tuy nhiên, việc xác định giá đất, giá
tính hỗ trợ phải trên cơ sở phương pháp so sánh, phương pháp thu nhập mà UBND
tỉnh BR-VT đã không dựa trên cơ sở đó để xác định. Sự phát triển kinh tế của địa
phương không chỉ ưu tiên cho các công ty lớn (công ty kinh doanh bất động sản P.M)
mà còn phải tính đến quyền lợi của nhân dân. Mất đất kéo theo việc mất nguồn thu
nhập ổn định mà ông N và nhiều người dân đã tạo lập trong nhiều năm, mất đi
phương tiện để nuôi sống bản thân và gia đình trong khi việc chuyển đổi nghề nghiệp
hay gây dựng lại “cơ nghiệp” không thể “một sớm, một chiều”.
Sự thiếu quan tâm đến lợi ích của người dân trong đó có gia đình ông N của
chính quyền địa phương tỉnh BR-VT thể hiện quan điểm đặt lợi ích của thiểu số lên
6


trên lợi ích của đa số, khiến người dân bị thu hồi đất bất mãn, không ủng hộ kế hoạch
và phương án bồi thường, hỗ trợ của chính quyền. Điều này bắt nguồn từ sự thiếu
trách nhiệm với dân của lãnh đạo và cán bộ Ban đền bù giải toả huyện TT, lãnh đạo
UBND huyện TT và UBND tỉnh BR-VT, bởi số tiền bồi thường, hỗ trợ cho gia đình
ông N do Công ty P.M chi trả trước, sau đó được trừ vào số tiền sử dụng đất, tiền thuê
đất phải nộp theo quy định tại Nghị định số 197/2004/NĐ-CP. Khi xây dựng khung
giá đất ở địa phương và quy hoạch đất đai để xây dựng khu đô thị P.M đã không thực
hiện cơ chế dân chủ lấy ý kiến nhân dân.
Bên cạnh đó, sự thiếu hiểu biết của gia đình ông N và nhiều hộ dân ấp P.T
trong việc phối hợp với các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội ở địa phương để thực
hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, phát huy quyền làm chủ của mình, thể hiện tiếng nói
một cách kịp thời, cùng với chính quyền quyết định vấn đề đất đai trên phạm vi địa
phương và của chính mình.

khiếu nại quyết định thu hồi đất (phần liên quan đến giá bồi thường, mức hỗ trợ) và
cưỡng chế thi hành quyết định thu hồi đất do pháp luật quy định. Điều đó càng gây
nên tâm lý bức xúc của ông N, dẫn đến mất niềm tin vào chính quyền các cấp. Lợi
ích của ông và gia đình không được đảm bảo sẽ ảnh hưởng đến kinh tế của gia đình,
tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây mất trật tự xã hội tại địa phương khi gia đình không còn
nguồn sinh sống, không công ăn việc làm.
IV. PHƯƠNG ÁN GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG
1. Xây dựng phương án
Để giải quyết tình huống trên, tiểu luận đề xuất hai phương án sau:
Phương án 1: Bồi thường giá trị quyền sử dụng đất theo giá thị trường và hỗ trợ để
ổn định đời sống, đào tạo chuyển đổi ngành nghề, bố trí việc làm mới.
Phương án 2: Xác định giá bồi thường và mức hỗ trợ theo hướng có lợi nhất
theo quy định của pháp luật.
2. Đánh giá ưu, nhược điểm của phương án
Nội dung
Ưu điểm
Nhược điểm
Phương án 1 Đạt được sự đồng thuận- Không đảm bảo được sự kết hợp hài
từ phía người dân bị thuhoà giữa lợi ích của chính quyền địa
hồi đất. Thể hiện sự quanphương với nhân dân và công ty P.M,
tâm của chính quyền vớithậm chí, không nhận được sự đồng
8


lợi ích của nhân dân địathuận từ phía Công ty P.M, bởi Công
phương.

ty này sẽ phải ứng trước tiền bồi
thường, hỗ trợ, tái định cư và kinh phí
tổ chức thực hiện bồi thường, giải

quan hệ giữa phát triểnchưa phù hợp với thực tế, thiếu cơ
kinh tế và ổn định an ninh,chế hữu hiệu để thực hiện.
trật tự tại địa phương.
Đồng thời phù hợp với các
9


