nâng cao chất lượng tín dụng tại phòng giao dịch phú xuân - chi nhánh ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện bảo thắng, lào cai - Pdf 23

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Ths. Phan Hồng Mai
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo khoa Tài
chính – Ngân hàng trường Đại học Kinh tế quốc dân đã dạy dỗ đào tạo và
giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập tại trường.
Trong thời gian thực tập và hoàn thành chuyên đề này, em cũng nhận
được rất nhiều các ý kiến đóng góp, sự hướng dẫn tận tình, các tài liệu cần
thiết, các thông tin xác thực về thực tiễn hoạt động kinh doanh của PGD
Phú Xuân – Chi nhánh NHNo & PTNT Bảo Thắng, Lào Cai
. Em xin cảm
ơn Ban giám đốc cùng toàn thể các cơ chú, anh chị đang công tác tại PGD
Phú Xuân – Chi nhánh NHNo & PTNT huyện Bảo Thắng, Lào Cai.
Cuối cùng,
em xin cảm ơn cô giáo - Ths. Phan Hồng Mai đã nhiệt tình
hướng dẫn và giúp đỡ em hoàn thành chuyên đề thực tập này.
SV: Trần Thị Thanh Huyền Lớp Tài chính A –
K39
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Ths. Phan Hồng Mai
MỤC LỤC
PHÒNG GIAO DỊCH PHÚ XUÂN - CHI NHÁNH NHNO&PTNT HUYỆN BẢO THẮNG, LÀO
CAI (GỌI TẮT LÀ PGD PHÚ XUÂN) ĐƯỢC THÀNH LẬP THEO QUYẾT ĐỊNH SỐ
166/QĐ/NHNO-TCCB NGÀY 02/3/2007 CỦA TỔNG GIÁM ĐỐC NHNO&PTNT VIỆT NAM. TỪ
KHI THÀNH LẬP ĐẾN NAY, PGD PHÚ XUÂN ĐÓ ĐẠT ĐƯỢC NHIỀU THÀNH TỰU ĐÁNG
KHÍCH LỆ 21
PGD PHÚ XUÂN KINH DOANH TIỀN TỆ, TÍN DỤNG VÀ CÁC DỊCH VỤ NGÂN HÀNG TRÊN
ĐỊA BÀN 3 XÃ (GIA PHÚ, XUÂN GIAO, PHÚ NHUẬN) VÀ MỘT THỊ TRẤN (TẰNG LOỎNG)
VỚI DÂN SỐ GẦN 40 NGHÌN NGƯỜI, BAO GỒM 14 DÂN TỘC ANH EM SINH SỐNG, TRONG
ĐÓ ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ CHIẾM 85%. PGD PHÚ XUÂN ĐÃ CHO HƠN 500 HỘ
VAY HƠN 25 TỈ ĐỒNG VỐN ĐỂ SẢN XUẤT 21
2.1.2. CƠ CẤU TỔ CHỨC 21
2.1.2.2. CHỨC NĂNG CỦA CÁC BỘ PHẬN 22

2.1.3.2. HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG 27
2.1.3.3. HOẠT ĐỘNG DỊCH VỤ 29
SV: Trần Thị Thanh Huyền Lớp Tài chính A –
K39
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Ths. Phan Hồng Mai
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngân hàng là một trong những tổ chức tài chính quan trọng nhất của
nền kinh tế, là tổ chức thu hút tiết kiệm lớn nhất trong hầu hết mọi nền
kinh tế. Hàng triệu cá nhân, hộ gia đình và các doanh nghiệp, các tổ chức
kinh tế xã hội điều gửi tiền tại ngân hàng. Ngân hàng đóng vai trị người
thủ quỹ cho toàn xã hội. Thu nhập từ ngân hàng là thu nhập quan trọng của
nhiều hộ gia đình. Ngân hàng là tổ chức cho vay chủ yếu đối với các doanh
nghiệp, cá nhân, hộ gia đình và một phần đối với đất nước. Đối với doanh
nghiệp, ngân hàng thường là tổ chức cung cấp tín dụng để phục vụ cho
việc mua hàng hoá dự trữ hoặc xây dựng nhà máy, mua sắm trang thiết bị.
