SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
TÌM HIỂU VÀ TẠO SỰ HỨNG THÚ
HỌC MÔN VẬT LÝ CỦA HỌC SINH BẬC THCS
PHẦN A: KHÁI QUÁT
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Các nhà tâm lí học nghiên cứu và chỉ ra rằng hứng thú có một vai trò quan
trọng trong quá trình hoạt động của con người. Nó là động cơ thúc đẩy con người
tham gia tích cực vào hoạt động đó. Khi được làm việc phù hợp với hứng thú dù
phải khó khăn con người cũng vẫn cảm thấy thoải mái và đạt được hiệu quả cao.
Trong hoạt động học tập, hứng thú có vai trò hết sức quan trọng, thực tế cho thấy
hứng thú đối với các bộ môn của học sinh tỉ lệ thuận với kết quả học tập của các
em. Vì vậy quá trình dạy và học tích cực đòi hỏi sự biến đổi không ngừng cả tư duy
lẫn hành động của người dạy và người học. Trong quá trình đó không thể thiếu
niềm đam mê khoa học. Qua quá trình học, học sinh được rèn luyện một số kỹ
năng như: Môn Toán giúp học sinh phát triển năng lực tư duy và phẩm chất trí tuệ,
môn Văn giúp học sinh trình bày khả năng hiểu biết của mình cách mạch lạc, rõ
ràng……… Bên cạnh đó học sinh được làm quen với một môn học mới là môn
Vật Lý ở cấp THCS.
Vật lý là môn khoa học mà khi học tốt môn này sẽ giúp các em có tư duy tốt
hơn để học tập các môn khác, là cơ sở để các em có hứng thú trong học tập.
Môn Vật Lý có vai trò rất quan trọng, là môn học nghiên cứu những hiện
tượng xảy ra trong đời sống và có rất nhiều ứng dụng trong thực tế cuộc sống hằng
ngày, giúp các em làm quen với các kiến thức mới, góp phần vào việc nâng cao sự
hiểu biết của học sinh về các hiện tượng xảy ra trong tự nhiên và cung cấp những
kiến thức cơ bản giúp các em hiểu được bản chất của sự vật hiện tượng cách khoa
học, linh hoạt và giải thích được một số hiện tượng trong cuộc sống như : bằng
kinh nghiệm cá nhân ông bà có thể rót nước vào phích (bình thuỷ) dù không nhìn
thấy mực nước trong bình thuỷ vẫn biết được nước đầy hay chưa, dùng kiến thức
vật lý các em có thể dễ dàng giải thích được hiện tượng này cách khoa học, hay giải
thích sự tạo thành mưa trong tự nhiên ……………
Môn vật lý vốn dĩ có sự cuốn hút kỳ lạ từ chính sự huyền ảo của các quy luật
III. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
- Tổng hợp cơ sở lý luận của vấn đề hứng thú và hứng thú học tập
- Khảo sát thực trạng tạo sự hứng thú học môn vật lý của học sinh trường THCS
Ngô Quyền
- Đề xuất và thử nghiệm một số biện pháp nhằm nâng cao hứng thú học môn
Vật Lý. Từ đó đề xuất những kiến nghị sư phạm cần thiết.
IV. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Vì thời gian nghiên cứu có hạn, nên đề tài này tôi chỉ tiến hành nghiên cứu ở
trường THCS Ngô Quyền nơi mà tôi đang công tác.
2
V. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
-Đối tượng nghiên cứu: Đặc điểm hứng thú học tập môn vật lý của học sinh
trường THCS Ngô Quyền
-Khách thể nghiên cứu: Học sinh trường THCS
VI. Các phương pháp nghiên cứu:
1. Phương pháp phân tích tổng hợp:
Khi đưa ra một vấn đề hay giảng dạy cho các em một bài nào đó thì: Giáo
viên phải nêu ra vấn đề, đó là vấn đề gì? thật rõ ràng để các em biết, sau đó đi vào
từng khía cạnh từ cái nhỏ đến cái lớn thật kỹ càng của vấn đề nhưng tránh lan man,
dài dòng.
