265 Giải pháp hoàn thiện và mở rộng phát hành cổ phiếu lần đầu qua đấu giá tại Việt Nam - Pdf 23

Chương 1: Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài

Trang 1 LỜI MỞ ĐẦU
1. Ý nghóa chọn đề tài nghiên cứu
Thứ trưởng Bộ tài chính Lê Thò Băng Tâm đã khẳng đònh trong cuộc đối thoại giữa
Bộ tài chính với các nhà đầu tư nước ngoài tại Hà Nội ngày 20/7/1999: “ Đầu tư trực tiếp
nước ngoài tạo ra gần 9% GDP, đóng góp gần 8% nguồn thu từ thuế và lệ phí của ngân
sách Nhà nước, chiếm gần ¼ kim ngạch xuất khẩu của cả nước và 30% tổng giá trò sản
lượng công nghiệp, tạo việc làm cho trên 280.000 lao động. Các doanh nghiệp có vốn đầu
tư trực tiếp nước ngoài đã khẳng đònh vò trí ngày càng quan trọng trong sự nghiệp Công
nghiệp hóa - Hiện đại hóa của Việt Nam”. Tuy nhiên, trong mấy năm trở lại đây, do nhiều
nguyên nhân khách quan và chủ quan, tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam
đang giảm xuống một cách nghiêm trọng.
Thành phố Hồ Chí Minh là một trung tâm kinh tế lớn của cả nước, là đòa phương
luôn dẫn đầu trong cả nước về thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong 15 năm qua,
chiếm gần 1/3 vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam. Nhưng tốc độ đầu tư trực tiếp
nước ngoài của thành phố đang chậm lại. Chính vì vậy, trước mắt và về lâu dài, việc đề
xuất ra những giải pháp nhằm tăng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài trên đòa bàn thành
phố Hồ Chí Minh cũng chính là tăng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài cho cả nước và tạo
nên một lực đẩy cho nền kinh tế phát triển.
Do đó, luận án “Một số giải pháp tăng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài trên
đòa bàn thành phố Hồ Chí Minh” được hình thành xuất phát từ những lý do nêu trên.
2. Mục tiêu nghiên cứu đề tài

- Đánh giá thực trạng thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của thành phố.
Nghiên cứu các nhân tố tác động đến đầu tư trực tiếp nước ngoài trên đòa bàn
thành phố.
- Đề xuất các giải pháp nhằm tăng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài trên đòa

Minh trong thời gian qua, so sánh với tình hình đầu tư tại hai tỉnh Đồng Nai và Bình Dương,
từ đó ghi nhận và lý giải những hiệu quả tích cực và những hạn chế của mảng hoạt động
kinh tế đối ngoại này.
- Đưa ra những đề xuất và kiến nghò mang tính khả thi nhằm nâng cao khả năng thu
hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại thành phố trong thời gian tới.
6. Nội dung nghiên cứu đề tài

Đề tài được chia thành 3 chương có liên quan chặt chẽ với nhau.
Chương 1 : VAI TRÒ CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI, sẽ làm rõ
những vai trò mà đầu tư trực tiếp nước ngoài mang lại cho cả chủ đầu tư và nước tiếp nhận
đầu tư, đồng thời khái quát một số nét về tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam.
Chương 2 : TÌNH HÌNH ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI THÀNH
PHỐ HỒ CHÍ MINH, chương này nêu lên thực trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài và phân
tích hiệu quả của đầu tư trực tiếp nước ngoài mang lại cho nền kinh tế thành phố.
Chương 3 : MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP
NƯỚC NGOÀI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, chương này đưa ra
những giải pháp và kiến nghò để giải quyết những tồn tại nhằm tăng khả năng thu hút đầu
tư trực tiếp nước ngoài trên đòa bàn thành phố. Chương 1: Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài

Trang 3
CHƯƠNG 1

tiến hành một hoặc nhiều hoạt động sản xuất kinh doanh ở Việt Nam trên cơ sở qui đònh
trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên mà không thành lập xí nghiệp
liên doanh hay bất cứ một pháp nhân mới nào.
Đặc điểm của hình thức đầu tư này là:
- Các bên Việt Nam và bên nước ngoài cùng nhau hợp tác kinh doanh, trên cơ sở
văn bản hợp đồng đã ký giữa các bên về: việc phân đònh trách nhiệm, quyền lợi,
nghóa vụ.
- Không thành lập một pháp nhân mới, tức là không cho ra đời Công ty, xí nghiệp mới.
Chương 1: Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài

Trang 4
- Vấn đề vốn kinh doanh có thể được đề cập hoặc không nhất thiết được đề cập
tới trong văn bản hợp đồng hợp tác kinh doanh.
1.1.3.2 Doanh nghiệp liên doanh
Là doanh nghiệp được thành lập giữa một bên là Việt Nam và bên kia là các bên
nước ngoài tham gia đầu tư liên doanh (có thể hai bên hoặc nhiều bên tham gia liên doanh).
Đặc điểm của hình thức liên doanh:
- Cho ra đời một xí nghiệp hoặc công ty mới, với tư cách pháp nhân Việt Nam và
được thành lập dưới dạng công ty trách nhiệm hữu hạn.
- Các doanh nghiệp liên doanh hoạt động theo nguyên tắc tự chủ về tài chính.
- Vốn pháp đònh do các bên đóng góp tối thiểu bằng 30% tổng số vốn đầu tư.
Trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp liên doanh không được giảm vốn pháp
đònh.Việc tăng vốn do các bên liên doanh thoả thuận. Vốn pháp đònh có thể góp
trọn một lần khi thành lập liên doanh hoặc từng phần trong một thời gian hợp lý
do các bên thoả thuận.
- Cơ quan lãnh đạo cao nhất của liên doanh là Hội đồng quản trò, có thẩm quyền
quyết đònh các vấn đề quan trọng.Tổng giám đốc và các Phó Tổng giám đốc
chòu trách nhiệm quản lý và điều hành công việc hàng ngày của liên doanh. Nếu
Tổng giám đốc là người nước ngoài thì Phó Tổng giám đốc thứ nhất phải là công
dân Việt Nam và sinh sống tại Việt Nam.

Chính phủ Việt Nam mà không thu bất kỳ một khoản tiền nào.
1.1.3.5 Hình thức khu chế xuất
Đây là một khu vực lãnh thổ được nhà nước qui hoạch riêng nhằm thu hút các nhà đầu tư
trong nước và nước ngoài vào hoạt động để chế biến hàng công nghiệp phục vụ cho xuất khẩu.
Đặc đểm của khu chế xuất:
- Đơn vò tổ chức khai thác khu chế xuất là một doanh nghiệp bỏ vốn kinh doanh hạ
tầng cơ sở và các dòch vụ phục vụ cho các nhà máy xí nghiệp hoạt động trong khu
chế xuất.
- Khu chế xuất được qui hoạch tách khỏi phần nội đòa bởi một tường rào bao bọc.
- Hàng hoá nhập khẩu phục vụ cho sản xuất kinh doanh của khu chế xuất hoặc hàng
hoá của khu chế xuất xuất khẩu ra nước ngoài được miễn thuất xuất nhập khẩu.
- Hàng hoá ra vào khu chế xuất, kể cả lưu thông với nội đòa phải chòu sự kiểm soát
của Hải quan.
- Trong khu chế xuất không có hoạt động sản xuất nông nghiệp và không có dân cư
sinh sống.
1.1.3.6 Hình thức phát triển khu công nghiệp
Là khu do Chính phủ Việt Nam quyết đònh thành lập, có ranh giới đòa lý xác đònh,
chuyên sản xuất công nghiệp và thực hiện các dòch vụ hỗ trợ sản xuất công nghiệp, không có
dân cư sinh sống.
Đặc điểm của khu công nghiệp:
- Đây là khu vực được qui hoạch riêng thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước vào
hoạt động để sản xuất, chế biến hàng công nghiệp.
- Hàng hoá của khu công nghiệp không những phục vụ cho xuất khẩu mà còn phục vụ
cho những nhu cầu của nội đòa.
- Hàng hoá nhập khẩu vào khu công nghiệp và từ đây xuất khẩu ra nước ngoài phải
nộp thuế xuất nhập khẩu theo luật hiện hành( trừ khu chế xuất và xí nghiệp chế xuất
hoạt động trong khu công nghiệp).

1.2 VAI TRÒ CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
Quá trình đầu tư trực tiếp nước ngoài liên quan đến hai bên : bên xuất khẩu vốn đầu