Các khoản tín dụng của ngân hàng cho Chính phủ là nguồn tài chính quan
trọng để đầu tư phát triển. Ngân hàng thực hiện các chính sách kinh tế, đặc
biệt là chính sách tiền tệ, vì vậy là công cụ quan trọng trong chính sách
kinh tế của Chính phủ nhằm phát triển kinh tế bền vững.
Trong hoạt động của ngân hàng thì tín dụng là một lĩnh vực quan
trọng. Quan hệ tín dụng quyết định mọi hoạt động kinh tế trong nền kinh tế
quốc dân và nó còn là nguồn sinh lợi chủ yếu, quyết định sự tồn tại, phát
triển của ngân hàng. Nghiệp vụ tín dụng không chỉ có ý nghĩa với nền kinh
tế mà nó còn có ý nghĩa quan trọng, quyết định đối với sự tồn tại và phát
triểm của ngân hàng. Chính vì vậy, việc nâng cao chất lượng tín dụng là
vấn đề quan trọng và cần thiết với bất kỳ một ngân hàng thương mại nào
để đảm bảo sự tồn tại và phát triển của mình trong một môi trường cạnh
tranh hết sức gay gắt và quyết liệt như hiện nay.
Chính vì nhận thức rõ tầm quan trọng của vấn đề này, trong quá trình thực

Ngân hàng thương mại.
Chương 2: Thực trạng chất lượng tín dụng tại Phòng giao dịch
Phú Xuân - Chi nhánh ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn
Bảo Thắng, Lào Cai.
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại
Phòng giao dịch Phú Xuân - Chi nhánh ngân hàng nông nghiệp và phát
triển nông thôn Bảo Thắng, Lào Cai.

SV: Trần Thị Thanh Huyền Lớp Tài chính A –
K39
2
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Ths. Phan Hồng Mai
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHẤT LƯỢNG
TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Khái quát về Ngân hàng thương mại
1.1.1. Khái niệm
Ngân hàng thương mại được hiểu theo nhiều cách khác nhau ở các
nước trên thế giới. Ở một số nước thì khái niệm này dựng để chỉ một số tổ
chức tài chính tiền tệ mà hoạt động kinh doanh chủ yếu của nó là nhận tiền
gửi từ các cá nhân hay tổ chức kinh tế rồi lại để cho các tổ chức này vay
lại. Các ngõn hàng không được phép kinh doanh tổng hợp các dịch vụ khác
như đầu tư tài chính, cung cấp dịch vụ cho các nhóm ngành riêng biệt.
Trong khi đó ở một số nước thì lại cho rằng NHTM là ngân hàng được
phép kinh doanh tổng hợp tất cả các dịch vụ ngân hàng.
Ở Việt Nam, NHTM được quy định rõ trong luật Ngõn hàng và các tổ
chức tín dụng: “Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà
hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với
trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay và thực hiện chiết
khấu làm phương tiện thanh toán”.

khoản tiền gửi không kỳ hạn. Loại thứ hai là loại tiền gửi có kỳ hạn mà khi
rút ra người gửi phải báo trước cho ngõn hàng theo các điều khoản mà
khách hàng và ngân hàng đã thoả thuận.
+ Tiền gửi tiết kiệm: Tiền gửi tiết kiệm là nguồn vốn quan trọng của
ngân hàng. Đặc điểm của loại tiền gửi này là người gửi tiền được ngân
hàng giao cho một quyển sổ tiết kiệm. Sổ này được coi như giấy chứng
nhận có tiền gửi và quỹ của ngân hàng.
- Nguồn vốn vay: Ngân hàng có thể huy động vốn vay bằng cách vay
ngắn, trung hoặc dài hạn từ ngõn hàng hay tổ chức tín dụng khác hoặc
nhận uỷ thác đầu tư của các tổ chức tài trợ (chính phủ hay quốc tế) để cho
vay ưu đãi đối với một số đối tượng được lựa chọn.