Khi phân tích xong, giáo viên phải đúc kết lại đưa ra kết luận tổng hợp nhất.
Thâu tóm lại từng vấn đề, làm sao cho bản chất của vấn đề được bộc lộ rõ ràng
nhất, dễ hiểu nhất thì mới thu được kết quả cao trong giảng dạy
2. Phương pháp quan sát:
- Quan sát là việc con người sử dụng các giác quan để thu thập các giữ liệu,
số liệu.
* Các dạng quan sát:
+ Quan sát toàn diện hay từng hoạt động.
+ Sử dụng quan sát lâu dài hoặc trong một thời gian ngắn.
+ Quan sát thăm dò hoặc đi sâu.
- Mỗi khi người ta có hứng thú say mê với hoạt động nào đó thì bản thân
hoạt động ấy đã trở thành nhu cầu quan trọng của chủ thể. Cũng nhiều khi hoạt
động để đáp ứng một phần nhu cầu trước mắt rồi sau chính hoạt động đó trở nên
hấp dẫn thành hứng thú của chủ thể.
* Người ta chia hứng thú ra thành: Hứng thú trực tiếp và hứng thú gián
tiếp.
Hứng thú trực tiếp có ý nghĩa là chủ thể tích cực tham gia trực tiếp vào hoạt
động sáng tạo.
VD: HS chơi game từ ngày nay qua ngày khác không biết mệt, nhạc sĩ đam mê
sáng tác, ca sĩ say mê biểu diễn không ngại khổ để tập luyện, cầu thủ say mê đá
bóng….
Hứng thú gián tiếp: Là chủ thể hướng vào thưởng thức kết quả hoạt động.
4
VD: Có người say mê tiểu thuyết đọc suốt thâu đêm, có người yêu thích bóng đá
đến nỗi cảm thấy đau khổ, thất vọng khi đội tuyển mình yêu thích thua cuộc.
=> Khó có thể nói rằng loại hứng thú nào mãnh liệt hơn, có điều hứng thú
trực tiếp hoạt động sáng tạo đòi hỏi phải có sự kiên trì, sáng tạo.
3. Biểu hiện của hứng thú học tập.
- Hứng thú biểu hiện ở sự tập trung cao độ, ở sự say mê; hấp dẫn bởi nội
dung hoạt động ở bề rộng và bề sâu của hứng thú.
- Hứng thú học tập môn vật lý biểu hiện cả ở trong và ngoài giờ học:
+ ở trong giờ học: Biểu hiện của hứng thú là chăm chỉ nghe giảng, xây dựng
bài, hăng hái phát biểu ý kiến.
+ Ngoài giờ học: Các em tìm đọc thêm các sách tham khảo môn vật lý, tìm
hiểu các hiện tượng vật lý ngoài đời sống, tìm cách giải thích theo kiến thức đã học.
- Tổ chức những buổi tham quan du lịch, các ảnh vật hiện tượng tự nhiên
cũng tạo hứng thú học tập cho học sinh.
Những biểu hiện của hứng thú học tập của mỗi học sinh về môn vật lý, ở
mỗi lớp, mỗi lứa tuổi là khác nhau. Tuy nhiên nếu chịu khó quan sát ta có thể nhận
biết được, bởi các em thường bộc lộ cảm xúc, tình cảm ra bên ngoài nên rất dễ
càng phát hiện trong hoạt động nhiều cái mới mẻ, cái hay có giá trị.
Những nội dung sinh hoạt nghèo nàn đơn điệu không thể gây hứng thú cho
học sinh được. Lúc đó người ta phải dùng những kích thích bên ngoài tác động để
tích cực hoá hoạt động của học sinh.
Cần tạo điều kiện cho hoạt động sáng tạo của học sinh:
- Có điều kiện vật chất kỹ thuật tương ứng với hoạt động sáng tạo.
- Tạo không khí, môi trường hoạt động sôi nổi, lôi cuốn học sinh tham gia.
6
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG
1. Thành phần học sinh ở trường
Thuận lợi
- Trình độ dân trí được nâng cao so với trước kia.
- Người dân đã có ý thức về tầm quan trọng của việc học đối với con em mình.