thời gian sử dụng máy móc thiết bò công nghệ bằng cách nâng cao tỷ lệ khấu hao
(đưa thêm vào yếu tố hao mòn vô hình).
- Trước sức ép ngày càng tăng lên mạnh mẽ về cạnh tranh và những thay đổi mau lẹ
trong sở thích thò hiếu của người tiêu dùng, cũng như những nỗ lực nhằm tìm kiếm
những chất liệu thay thế, các doanh nghiệp đã tiêu tốn rất nhiều tiền của vào các
hoạt động nghiên cứu và phát triển (R & D : Research & Development), đặc biệt là
nghiên cứu cơ bản. Những khoản chi phí nói trên cuối cùng sẽ được phân bổ vào chi
phí sản xuất và kết quả là doanh lợi có xu hướng giảm.
- Bên cạnh đó, xuất phát từ những quan ngại về sự xuống cấp của chất lượng môi
trường, mà nguyên nhân chủ yếu do bởi những hoạt động kinh tế của con người, dư
luận và các phong trào đấu tranh xã hội đã buộc chính phủ đẩy mạnh các biện pháp
cưỡng chế các doanh nghiệp quan tâm thích đáng đến sự an toàn của môi trường
sinh thái. Các biện pháp này bao gồm: tăng thuế tài nguyên và xử phạt hành chính
về các vi phạm tiêu chuẩn an toàn, yêu cầu lắp đặt các thiết bò xử lý chất thải công
nghiệp và thay thế chất liệu sử dụng có mức độ độc hại ít hơn. Tình hình nói trên
đã buộc các doanh nghiệp phải bỏ ra những khoản đầu tư bổ sung và cấu thành một
bộ phận chi phí mà họ phải gánh chòu.
- Ngoài ra, với sức sản xuất và tiêu thụ ngày càng mở rộng, trữ lượng các nguồn tài
nguyên dùng cho sản xuất sẽ cạn kiệt dần, sự khan hiếm tài nguyên tất yếu dẫn
đến chi phí sử dụng mỗi yếu tố đầu vào đắt đỏ hơn so với trước.
Chương 1: Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài

Trang 7
* Đối với nhóm đầu tư thuộc V
Tiền lương là bộ phận chi phí quan trọng đang có xu hướng tăng không ngừng tại
các nước phát triển. Càng ngày các chủ doanh nghiệp phải trả nhiều tiền hơn cho việc
tuyển dụng và đào tạo lao động. Ở Anh quốc, trong lónh vực chế tạo; chỉ số tiền công theo
tuần từ năm 1971 đến năm 1981 tăng gần 5 lần và chỉ số bán lẻ cũng tăng gần 5 lần
(1)
.

vốn đầu tư có xu hướng giảm đi tại môi trường đầu tư trong nước. Thông qua đầu tư cắm
nhánh ở nước ngoài, nhiều công ty của các nước công nghiệp phát triển và những nước mới
được công nghiệp hóa không những duy trì được hiệu quả kinh doanh của vốn đầu tư mà
còn hơn thế nữa đã thu được những khoản lợi nhuận khổng lồ từ môi trường đầu tư ở nước
ngoài. Ví dụ như thông qua đầu tư quốc tế, số lợi nhuận mà các công ty Mỹ thu được từ
ASEAN năm 1985 là 1.600 triệu USD, năm 1986 là 1.379 triệu USD, năm 1989 là 2.745
triệu USD
(2)
.

(1)
Nguồn: Christopher, St., JYates: “Economics” Cassell Publishers Ltd, London 1989.
(2)
Mai Đức Lộc - Tạp chí Kinh tế Thế giới, số 5-10/1994.
Chương 1: Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài

Trang 8
Sự chênh lệch ở mức độ lớn giữa chi phí sản xuất trong nước và chi phí sản xuất
ngồi nước thể hiện ở mỗi khoản mục chi phí chính là nguồn gốc tạo nên những khoản lợi
nhuận khổng lồ cho nhà đầu tư. Cụ thể, khi xúc tiến đầu tư tại nước ngoài, nhất là tại các
nước đang phát triển, các nhà đầu tư tại các nước công nghiệp phát triển đã có thể:
+ Khai thác lợi thế giá nhân công rẻ mạt tại môi trường đầu tư nước ngoài. Theo
thống kê của Liên Hiệp Quốc, tiền lương của các nước đang phát triển chỉ bằng 1/15 - 1/10
tiền lương cùng ngành nghề tại các nước công nghiệp phát triển. Cụ thể, tiền công theo giờ
của công nhân các nước ASEAN làm việc trong chi nhánh các công ty xuyên quốc gia
(TNCs: Transnational companies) Mỹ thuộc ngành công nghiệp chế biến trung bình là
0,872USD, trong khi tiền công trung bình cùng ngành ở Mỹ là 11,3 USD, còn ở Đức là
9,09USD
(3)
. Như vậy chỉ riêng yếu tố C trong cơ cấu (C + V) của ngành này trung bình

- Bảo hiểm hàng hóa

(3)
ASEAN Economy in figured, số 417-1989.
Chương 1: Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài

Trang 9
- Bốc dỡ, đóng gói, thuế quan xuất nhập khẩu
- Hàng rào bảo hộ mậu dòch khi bán hàng cho nước thứ ba không còn áp dụng quy
chế ưu đãi mậu dòch đối với quốc gia họ.
Việc tiết giảm các loại chi phí nói trên có ý nghóa rất lớn đối với sản xuất - kinh
doanh: nó sẽ tạo thêm lợi thế cạnh tranh bằng giá trên thò trường để mở rộng thò phần và
lượng cầu. Hoặc nếu giá bán không đổi, mức giảm chi phí được chuyển thành mức lợi
nhuận tăng lên tương ứng.
1.2.1.3. Đầu tư trực tiếp nước ngoài tạo điều kiện cho các nhà đầu tư kiểm soát và ổn
đònh hóa các nguồn nguyên liệu, đặc biệt các loại nguyên liệu có tầm chiến lược
Tại các nước công nghiệp hàng đầu với quá trình phát triển đã mấy trăm năm, cộng
với nhu cầu tiêu dùng nội đòa và xuất khẩu đang tăng lên nhanh chóng, đã làm cho các
nguồn cung cấp nguyên liệu từ trong nước ngày càng trở nên khan hiếm, cạn kiệt dần và
không còn đáp ứng đủ về mặt số lượng cũng như chủng loại cho sức sản xuất đã và đang
phát triển ở quy mô chưa từng thấy. Do đó, những nỗ lực nhằm mở rộng nguồn cung từ bên
ngoài chính là để bù đắp cho sự thiếu hụt này và thường được tiến hành theo 3 cách:
- Nhập khẩu nguyên liệu.
- Đầu tư khai thác nguyên liệu sau đó vận chuyển về chính quốc rồi tiếp tục quá trình
chế biến.
- Tổ chức khai thác và chế biến tại chỗ.
Tuy nhiên, do chi phí vận chuyển ngày càng trở nên đắt đỏ, và môi trường sản xuất
trong nước ngày càng trở nên bất lợi (chi phí nhân công cao, đồng tiền tăng giá...), vì vậy
các nhà đầu tư có khuynh hướng nghiêng về phương cách thứ ba: phát triển nguồn cung và
tổ chức sản xuất - kinh doanh tại chỗ thông qua phát triển mạng lưới chi nhánh, thành lập

đối với các nước này. Cho nên, chiến lược kinh doanh quốc tế của các công ty xuyên quốc
gia không chỉ do họ quyết đònh, mà còn tuỳ thuộc vào chiến lược chung của chính phủ đối
với từng quốc gia hay khu vực trên thế giới. Do đó, khi xét đến các nhân tố thúc đẩy xuất
khẩu vốn đầu tư, sẽ là thiếu sót nếu không đề cập đến các yếu tố xuất phát từ chính sách
đối ngoại của chính phủ của chủ thể đầu tư.
Cụ thể, trước đây Nhật Bản ưu tiên đầu tư vào Tây Âu và Bắc Mỹ, nơi hoạt động
sản xuất gắn liền với thò trường tiêu thụ rộng lớn và có cơ sở hạ tầng được xem là tốt nhất
thế giới. Tuy nhiên, từ cuối thập niên 80 trở lại đây, Nhật Bản đã chú ý nhiều hơn đến khu
vực Châu Á - Thái Bình Dương vào trong tiêu chuẩn chiến lược đối ngoại của Nhật được
thể hiện qua nỗ lực ưu tiên cấp ODA cho các nước trong khu vực. Cụ thể, nguồn viện trợ
phát triển chính thức (ODA) của Nhật Bản đã chiếm 43,2% nguồn cung cấp vốn ODA cho
các nước Châu Á, riêng năm 1990 nguồn vốn ODA của Nhật cung cấp cho các nước Châu
Á là 8,9 tỷ USD, chiếm 62,9% tổng số vốn ODA của Nhật Bản ra nước ngoài. Trong khi
đó, tỷ lệ đầu tư trực tiếp của Nhật vào khu vực đã tăng từ 12,2% năm 1990 lên 14,3% năm
1992. Cũng cùng thời gian tương ứng, đầu tư của Nhật vào Mỹ giảm từ 48,2% xuống còn
43,2%. Xuất khẩu cũng đã có sự chuyển dòch đáng kể về mặt đòa bàn, chỉ tính riêng trong
năm 1992, xuất khẩu của Nhật sang Mỹ và Châu Âu tăng trưởng 5% thì ở thò trường Châu
Á tăng đến 11% so với 1991.
(5)

Ví dụ trên chứng tỏ rằng đầu tư quốc tế, dù là của chính phủ hay là của tư nhân đều
là mỗi bộ phận của một chính sách đối ngoại nhất quán, phục vụ cho các mục tiêu kinh tế -
chính trò quốc tế của nước đầu tư, duy trì sự lệ thuộc toàn diện của nước tiếp nhận đầu tư
vào nước đầu tư; biến các nước nhận đầu tư thành căn cứ quân sự, thò trường tiêu thụ sản
phẩm thặng dư và đòa bàn phục vụ quá trình cải tổ cơ cấu kinh tế trong nước; truyền bá văn
hóa, tư tưởng và tạo ảnh hưởng chính trò. Và để đạt mục tiêu này, đầu tư chính phủ đóng
vai trò dẫn đạo, đònh hướng cho đầu tư tư nhân và ngược lại, xu hướng vận động của đầu tư
tư nhân là nền tảng cho sự hỗ trợ của chính sách đối ngoại về kinh tế của chính phủ nhằm
đạt đến lợi ích kinh tế - chính trò cao nhất cho nước đầu tư.
1.2.1.5 Đầu tư ra nước ngoài giúp đối phó với tình trạng bản tệ tăng giá nhằm duy