- Các nguồn vốn huy động khác: Ngõn hàng có thể huy động vốn
bằng cách phát hành các loại chứng khoán (kỳ phiếu, trái phiếu, …) để huy
động vốn từ dân cư hay tổ chức, công ty nào đó …
* Nghiệp vụ tài sản có:
Nghiệp vụ có là nghiệp vụ sử dụng nguồn vốn huy động của NHTM
SV: Trần Thị Thanh Huyền Lớp Tài chính A –
K39
4
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Ths. Phan Hồng Mai
vào các hoạt động kinh doanh chủ yếu sau:
- Nghiệp vụ cho vay: Là việc NHTM cho khách hàng vay một số tiền
để họ sử dụng trong một thời gian nhất định và khi hết hạn vay, người vay
phải trả ngõn hàng một khoản tiền bao gồm cả gốc và lãi.
- Nghiệp vụ bảo lãnh: Là việc ngân hàng cam kết trả thay cho khách
hàng trong trường hợp khách hàng không có khả năng thanh toán. Cách
cho vay như vậy gọi là tín dụng bảo lãnh.
- Nghiệp vụ trung gian: trong hoạt động ngân hàng, các dịch vụ ngõn
hàng được coi là các nghiệp vụ bên thứ ba bên cạnh nghiệp vụ có và nghiệp
vụ nợ. Thông thương ngõn hàng cung cấp các dịch vụ trung gian như:

trưng cơ bản:
- Sự chuyển nhượng giá trị từ người sở hữu sang người sử dụng.
- Sau một thời gian thu hồi về một lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị
ban đầu: thu hồi đúng thời hạn cả gốc và lãi.
- Việc chuyển nhượng được thực hiện trên cơ sở sự tin tưởng của
người chuyển nhượng với người sử dụng.
Ngoài ra, trong quan hệ tín dụng còn co những đắc trưng khác cần đề
cập như khả năng rủi ro, tính đảm bảo, quy luật cung cầu, cạnh tranh, giá
trị và quy luật lưu thong tiền tệ …
Trong lịch sử, quan hệ tín dụng có một quá trình hình thành và phát
triển lâu dài. Trong chế độ công xã nguyên thuỷ lực lượng sản xuất còn
thấp kém nên xã hội chưa có sản phẩm dư thừa để dự trữ, chưa có cơ sở để
nảy sinh mầm mống của chế độ tư hữu. Trong xã hội này chưa có quan hệ
trao đổi, mua bán và vay mượn. Cùng với sự phát triển của xã hội loài
người lực lượng sản xuất ngày càng phát triển, phân công lao động được
hình thành. Lúc này, con người sản xuất sản phẩm không chỉ đủ tiêu dựng
mà còn có một phần tích luỹ để dự trữ. Trong xã hội bắt đầu xuất hiện
mầm mống của chế độ tư hữu về tư liệu lao động và của cải làm ra. Xã hội
có sự phân chia giàu nghèo và các giai cấp hình thành. Chế độ tư hữu về tư
liệu sản xuất cùng với sự phân công lao động xã hội là cơ sở cho sản xuất
hàng hoá ra đời. Và những quan hệ vay mượn đầu tiên chính là nguồn gốc
sâu xa của các quan hệ tín dụng. Như vậy có thể khẳng định tín dụng là
một phạm trù kinh tế ra đời, tồn tại và phát triển cùng với sự ra đời, tồn tại
và phát triển của nền sản xuất và lưu thụng hàng hoá. Tín dụng ra đời là
SV: Trần Thị Thanh Huyền Lớp Tài chính A –
K39
6
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Ths. Phan Hồng Mai
một yếu tố khách quan của sự phát triển kinh tế xã hội.