- Đời sống của nhân dân được nâng lên, người dân có điều kiện quan tâm, đầu
tư cho con em học tập.
- Ý thức học tập của học sinh say mê trong bộ môn, thích tìm tòi, sáng tạo
trong nghiên cứu thí nghiệm.
Khó khăn
- Học sinh trên địa bàn gồm học sinh người Kinh xen lẫn học sinh dân tộc
( 35% HS dân tộc) đa số các em là con em nông dân. Trình độ, khả năng tiếp thu
không đồng đều, một số học sinh dân tộc tiếp thu còn chậm, tiếng việt viết chưa
chuẩn. Bên cạnh đó học sinh ít học bài, làm bài tập ở nhà, dành nhiều thời gian cho
việc giải trí: game, phim, cùng nhau tụ tập…… Mặt khác các em lại ít tham gia
xây dựng bài nên khả năng trình bày ý kiến của mình bằng ngôn ngữ vật lý là khó
khăn dẫn đến các em không theo kịp và dễ chán. Ngoài ra các em không học bài cũ
dẫn đến kiến thức chồng chéo lẫn nhau nên mất căn bản cũng là nguyên nhân học
sinh không tập trung trong tiết học.
- Ngoài giờ học trên lớp các em còn phụ giúp cha mẹ rất nhiều nên không còn
nhiều thời gian giành cho học tập ở nhà.
- Mặt bằng chung kiến thức không đồng đều một phần do nhận thức của đối
62,4%
12 19,4%
2012-
2013
Trước
vận dụng
90 7 7,8% 18 20% 46 51,1% 19 21,1%
Sau khi
vậndụng
90 10 11,1%
20
22,2%
50
55,6%
10 11,1%
Tổng hợp
Tăng 3% Tăng
6,1%
Giảm
6,8%
Giảm 8,3%
Hạn chế
Hầu hết học sinh chỉ tập trung trong giờ học, học thuộc lý thuyết. Việc vận
dụng để giải các bài tập vẫn còn chậm và ít.
Học sinh dân tộc và học sinh yếu kém trong 1 lớp chiếm khoảng 30%, vì thế
mức độ tiếp thu của học sinh không đồng đều.
3. Mặt mạnh, mặt yếu
Mặt mạnh
Môn Vật lý là môn học có thí nghiệm trực quan giúp học sinh quan sát hiện
tượng từ đó đúc kết được kiến thức.
- Giáo viên chưa tận dụng, phối hợp tối đa các phương pháp giảng dạy để lôi
cuối học sinh tham gia học tập cách tích cực.
5. Phân tích giá trị khoa học của các vấn đề về thực trạng mà đề tài đưa ra
Chương trình vật lí THCS đã cung cấp cho học sinh một hệ thống kiến thức
cơ bản về các lĩnh vực: Cơ, nhiệt, điện, quang và âm học. Các kiến thức này được
xây dựng thành hai vòng xoáy: Chương trình vật lí 6,7 gồm các phần kiến thức ở
mức độ định tính, vật lí 8,9 gồm các phần kiến thức ở mức độ định lượng được
xoáy trở lại nhưng ở mức độ sâu hơn, rộng hơn. Hơn nữa thực trạng của xã hội hiện
nay là ý thức học tập của một số em chưa cao còn lơ là trong việc học tập và kĩ
năng thực hành của các em còn hạn chế dẫn đến học lực không đồng đều của các
em trong một lớp học, học sinh có học lực yếu, kém còn chiếm tỉ lệ cao trong một
lớp. Mặt khác do địa bàn nông thôn, hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên các bậc phụ
huynh chủ yếu làm kinh tế gia đình hay làm kinh tế xa, việc cải cách sách giáo
khoa so với trước đây nhiều phụ huynh muốn hướng dẫn cho con cũng không giúp
được…, nên việc học tập của các em ít được các bậc phụ huynh quan tâm đúng
mức để động viên giúp đỡ kịp thời.
Qua thực tế cho thấy, các em chưa có sự hứng thú và hờ hững với môn học,
chỉ một số em rất tích cực tham gia học tập tuy nhiên không ít học sinh thụ động,
lười biếng dẫn đến kết quả thấp trong môn học này.