quy định pháp luật hiện
hành.
V. LỰA CHỌN PHƯƠNG ÁN TỐI ƯU
Từ sự phân tích các ưu, nhược điểm của hai phương án trên, phương án thứ hai
tối ưu hơn cả, bởi nó giúp đạt được các mục tiêu là đảm bảo được tính khả thi của dự
án và đạt được đồng thuận từ phía người dân, công ty P.M trong việc bồi thường, hỗ
trợ cho người dân bị thu hồi đất.
Để thực hiện phương án này, chính quyền địa phương cần thực hiện đúng các
thủ tục pháp lý về thu hồi đất và bồi thường, hỗ trợ người bị thu hồi đất theo quy định
của pháp luật. Cụ thể như sau:
Bước 1: UBND tỉnh phối hợp với Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
huyện T.T, Sở Tài chính để thẩm định lại phương án bồi thường, hỗ trợ cho những
người bị thu hồi đất ở ấp P.T, trong đó có gia đình ông N trong thời gian tối đa là 15
ngày làm việc.
Bước 2. UBND huyện T.T giải quyết khiếu nại của ông N và các hộ dân về bồi
thường, hỗ trợ theo quy định tại Điều 138 Luật đất đai;Điều 63 và Điều 64 Nghị định
số 84/2007/NĐ-CP; các quy định pháp luật hiện hành về khiếu nại, tố cáo. Đồng thời,
giải thích rõ cho ông N theo quy định tại khoản 2 Điều 40 Nghị định số 169/2009/NĐCP thì trong khi chưa có quyết định giải quyết khiếu nại, ông N vẫn phải tiếp tục thực
hiện quyết định thu hồi đất. Sau này, nếu cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết
khiếu nại có kết luận việc thu hồi đất là trái pháp luật thì sẽ dừng thực hiện quyết định
thu hồi đất; UBND huyện T.T sẽ ban hành quyết định hủy bỏ quyết định thu hồi đất đã
ban hành và bồi thường thiệt hại do quyết định thu hồi đất gây ra (nếu có). Trường hợp
cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết khiếu nại có kết luận việc thu hồi đất là

dân để thực hiện thành công thì đều cần đến sự đồng tình, ủng hộ từ phía nhân dân,
đặc biệt là những người bị thu hồi đất. Muốn vậy, chính quyền các địa phương phải
thực sự quan tâm đến lợi ích của người dân bị thu hồi đất, thể hiện ở việc bồi thường
thoả đáng và hỗ trợ cho họ ổn định đời sống, tạo điều kiện chuyển đổi nghề nghiệp,
hỗ trợ thông tin để họ tự tạo công ăn việc làm cho mình. Không nên vì lợi ích của
thiểu số mà ảnh hưởng đến lợi ích chung của cộng đồng dân cư hoặc vì lợi ích kinh tế
trước mắt mà quên đi những tác động xấu về mặt xã hội như trực tiếp làm cho một bộ
11


phận người nông dân mất đất sản xuất, thất nghiệp, thu hẹp diện tích đất canh tác...,
đồng thời tiềm ẩn các nguyên nhân dẫn đến các hiện tượng tiêu cực và tệ nạn trong xã
hội, đặc biệt là sự mất niềm tin vào chính quyền của nhân dân, do nhân dân và vì
nhân dân.
KIẾN NGHỊ
Để thực hiện phương án tối ưu nêu trên, tiểu luận kiến nghị một số biện pháp
cụ thể như sau:
Thứ nhất, đối với Trung ương: Chính phủ cần nhanh chóng nhất thể hoá các
quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất trong một văn
bản pháp lý, tránh để lĩnh vực này được quy định rải rác trong nhiều văn bản như
hiện nay, rất khó khăn cho quá trình tổ chức thực hiện. Đồng thời, sửa đổi khung giá
các loại đất cho phù hợp với tình hình thực tế.
Thứ hai, đối với địa phương:
- UBND tỉnh BR-VT cần nắm bắt chính xác thông tin về giá trị quyền sử dụng
đất nông nghiệp được chuyển nhượng trên thực tế để xác định khung giá đất trên địa
bàn cho phù hợp, làm cơ sở để tính giá đất bồi thường trong trường hợp phải thu hồi
đất của cá nhân để phát triển kinh tế. Khi phê duyệt các phương án bồi thường, hỗ
trợ, tái định cư cần nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của người dân để kịp thời thực hiện
các biện pháp động viên, giải thích, tuyên truyền. Với các phương án phân cấp cho
UBND huyện T.T phê duyệt và thực hiện thì cần theo dõi, kiểm tra để kịp thời chỉ

Bộ Tài nguyên và Môi trường, Thông tư số 06/2007/TT-BTNMT ngày 15 tháng 6
năm 2007 hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày
25 tháng 5 năm 2007 quy định bổ sung về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái
định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai;

3.

Bộ Tài nguyên và Môi trường, Thông tư số 01/2005/TT-BTNMT ngày 13 tháng 4
năm 2005 hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày
29 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ về thi hành Luật đất đai;

4.

Bộ Tài chính, Thông tư số 116/2004/TT-BTC ngày 07 tháng 12 năm 2004 về
hướng dẫn thực hiện Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2004 về
bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất;

5.

Chính phủ, Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 về thi hành
Luật đất đai;
13


6.

Chính phủ, Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13 tháng 8 năm 2009 của Chính phủ
quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và
tái định cư;


Chính phủ, Nghị định số 17/2006/NĐ-CP ngày 27 tháng 01 năm 2006
về sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đất đai và
Nghị định số 187/2004/NĐ-CP về việc chuyển công ty nhà nước thành công ty cổ
phần;
Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Luật số 13/2003/QH11 ngày 26
tháng 11 năm 2003 về đất đai;

14




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status