Sự cần thiết của tín dụng ngân hàng:

SV: Trần Thị Thanh Huyền Lớp Tài chính A –
K39
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Ths. Phan Hồng Mai
phân chia thành:
a) Tín dụng ngắn hạn: là tín dụng có thời hạn dưới một năm nhằm
tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản lưu động, phục vụ nhu cầu sinh hoạt của
các cá nhân. Tín dụng này ít rủi ro vì trong thời gian ngắn ít có biến động
xảy ra, ngân hàng thương mại có thể dự tính được.
b) Tín dụng trung hạn: là tín dụng có thời hạn từ 1 năm đến 5 năm
nhằm tài trợ cho đầu tư vào tài sản cố định, xây dựng các công trình nhỏ có
khả năng thu hồi vốn nhanh.
c) Tín dụng dài hạn: là tín dụng có thời hạn trên 5 năm nhằm đầu tư
vào các dự án đầu tư như xây dựng cơ bản, xây dựng xí nghiệp mới, các
công trình thuộc cơ sở hạ tầng như đường xá, cầu cống, bệnh viện…
Thông thường ở các ngân hàng thương mại hiện nay, tỷ trọng tín dụng
ngắn hạn thường cao hơn tỷ trọng tín dụng trung và dài hạn. Nguyên nhân
là do tín dụng trung, dài hạn có độ rủi ro cao hơn, nguồn vốn đắt và khan
hiếm. Ngoài ra, còn một số yếu tố ảnh hưởng đến nguồn tín dụng trung và
dài hạn như tính kỳ hạn và tính ổn định của nguồn vốn, khả năng dự báo và
dự phòng rủi ro trung, dài hạn.
1.2.2.2. Tín dụng phân chia theo mức độ tín nhiệm đối với khách hàng
a) Tín dụng không có bảo đảm: là hình thức tín dụng ngân hàng
thương mại cấp cho khách hàng có uy tín thường là khách hàng làm ăn
thường xuyên, có lãi, tình hình tài chính vững mạnh, ít xảy ra trường hợp
nợ nần dây dưa hoặc món vay rất nhỏ so với vốn của người vay.
b) Tín dụng có bảo đảm: là hình thức tín dụng ngân hàng và khách
hàng ký hợp đồng bảo đảm. Khách hàng bảo đảm cho khoản tiền vay bằng
tài sản thế chấp, cầm cố tại ngân hàng hoặc phải có sự bảo lãnh của một
bên thứ ba.

xác định mức cho vay và xác định thời hạn cho vay phù hợp với chu kỳ sản
xuất kinh doanh và khả năng trả nợ của khách hàng.
 Cho vay theo hạn mức: là hình thức cấp tín dụng của ngân hàng
thương mại mà theo đó khách hàng chỉ việc làm một bộ hồ sơ để vay trong
một kỳ nhất định với mức tín dụng mà ngân hàng và khách hàng đã thỏa
thuận. Trong hình thức này, khách hàng chỉ lập hồ sơ một lần cho nhiều
khoản vay, ngân hàng thương mại cấp cho khách hàng một hạn mức, chỉ
giới hạn dư nợ, không giới hạn doanh số. Đối tượng cho vay theo hạn mức
là khách hàng có nhu cầu vay vốn thường xuyên, mục đích sử dụng vốn rõ
ràng, tín nhiệm với ngân hàng. Vì vậy, ở loại hình cho vay này, ngân hàng
SV: Trần Thị Thanh Huyền Lớp Tài chính A –
K39
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Ths. Phan Hồng Mai
thương mại không ấn định trước ngày trả nợ, khách hàng có thu nhập thì
ngân hàng thu nợ tạo cho khách hàng chủ động trong việc quản lý ngân
quỹ. Tuy nhiên, các lần vay không tách biệt thành các kỳ hạn nợ cụ thể gây
khó khăn cho ngân hàng trong việc kiểm soát hiệu quả sử dụng vốn từng
lần vay, ngân hàng khó phát hiện được những vấn đề bất ổn của khách
hàng là nguy cơ dẫn đến rủi ro tín dụng.