Giáo viên
- Đa số giáo viên dạy theo kinh nghiệm vốn có của bản thân, cố gắng truyền
thụ hết kiến thức trong sách giáo khoa trong thời gian yêu cầu, chưa khơi dậy tính
sáng tạo của học sinh.
9
- Khi đặt câu hỏi giáo viên chưa gợi mở để học sinh trả lời mà giáo viên đưa ra
đáp án của vấn đề tránh để mất thời gian dẫn đến học sinh có tính ỷ lại.
- Khi giải quyết vấn đề theo nhóm thì chỉ những em học sinh khá giỏi giải
quyết vấn đề, học sinh yếu kém có thái độ không hưởng ứng không tham gia làm
cho tiết học chưa đạt kết quả cao.
- Một giờ học với không khí căng thẳng không tạo hứng thú, tính sáng tạo của
học vật lý
- Học tập và làm việc theo nhóm để bổ sung kiến thức cho nhau
+ Khi tổ chức dạy học nhóm thông thường mỗi nhóm được giao một nhiệm
vụ khác nhau hoặc 2-3 nhóm cùng một nhiệm vụ…Giáo viên cần làm cho tất cả các
thành viên trong nhóm đều nắm rõ nhiệm vụ của nhóm cũng như nhiệm vụ của bản
thân. Có thể giao nhiệm vụ cho từng nhóm chung ở giữa lớp, hoặc giao nhiệm vụ
dưới dạng phiếu giao việc cho từng nhóm…Nhưng dưới hình thức nào thì cũng cần
cho nhóm nêu nội dung mà nhóm cần thảo luận. Đây là cơ hội để giao công việc
cho các em khá, giỏi làm việc và giúp đỡ những học sinh yếu, đồng bào sau đó sẽ
gọi các em đồng bào, yếu trả lời và lấy điểm cho cả nhóm. Mỗi lần các em trả lời
sai chúng ta nên khuyến khích đừng tạo áp lực cho các em, đừng để các em thấy sợ
và thiếu tự tin khi phát biểu mà phải khích lệ các em hơn.
Ví dụ: Bài đo thể tích chất lỏng vật lý 6 ở câu C2, C3
Mỗi cá nhân học sinh lấy các ví dụ dụng cụ đo thể tích khác nhau để bổ làm
phong phú thêm dụng cụ đo của nhóm thêm phong phú hơn: dụng cụ đựng xăng,
dầu cho khách hàng, dụng cụ đong rượu cho khách, thùng đựng nước, chai, lon
nước ngọt…
Bài lực đẩy Acsimét vật lý 8: HS tiến hành thí nghiệm theo nhóm, qua đó các
em rèn luyện thêm kỹ năng thực hành,phân công công việc, hợp tác giúp đỡ nhau
trong hoạt động tập thể, kỹ năng thu thập xử lý thông tin từ quan sát thí nghiệm
qua các số liệu cụ thể để rút ra được nội dung của C
1
, C
2
: khi một vật nhúng chìm
trong chất lỏng bị chất lỏng tác dụng một lực đẩy hướng từ dưới lên
11
- Giáo viên có vai trò tổ chức nhận thức cho các em, động viên đánh giá các
hoạt động đó. Trong quá trình thảo luận giáo viên không đưa ra các đánh giá
“đúng – sai” mà để học sinh tự chọn lựa
Giải thích: Mặc dù không khí cân không nặng lắm nhưng vẫn thấy sự khác
biệt nhỏ giữa một quả bóng rổ xẹp và quả bóng rổ căng. Sự khác nhau này là do
lượng không khí bên trong quả bóng.
- Giáo viên khuyến khích, chấp nhận tính độc lập sáng tạo của học sinh.