1.2.2 Đối với nước nhập khẩu vốn
Đầu tư trực tiếp nước ngoài không chỉ đơn phương xuất phát từ lợi ích của nhà đầu
tư mà còn xuất phát từ những động cơ lợi ích của nước tiếp nhận đầu tư. Điều này được thể
hiện qua hiện tượng đội quân các quốc gia tích cực mở cửa để đón nhận các luồng đầu tư
nước ngoài.
1.2.2.1 Đầu tư trực tiếp nước ngoài đóng vai trò nguồn vốn đầu tư quan trọng cho
nền kinh tế
Xuất phát từ thực trạng nghèo nàn và lạc hậu toàn diện về kinh tế - xã hội, do đó,
phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng nhanh để tránh tụt hậu so với phát triển chung của thế giới
là mục tiêu hàng đầu của các nước kém phát triển. Nhưng vấn đề khó khăn mà các nước
gặp phải là mục tiêu tăng trưởng nhanh lại mâu thuẫn với vốn đầu tư thiếu hụt trầm trọng.
Nguồn vốn nội đòa không đủ đáp ứng; trang trải cho nhu cầu đầu tư để tăng trưởng kinh tế
nhanh chóng.
Thật vậy, giả sử một nước kém phát triển nào đó đặt ra mục tiêu tăng trưởng là
9%/năm và hệ số ICOR (Inerememtal capital - Output Ratio: tỷ suất tăng vốn - xuất
lượng) đối với họ là 3, thì theo mối quan hệ giữa các đại lượng trong mô hình tăng trưởng
Harrod - Domar:
G = S/K
G : tốc độ tăng trưởng kinh tế
S : tỷ lệ vốn đầu tư trong GDP
K : hệ số ICOR
Với giả thuyết trên, nếu quốc gia đó chỉ sử dụng nguồn vốn tự tiết kiệm để đầu tư
thì họ phải có mức tích luỹ nội bộ là :
S = K × G
= 3 × 9% = 27% GDP
Trên thực tế, mức tích luỹ 27% GDP đối với các nước kém phát triển là một điều hy
hữu. Việt Nam chúng ta bây giờ cũng đang ở trong tình trạng như một số nước đang phát
triển đầu thập niên 60. Với mức tiết kiệm và đầu tư yếu kém như vậy, cho nên chẳng lấy gì
Chương 1: Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài


tình trạng thiếu hụt hàng hóa tiêu dùng trong nước và quan trọng hơn là máy móc thiết bò
dùng trong sản xuất. Vì đa số hết sức cũ kỹ, lạc hậu. Từ đó nảy sinh nhu cầu nhập khẩu
hàng hóa và máy móc thiết bò rất lớn để có khả năng ổn đònh và thúc đẩy tăng trưởng kinh
tế. Trong khi khả năng xuất khẩu của các quốc gia này rất hạn chế (chủ yếu là sản phẩm
thô), đã tạo nên một lỗ hổng thương mại rất lớn. Thêm vào đó dòng thu nhập ròng từ các
yếu tố ở các nước đang phát triển thường nhỏ hơn 0, còn chuyển nhượng ròng thường lớn
hơn 0 nhưng lại không đáng kể.
Kết cục là, nếu muốn nhu cầu nhập khẩu hàng hóa và máy móc thiết bò được thỏa
mãn sẽ dẫn đến tình trạng thâm hụt tài khoản vãng lai. Do đó, nhu cầu nhập khẩu chỉ được
thực hiện khi có khả năng bù đắp sự thiếu hụt ngoại tệ từ tài khoản vốn.
Nhờ có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) mà tài khoản vốn có thể bù đắp sự
thâm hụt của cán cân thanh toán. Chính vì vậy mà nhu cầu nhập khẩu hàng hóa và máy
móc thiết bò cho mục tiêu phát triển kinh tế được thực hiện. (6)
Báo cáo phát triển Thế giới 1985. WB. New York-1986
Thu nhập thấp
Năng suất thấp
Tăng trưởng chậm Tích lũy và đầu tư
Chương 1: Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài

Trang 13
1.2.2.3 Đầu tư trực tiếp nước ngoài giúp tiếp nhận công nghệ tiên tiến, kinh
nghiệm quản lý và trình độ kinh doanh
* Vai trò của công nghệ

Trong thời đại ngày nay, với tư cách là lực lượng sản xuất trực tiếp, hầu như không
còn ai nghi ngờ vai trò của khoa học kỹ thuật nói chung và công nghệ nói riêng đối với sự
phát triển kinh tế - xã hội.