 Cho vay luân chuyển: Là hình thức cho vay dựa vào sự luân chuyển
của hàng hóa, đáp ứng sự thiếu hụt vốn của doanh nghiệp khi mua hàng.
Ngân hàng cung cấp vốn cho doanh nghiệp để mua hàng và thu nợ khi
doanh nghiệp bán hàng. Tài sản đảm bảo cho khoản vay trong hình thức
này là các khoản phải thu khi bán hàng và các hàng hóa trong kho của
doanh nghiệp. Cho vay luân chuyển thường áp dụng cho các doanh nghiệp
thương mại hay các doanh nghiệp sản xuất có chu kỳ tiêu thụ ngắn ngày,
có quan hệ vay trả thường xuyên với ngân hàng. Nhìn chung, hình thức này
thuận tiện cho khách hàng, đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn thiếu hụt. Tuy
nhiên, cho vay luân chuyển lại không quy định thời hạn khoản vay rõ ràng

c) Bảo lãnh: là cam kết của ngân hàng dưới hình thức thư bảo lãnh
đảm bảo sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách
hàng không thể thực hiện đúng nghĩa vụ như cam kết. Bảo lãnh thường có
3 bên: bên được bảo lãnh, bên bảo lãnh và bên hưởng bảo lãnh. Trong bảo
lãnh ngân hàng, ngân hàng là bên bảo lãnh, khách hàng là bên được bảo
lãnh còn bên hưởng bảo lãnh là bên thứ ba. Bảo lãnh là hình thức tài trợ
thông qua uy tín. Khi bảo lãnh, ngân hàng không phải bỏ tiền ngay, bảo
lãnh được coi như tài sản ngoại bảng. Tuy nhiên, khi khách hàng không
thực hiện được cam kết, ngân hàng sẽ thực hiện nghĩa vụ chi trả cho bên
thứ ba. Khoản chi trả này xếp vào tài sản xấu trong nội bảng, cấu thành nợ
quá hạn nên bảo lãnh cũng chứa đựng rủi ro như một khoản vay, đòi hỏi
ngân hàng phải phân tích khách hàng như khi cho vay. Tùy theo mục tiêu
bảo lãnh mà càng ngày các ngân hàng thương mại phát triển nhiều loại bảo
lãnh khác nhau như:
 Bảo lãnh thực hiện hợp đồng: là ngân hàng cam kết chi trả tổn thất
thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện đúng hợp đồng như
cam kết gây tổn thất cho bên thứ ba.
 Bảo lãnh dự thầu: là ngân hàng cam kết với chủ đầu tư hay chủ thầu
về việc chi trả tiền phạt cho bên dự thầu nếu bên dự thầu vi phạm các quy
SV: Trần Thị Thanh Huyền Lớp Tài chính A –
K39
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Ths. Phan Hồng Mai
định trong hợp đồng dự thầu.
 Bảo lãnh vay vốn: là việc ngân hàng cam kết với người cho vay( tổ
chức tín dụng, các cá nhân…) sẽ trả gốc và lãi đúng hạn nếu khách
hàng( người đi vay) không trả được.
 Bảo lãnh đảm bảo thanh toán: là việc ngân hàng cam kết sẽ thanh
toán tiền theo đúng hợp đồng thanh toán cho người thụ hưởng nếu khách
hàng của ngân hàng không thanh toán đủ.

hàng. Khi nghiên cứu chất lượng tín dụng của ngân hàng có thể nghiên cứu
trên ba giác độ: từ phía khách hàng, từ phía nền kinh tế và từ bản thân ngân
hàng thương mại.