Sau khi học xong bài 11vât lý 8. Giáo viên đặt vấn đề có 3 ly nước giống
nhau, làm cách nào để thả cùng một qủa trứng vào 3 ly mà có 3 hiện tượng xảy ra:
trứng chìm, trứng nổi, trứng lơ lửng. Mục đích để học sinh tìm cách giải quyết vấn
để. Khi tiến hành bài học cần cho học sinh trả lời làm như thế nào và ghi điểm nếu
đáp án hợp lý đồng thời giáo viên đưa ra đáp án của mình và tiến hành thí nghiệm
tại lớp để chứng minh
Dụng cụ: quả trứng, ba cái ly, nước muối
Cách làm: cho trứng vào 3 ly nước quan sát hiện tượng xảy ra
Ly 1: để hơn ½ ly nước ( trứng chìm)
Ly 2: để hơn ½ ly nước, cho vào 3 muỗng muối và khuấy đều (trứng nổi)
Ly 3: để hơn ½ ly nước, cho vào 10 muỗng muối và khuấy đều sau đó rót
thêm nước vào cho đầy ly( không khuấy). Từ từ dìm nhẹ quả trứng vào ly nước
này. (trứng lơ lửng)
- Đứng trước những câu hỏi, giáo viên cho học sinh thời gian để trả lời và
nên ưu tiên những câu hỏi dễ cho học sinh yếu, dân tộc vì số lượng học sinh trong
một lớp khoảng 30 đến 35 học sinh, học sinh khá giỏi chiếm khoảng 3 đến 4 em vì
thế khi đặt câu hỏi để tránh mất thời gian giáo viên thường gọi học sinh học sinh
khá giỏi trả lời và xem như học sinh trung bình, yếu cũng đã có câu trả lời. Tác
động này tạo ra tính ỷ lại nơi các em
- Giáo viên cung cấp thời gian cho học sinh xây dựng mối quan hệ và phát
biểu chúng bằng lời.
- Giáo viên nuôi dưỡng suy nghĩ có tính tò mò tự nhiên của học sinh trong
quá trình học tập. Chẳng hạn như
Vật lý 8 Bài 7: lực ma sát là bài dạy thiên về lý thuyết nhiều. để đưa các em
trở về một tiết học sôi động tôi tiến hành thí nghiệm:
Dụng cụ
Dụng cụ:
Bánh xà phòng nhỏ
Lọ thuỷ tinh 1 lít có nắp đậy
Hồ dán
Giấy, nước, bút chì
Cách làm:
- Dán một băng giấy lên hông lọ theo chiều thẳng đứng. bỏ cục xà phòng vào
lọ, đổ nước đầy
- Vặn nắp và đặt vào nơi yên tĩnh. Kiểm tra lọ 4 ngày 1 lần. bạn sẽ thấy có
hai lớp trong lọ. xà phòng tan tạo một dung dịch đậm đặc bên dưới lớp nước
- Đánh dấu vị trí của xà phòng trên giấy mỗi tuần, lớp xà phòng này từ từ
dâng lên phía trên. Em có biết tại sao không?
Giải thích trong tiết học của bài này
Ban đầu xà phòng tan trong nước ( thấy lớp dung dịch xà phòng dưới đáy)
Tuy nhiên các phân tử chuyển động nên các phân tử xà phòng và nước đang vận
14
động không ngừng, luôn luôn tác đông qua lại. Cuối cùng dung dịch xà phòng tự
rải rác khắp cả lọ nước. đây gọi là sự khuyếch tán
- Vì tuổi các em là hiếu động nên trong tiết học cần có dụng cụ thí nghiệm
và giáo viên cần tận dụng tối đa cho học sinh làm thí nghiệm với tác phong
nhanh, tập trung để tránh mất thời gian mà các em thấy hứng thú với tiết học
sinh động như thế. Mỗi tiết học vừa là sự tập trung học tập vừa tạo nên 1 giờ
học thoải mái không căng thẳng, đòi hỏi giáo viên phải có sự đầu tư, chuẩn bì,
tìm tòi…
Ví dụ Bài 53 Sự phân tích ánh sáng trắng
Sau khi học xong có thể cho học sinh tiến hành thí nghiệm giúp các em cũng
cố kiến thức vừa học bằng cách là cầu vòng tự tạo
Dụng cụ
Khay làm bánh Nước Gương soi nhỏ Tờ giấy trắng
Cách tiến hành
học hơn khi dụng cụ thí nghiệm có tính chính xác không cao do xuống cấp trong
quá trình sử dụng hay không có dụng cụ thí nghiệm
Dưới đây là một vài ví dụ mà tôi đã sử dụng trong quá trình giảng dạy
LỚP 6
Bài 21: Một số ứng dụng của sự nở vì nhiệt
Giúp học sinh quan sát thí nghiệm một cách rõ ràng để thấy được thanh thép nở
vì nhiệt có thể gây ra lực lớn như thế nào.