Vai trò của công nghệ trong quá trình phát triển kinh tế đã được làm rõ, ở đây chúng
ta sẽ đề cập đến vấn đề: Tại sao các nước đang phát triển không tự sản xuất ra công nghệ
mà phải du nhập từ nước ngoài? Lý do là:
- Ở các nước đang phát triển, thiếu các chuyên gia và các nhà khoa học đủ sức thực
hiện những phát triển khoa học mới.
- Thiếu kinh phí đủ để tài trợ cho những chương trình, dự án nghiên cứu cơ bản và
ứng dụng.
Chương 1: Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài

Trang 14
Cho nên tiếp thu công nghệ chuyển giao từ bên ngoài là cách thức mang tính khả thi
và có nhiều triển vọng nhất giúp các nước chưa có truyền thống phát triển công nghệ vừa
có truyền thống phát triển công nghệ vừa có công nghệ mới để sử dụng vừa tránh được
nhiều thế kỷ nỗ lực và đau khổ mà các nước công nghiệp hiện đại đã trải qua.
* Ưu điểm của hình thức chuyển giao công nghệ qua kênh đầu tư trực tiếp nước ngoài

Thông thường sự du nhập công nghệ nước ngoài được thực hiện dưới nhiều hình thức
khác nhau :
- Nhập khẩu máy móc thiết bò
- Thuê hoạt động hoặc thuê mua tài chính
- Chuyển giao công nghệ qua hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
Hai phương thức đầu gặp phải một số khó khăn như: thiếu vốn, đònh giá công nghệ...
Vì đây là một thò trường không hoàn hảo. Hơn nữa ai là người có khả năng sử dụng công
nghệ đó? Sử dụng như thế nào để mang lại hiệu quả cao nhất? Chính vì vậy, việc du nhập
công nghệ nước ngoài thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tỏ ra có nhiều ưu điểm
hơn. Trong đầu tư trực tiếp nước ngoài, vì mục tiêu lợi nhuận nên khi xúc tiến đầu tư, các
công ty nước ngoài đã phải chuyển tải toàn vẹn công nghệ, bao gồm: máy móc thiết bò, kỹ
năng quản trò, đào tạo tay nghề... cho các công ty con. Nhờ đó nước tiếp nhận đầu tư trực
tiếp nước ngoài (FDI) có thể tiếp cận công nghệ tiên tiến, kinh nghiệm quản lý và trình độ
kinh doanh từ nước ngoài.

1.2.2.5 Đầu tư trực tiếp nước ngoài góp phần giải quyết việc làm, nâng cao trình độ
làm việc và tăng thu nhập cho người lao động
* Giải quyết việc làm

Việc thực hiện các dự án đầu tư thực hiện nước ngoài tất yếu sẽ kéo theo nhu cầu
tuyển dụng lao động trong nước, gồm có lao động trực tiếp và lao động gián tiếp.
Lao động trực tiếp là những người làm việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài. Còn lao động giao tiếp là những người được tuyển dụng để làm việc trong các
ngành liên quan đến các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Trong mục 1.2.2.4, chúng ta đã thừa nhận vốn đầu tư trực tiếp FDI có tác dụng kích
thích các ngành liên quan phát triển. Khi các ngành liên quan phát triển lại có nhu cầu
tuyển dụng lao động.
Tuy vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI cũng gián tiếp làm mất việc làm của một
số người ở các doanh nghiệp khác do sự cạnh tranh của các dự án có vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài mà dẫn đến phá sản hoặc thu nhỏ qui mô, nhưng tác động đó thường không
đáng kể trước khả năng tạo việc làm của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Do đó, kết quả là
đầu tư trực tiếp nước ngoài có tác động tích cực đến vấn đề giải quyết việc làm ở nước tiếp
nhận đầu tư.
Chẳng hạn như một công ty máy tính của Mỹ sản xuất ở đóa đã làm tăng công ăn
việc làm ở khu vực Bangkok từ 5000 lên 20000 người trong năm 1998. Hoặc ở Singapore
trong năm 1989, các công ty có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 70% lao động có việc làm
trong khu vực chế biến
(8)
.
* Chất lượng lao động

Nhờ có đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) mà trình độ lao động cũng được nâng cao,
vì các lý do sau :
- Các công ty có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thường có những chương trình đào
tạo nhân viên để làm việc cho công ty của mình.