Thứ nhất, đối với khách hàng: chất lượng tín dụng thể hiện đã thỏa
mãn được bao nhiêu trong số những yêu cầu đặt ra của khách hàng. Từ
khía cạnh của khách hàng vay vốn, chất lượng tín dụng tốt đảm bảo được
các yêu cầu như thủ tục đơn giản, giải ngân nhanh chóng, lãi suất thấp,
ngân hàng cung cấp nhiều tiện ích cho khách hàng như dịch vụ tư vấn, lập
phương án kinh doanh cho khách hàng vay vốn…
Thứ hai, đối với sự phát triển kinh tế xã hội: chất lượng tín dụng
mang lại những lợi ích gì cho xã hội, có tuân thủ đúng pháp luật, đóng góp
bao nhiêu phần trăm vào tốc độ phát triển kinh tế? Chất lượng tín dụng tốt
phục vụ sản xuất và lưu thông hàng hóa, góp phần giải quyết công ăn việc
làm, khai thác khả năng tiềm tàng trong nền kinh tế, thúc đẩy quá trình tích
tụ và tập trung sản xuất, giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng trưởng tín
dụng và tăng trưởng kinh tế.
Thứ ba, đối với ngân hàng thương mại: chất lượng tín dụng có thỏa
mãn các kế hoạch chỉ tiêu của nhà quản lý ngân hàng cũng như các chính
sách cạnh tranh của ngân hàng hay không? Ngoài ra, chất lượng tín dụng
còn thể hiện hoạt động tín dụng có đảm bảo tính an toàn vốn và sinh lợi
cho ngân hàng?
1.3.2. Tiêu chí phản ánh chất lượng tín dụng
Ở phần khái niệm trên, cơ sở để đánh giá chất lượng tín dụng của
ngân hàng thương mại là hoạt động tín dụng của ngân hàng đáp ứng được
bao nhiêu nhu cầu khách hàng, phù hợp với sự phát triển kinh tế và đảm
bảo tính an toàn cũng như sinh lợi cho ngân hàng thương mại hay không?
Tuy nhiên để đánh giá cụ thể và chính xác chất lượng tín dụng của ngân
SV: Trần Thị Thanh Huyền Lớp Tài chính A –
K39
13

1.3.2.4. Cơ cấu dư nợ theo các loại hình tín dụng
Chỉ tiêu này cho biết ngân hàng thương mại đã phát triển những hình
SV: Trần Thị Thanh Huyền Lớp Tài chính A –
K39
14
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Ths. Phan Hồng Mai
thức tín dụng nào? Tỷ trọng mỗi hình thức tín dụng là bao nhiêu? Hình
thức tín dụng nào cần ngân hàng thương mại tập trung phát triển hơn nữa?
Đa dạng hóa các loại hình thức tín dụng không những giảm thiểu rủi ro tín
dụng cho ngân hàng mà đem đến cho khách hàng nhiều sự lựa chọn. Trong
điều kiện kinh tế thị trường như hiện nay, cơ cấu dư nợ theo các loại hình tín
dụng không đa dạng phong phú sẽ không có khả năng thu hút khách hàng, mở
rộng và nâng cao chất lượng tín dụng cho ngân hàng thương mại được.
1.4. Nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng của ngân hàng
thương mại.
Hoạt động tín dụng là hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại
(NHTM), hoạt động tín dụng phát triển kéo theo các hoạt động khác của
NHTM phát triển. Chất lượng tín dụng được nâng cao góp phần tăng khả
năng sinh lời cho ngân hàng. Vì vậy, nâng cao chất lượng tín dụng luôn là
cái đích mà tất cả các NHTM muốn hướng tới. Có rất nhiều các nhân tố
ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng của NHTM, không chỉ từ phía chính
NHTM, khách hàng ( KH) mà còn có một số các nhân tố khác.
1.4.1. Nhân tố chủ quan
a. Chính sách tín dụng của ngân hàng: Chính sách tín dụng là
đường lối, chủ trương đảm bảo cho hoạt động tín dụng đi đúng quỹ đạo,
liên quan đến việc mở rộng hay thu hẹp tín dụng. Chính sách tín dụng bao
gồm: hạn mức tín dụng, kỳ hạn của các khoản vay, lãi suất cho vay và mức
lệ phí. Các điều khoản của chính sách tín dụng được xây dựng dựa trên
nhiều yếu tố khác nhau như các điều kiện kinh tế, chính sách tiền tệ và tài
khóa của Chính phủ và ngân hàng nhà nước ( NHNN), khả năng tài chính

chọn và áp dụng hiệu quả các hình thức kiểm tra sẽ thiết lập được hệ thống
phòng ngừa hữu hiệu, giảm rủi ro tín dụng, nâng cao chất lượng tín dụng.