Tác dụng nhiệt lên thanh thép
Kết qủa tác dụng nhiệt
18
LỚP 7
Bài 3: Ứng dụng định luật truyền thẳng ánh sáng
File flas giúp HS dễ dàng hình dung được hiện tượng nhật thực, nguyệt thực khi
xảy ra trong cuộc sống
Hiện tượng nhật thực
Hiện tượng nguyệt thực
LỚP 8
Bài 1: Chuyển động cơ học
File flas tính tương đối của chuyển động giúp giáo viên chỉ rõ cho học sinh thấy
được cách dễ dàng một vật có thể đứng yên với vật này nhưng lại chuyển động với
vật khác
Bài 20: Nguyên tử, phân tử chuyển động hay đứng yên?
19
File flas nhiệt độ và chuyển động của phân tử cho học sinh thấy được qua hai
trường hợp, nhiệt độ thấp phân tử chuyển động như thế nào và nhiệt cao phân tử
chuyển động có gì khác.
LỚP 9
Bài 40: Hiện tượng khúc xạ ánh sáng
File flas khúc xạ ánh sáng giúp học sinh quan sát rõ hơn hiện tượng khúc xạ ánh
những biện pháp thực hiện song mà người giáo viên không phải là người đưa ra tri
thức, mà là những người hướng dẫn các em tự tìm ra tri thức ấy và áp dụng vào
thực tiễn cuộc sống. Các biện pháp phải thực tế, không quá xa vời, phù hợp với
từng tình huống đặt ra, từng đối tượng học sinh
5. Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu
Qua 2 năm học kết quả khảo nghiệm của đề tài trải nghiệm là đã nâng cao chất
lượng dạy và học.
- Các em đã mạnh dạn trình bày ý kiến của mình trong giờ học một cách sôi
nổi, ít thụ động hơn.
- Kỹ năng thực hành thí nghiệm, hoạt động nhóm cũng được cải thiện hơn so
với trước.
- Kết quả học tập của học sinh được nâng cao.
Đây chỉ là một đề tài nghiên cứu bộ môn, tuy chỉ mới áp dụng ở một vài lớp 9
của trường THCS Ngô Quyền nhưng ý nghĩa khoa học của đề tài luôn khẳng định
tính đứng đắn có thể tiếp tục áp dụng nhằm nâng cao hiệu quả của quá trình dạy và
học.
23
CHƯƠNG IV
KẾT QUẢ THU ĐƯỢC QUA KHẢO NGHIỆM, GIÁ TRỊ
KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ CẦN NGHIÊN CỨU
Để đáp ứng được yêu cầu mục tiêu đào tạo của đất nước thì việc đổi mới
phương pháp dạy học để học sinh có hứng thú hơn với môn học, không xem đó là
một nhiệm vụ phải làm một cách máy móc là một việc làm không thể thiếu đối với
các môn học nói chung và môn vật lý nói riêng.
Trên đây là những phương pháp mà tôi đẫ đổi mới để thu hút học sinh trong và
ngoài giờ học hơn đối với môn vật lý. Kết quả thấy được học sinh ham học và yêu
thích môn vật lý hơn, số học sinh yếu kém giảm đáng kể
PHẦN C
KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
- Cỏc cp xem xột b trớ thờm mỏy chiu vỡ s lng lp tng i nhiu m
mỏy chiu quỏ hn ch ( 1 cỏi) mi giỏo viờn cú th khai thỏc ht c li ớch
ca cụng ngh thụng tin trong dy hc giỳp tit hc t kt qu cỏo hn.
Ngửụứi thửùc hieọn
PHAN THề THUY HAẩNG
25