Thu hồi và giải quyết nợ là khâu quyết định đến chất lượng tín dụng.
Sự nhạy bén của NHTM trong việc kịp thời phát hiện những biểu hiện bất
lợi xảy ra với khách hàng cũng như có những biện pháp xử lý kịp thời tư
vấn cho khách hàng giảm thiểu được những khoản nợ quá hạn sẽ tác động
tích cực tới chất lượng hoạt động tín dụng.
Quy trình tín dụng của NHTM không mang tính cứng nhắc. Thực vậy,
đối với mỗi khách hàng khác nhau, ngân hàng có thể chủ động, linh hoạt
thực hiện các bước trong quy trình tín dụng cho phù hợp. Ví dụ, với những
dự án lớn thì bước phân tích là quan trọng; đôi khi có những dự án phức
tạp, NHTM phải thành lập tổ thẩm định riêng. Còn với cho vay tiêu dùng,
SV: Trần Thị Thanh Huyền Lớp Tài chính A –
K39
16
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Ths. Phan Hồng Mai
việc giám sát mục đích sử dụng vốn cần được chú trọng nhiều hơn.
c. Công tác tổ chức ngân hàng: Ngân hàng thương mại được tổ chức
một cách khoa học sẽ đảm bảo được sự phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng giữa
các phòng ban, giữa các ngân hàng với nhau trong toàn hệ thống cũng như
với các cơ quan liên quan khác. Trong công tác tổ chức ngân hàng thương
mại cần chú trọng công tác kiểm tra kiếm soát nội bộ. Thông qua công tác
này giúp các nhà lãnh đạo ngân hàng nắm được những gì đang diễn ra,
phát hiện những thuận lợi cũng như những khó khăn sai trái để từ đó đưa ra
các biện pháp giải quyết kịp thời. Chất lượng tín dụng phụ thuộc vào việc
chấp hành những quy định, thể chế, chính sách và mức độ phát hiện kịp
thời các sai sót cũng như nguyên nhân dẫn đến các lệch lạc trong quá trình
thực hiện một khoản tín dụng.
d. Phẩm chất và trình độ cán bộ: Chất lượng đội ngũ cán bộ trong
ngân hàng là nhân tố quyết định đến sự thành bại trong hoạt động kinh

điều kiện, tiêu chuẩn của tín dụng.
Năng lực, kinh nghiệm quản lý kinh doanh của khách hàng bị hạn chế
là một nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng. Hồ sơ xin vay ban đầu của
khách hàng là có hiệu quả và có tính khả thi cao nhưng trong quá trình thực
hiện do trình độ quản lý còn thấp nên năng suất, chất lượng, hiệu quả
không đạt như kế hoạch. Khi thị trường biến động lại không có biện pháp
xử lý kịp thời nên không ứng phó được, sản phẩm sản xuất ra tiêu thụ khó
khăn dẫn đến không trả được nợ đúng hạn cho ngân hàng.
Nhiều doanh nghiệp nhà nước không theo kịp với sự đổi mới, thường
có thói quen dựa dẫm, trông chờ vào nhà nước, vốn tự có của họ rất ít
nhưng lại được giao những nhiệm vụ sản xuất kinh doanh lớn. Hơn nũa, họ
quen với kiểu làm ăn bao cấp cho nên khi chuyển snag nền kinh tế thị
trường tự hạch toán kinh doanh, họ vay vốn ngân hàng để kinh doanh
nhưng lại thua lỗ và vẫn trông chờ vào sự giúp đỡ của nhà nước như trước
đây. Điều này ảnh hưởng lớn đến chất lượng tín dụng của NHTM vì tín
dụng cấp cho các doanh nghiệp đang chiếm một tỷ trọng lớn trong cơ cấu
cho vay của ngân hàng.
Khách hàng thiếu các điều kiện cần và đủ để thực hiện các nguyên tắc
và quy định về cho vay thế chấp. Ước tính sơ bộ hiện nay có 80% tài sản
của các pháp nhân và cá nhân khu vực kinh tế ngoài quốc doanh và gần
SV: Trần Thị Thanh Huyền Lớp Tài chính A –
K39
18
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Ths. Phan Hồng Mai
100% là tài sản của doanh nghiệp nhà nước không có giấy chứng nhận
quyền sở hữu tài sản cố định, phần lớn là nhà xưởng, máy móc thiết bị lạc
hậu, không đủ tiêu chuẩn để thế chấp. Trong khi đó, yêu cầu vay vốn của
khách hàng gấp 20 đến 50 lần, có doanh nghiệp lên đến hàng trăm lần, như
vậy thì nếu cho vay đúng chế độ thì hầu hết các doanh nghiệp không đủ
điều kiện để cho vay hoặc được vay không đáng kể. Vì vậy chúng ta cần

doanh, nhu cầu tín dụng tăng và rủi ro ít, do đó chất lượng tín dụng cũng
tăng. Tuy nhiên trong thời kỳ này có những khoản vay vượt quá quy mô
sản xuất cũng như khả năng quản lý của khách hàng nên những khoản vay
này vẫn gặp rủi ro.
c. Sự quản lý vĩ mô của Nhà nước: Các chính sách của Nhà nước
ổn định hay không ổn định cũng đều tác động đến chất lượng tín dụng. Khi
các chính sách này không ổn định sẽ gây khó khăn cho doanh nghiệp trong
hoạt động sản xuất kinh doanh, từ đó gây trở ngại cho ngân hàng khi thu
hồi nợ và ngược lại. Hệ thống pháp luật là cơ sở để điều tiết các hoạt động
trong nền kinh tế. Nếu hệ thống pháp luật không đồng bộ hay thay đổi sẽ
làm hoạt động kinh doanh gặp khó khăn. Ngược lại, nếu phù hợp với thực
tế khách quan thì sẽ tạo môi trường pháp lý cho mọi hoạt động sản xuất
kinh doanh tiến hành hiệu quả và đạt kết quả cao.
d. Môi trường xã hội: Quan hệ tín dụng được thực hiện trên cơ sở
lòng tin. Nó là cầu nối giữa ngân hàng và khách hàng. Đạo đức xã hội ảnh
hưởng tới chất lượng tín dụng. Trong trường hợp đạo đức xã hội không tốt,
lợi dụng lòng tin để lừa đảo sẽ làm giảm chất lượng tín dụng. Hơn nữa
trình độ dân trí chưa cao, kém hiểu biết về hoạt động ngân hàng cũng sẽ
làm giảm chất lượng tín dụng.
e. Môi trường tự nhiên: Những biến động bất khả kháng xảy ra
trong môi trường tự nhiên như thiên tai (hạn hán, lũ lụt, động đất, hoả
hoạn) làm ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng,
đặc biệt là trong các ngành có liên quan đến nông nghiệp, thuỷ sản, hải sản.
Vì vậy khi môi trường tự nhiên không thuận lợi thì doanh nghiệp sẽ gặp
khó khăn từ đó làm giảm chất lượng tín dụng của Ngân hàng thương mại.
Trên đây là những nhân tố chính tác động tới chất lượng tín dụng của
Ngân hàng thương mại. Để nâng cao chất lượng tín dụng, chúng ta cần
nghiên cứu và nhận thức đúng đắn các yếu tố trên, cùng với kết quả hoạt
động thực tiễn của các Ngân hàng thương mại, để từ đó đưa ra các biện
pháp khắc phục có tính khả thi cao.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status