Như vậy vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đã trở thành tiền đề quan trọng để thu hút
vốn ODA cho chương trình phát triển của đất nước.
1.2.2.7 Đầu tư trực tiếp nước ngoài làm tăng nguồn thu cho ngân sách Nhà nước
Một lợi ích đễ nhận thấy nhất đó là sự đóng góp của các doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài vào ngân sách Nhà nước thông qua các loại thuế như thuế doanh thu, thuế
tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất nhập khẩu... Bên cạnh đó, còn có sự đóng thuế thu nhập của
các nhân viên làm việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Những lợi ích to lớn mang lại cho thấy rằng đầu tư trực tiếp nước ngoài là hoạt động
kinh tế đối ngoại không thể thiếu của nền kinh tế. Về mặt thực tiễn, đầu tư trực tiếp nước
ngoài tại Việt Nam đã minh họa điều này.
1.3 TÌNH HÌNH ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM 1988 - 2004
1.3.1 Bối cảnh ra đời của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
Ngày 23/12/1987, Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam đã thông qua Luật đầu tư
nước ngoài tại Việt Nam (gọi tắt là Luật đầu tư 1987) tạo nên môi trường pháp lý đầu tiên
cho hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam ra đời
trong bối cảnh sau:
1.3.1.1 Bối cảnh thế giới
Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam đã ra đời trong bối cảnh quốc tế sau :
- Sự phát triển của giao lưu thương mại quốc tế đã làm xuất hiện nhu cầu đầu tư,
trao đổi tư bản giữa các quốc gia. Hiện nay, mô hình “Kinh tế đóng” đã trở nên lỗi thời và
xu hướng phát triển “kinh tế mở” theo hướng: mở rộng tất cả các cánh cửa ở cả hai chiều
cho xuất nhập khẩu hàng hóa, tư bản, dòch vụ, công nghệ - kỹ thuật, lao động...
- Sự phát triển nhanh đến chóng mặt của các phương tiện giao thông, liên lạc, kỹ
thuật điện toán đặc biệt là các lónh vực điện tử - tin học phục vụ cho đời sống và sản xuất...
đã đặt những người làm kinh tế vào thế phải cạnh tranh khốc liệt để vươn tới sự hoàn hảo
của kỹ thuật và giảm tối đa chi phí.
- Thể chế chính trò, kinh tế, xã hội của nhiều quốc tế trong những thập kỷ vừa qua
đã có những thay đổi quan trọng phù hợp với nền kinh tế mở, với các thông lệ quốc tế, đảm
bảo được lợi ích của chủ đầu tư nước ngoài.
Các quốc gia đang phát triển, trong đó có Việt Nam không thoát ra khỏi guồng vận

1.3.2 Tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam giai đoạn 1988 –10/ 2004
Sau khi Luật đầu tư nước ngoài được ban hành tháng 12/1987 tổng vốn đầu tư nước
ngoài vào Việt Nam và số dự án được cấp giấy phép tăng đều qua các năm. Tính cho đến
hết 31/12/2003 đã có 5441 dự án được cấp giấy phép với tổng số vốn đầu tư đăng ký là
45776,8 triệu USD. Đến nay đã có trên rất nhiều công ty thuộc 66 nước và vùng lãnh thổ
có dự án đầu tư tại Việt Nam.
Trong giai đoạn 1988 - 2003, tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam
tăng cả về số vốn đăng ký lẫn số dự án được cấp giấy phép.Tuy vậy, trong 2 năm 1997 và
1998, tình hình đầu tư đã bò sút giảm đáng kể. Số vốn đầu tư đăng ký năm 1997 chỉ bằng
54.5% so với năm 1996, năm 1998 chỉ bằng 84.47% năm 1997. Số dự án năm 1997 cũng
giảm đi 29 dự án so với năm 1996, năm 1998 giảm 73 dự án so với năm 1997. Sau khi
khủng hoảng kinh tế Châu Á qua đi, tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam
đang dần hồi phục với số lượng dự án đăng ký hàng năm tăng lên nhưng số vốn đầu tư lại
càng ngày càng giảm và vẫn còn kém rát xa so với trước khi cuộc khủng hoảng xảy ra. 10
tháng đầu năm 2004 có 578 dự án với tổng vốn 1739,8 triệu USD đầu tư vào nước ta, chủ
yếu là ở 4 ngành, lónh vực: nông-lâm nghiệp với 72 dự án và 283,59 triệu USD, khách sạn-
du lòch với 17 dự án và gần 148 triệu USD, công nghiệp với 362 dự án và 1023.26 triệu
USD, lónh vực xây dựng văn phòng căn hộ vẫn hấp dẫn các nhà đầu tư với 5 dự án và
121,8 triệu USD. Trong số các dự án đầu tư từ đầu năm, chủ yếu phân bổ tại các đòa
phương: Đồng Nai 71 dự án và 451,36 triệu USD, Bình Dương 113 dự án và 275,7 triệu
USD, Tp.Hồ Chí Minh 162 dự án và 250,96 triệu USD, Thái Nguyên 3 dự án và 147,65
triệu USD, Hải Phòng 16 dự án và 84, 65 triệu USD, Hà Nội 52 dự án và 66,62 triệu
USD….Các năm trở lại đây, tuy đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam đang dần hồi
Chương 1: Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài

Trang 18
phục nhưng tốc độ rất chậm cho dù là có khả quan. Số dự án và số vốn đầu tư qua các năm
tăng dần nhưng không có sự nhảy vọt đột biến và vẫn còn ít hơn rất nhiều cả về số dự án
lẫn số vốn đầu tư so với thời điểm trước khi xảy ra cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á
năm 1997. Điều đáng ngại hơn nữa là, theo ông cựu Bộ trưởng Trần Xuân Giá, số khách

Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam phân bổ không đồng đều giữa các ngành
và vùng lãnh thổ. Chủ yếu tập trung ở vùng Đông Nam Bộ (Tp.Hồ Chí Minh, Đồng Nai,
Bình Dương, Bà Ròa Vũng Tàu) với 3371 dự án và 23522.4 triệu USD vốn đầu tư , Đồng
Bằng Sông Hồng ( Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh) vối 1100 dự án và 11673.4 triệu USD
vốn đầu tư.
Các ngành công nghiệp, xây dựng và tài chính tín dụng vẫn là những ngành thu hút
đầu tư trực tiếp nước ngoài chủ yếu tại nước ta. Ngành công nghiệp chiếm 64.55% số dự án
và 49.3% vốn đầu tư. Ngành xây dựng chiếm 10.09% số vốn đầu tư và ngành tài chính tín
dụng là 11.29% vốn đầu tư.
Chương 1: Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài

Trang 19
Trong số các nước đầu tư vào Việt Nam, đến nay dẫn đầu vẫn là các nước Châu Á
như Singapore 7399.1 triệu USD, Đài Loan 5418.5 triệu USD, Hàn quốc 4113 triệu USD,
Nhật Bản 4032.5 triệu USD. Các nước phương Tây vẫn chưa đầu tư nhiều vào Việt Nam,
đặc biệt là Mỹ.
Tuy nhiên với những gì đạt được, đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng đã mang lại
nhiều hiệu quả cho nền kinh tế nước ta.
1.3.3 Hiệu quả đầu tư trực tiếp trong những năm qua
1.3.3.1 Hiệu quả kinh tế
Khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đã góp một phần đáng kể trong nền kinh
tế Việt Nam. Tỷ trọng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội
chiếm từ 27% đến 30%. Tỷ trọng đóng góp của khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
vào GDP ngày một tăng: 6.3% năm 1995, 13.28% năm 2000; 13.75% năm 2001; 13.76%
năm 2002 và năm 2003 là 14.47%. Giá trò của khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài trong
ngành công nghiệp Việt Nam luôn chiếm trên 40%.
Bảng 1-2 : Giá trò tổng sản phẩm theo giá thực tế của Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
ĐVT: Tỷ đồng
Chỉ tiêu 1995 2000 2001 2002 2003
Tổng số 228892 441646 481295 535762 605586

chưa cao. Có thể giải thích là do các dự án lớn có thời hạn hoạt động lâu dài trong giai
đoạn triển khai xây dựng nên chưa có sản phẩm và doanh thu, nhiều dự án còn được miễn
thuế trong thời gian đầu. Tuy nhiên, cũng phải nhìn nhận rằng khả năng kiểm soát tài
chính của ta đối với các dự án đầu tư chưa tốt, còn nhiều kẽ hở, gây thất thu cho Nhà nước.
Theo trang 2,báo Đầu tư ngày 27/10/2004,tổng doanh thu trong 10 tháng đầu năm
2004 của khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt khoảng 14 tỷ USD, tăng 30,8% so
với cùng kỳ năm 2003, trong đó giá trò xuất khẩu đạt 7,067 tỷ USD, vượt xa kết quả 6,34 tỷ
USD của cả năm 2003. Nhờ đó, nộp ngân sách 10 tháng đạt 659 triệu USD(cũng đã vượt
159 triệu USD so với cả năm 2003). Nếu tính cả dầu thô thì khu vực có vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài hiện nay chiếm hơn 36% tổng giá trò sản xuất công nghiệp và tên 50% tổng kim
ngạch xuất nhập khẩu của cả nước.
1.3.3.2. Hiệu quả xã hội
Đầu tư trực tiếp nước ngoài đã góp phần giải quyết việc làm cho lực lượng lao động
khổng lồ và nâng cao đời sống của người lao động. Năm 2000 khu vực đầu tư trực tiếp
nước ngoài thu hút 407.565 lao động và cung cấp lao động giao tiếp cho hàng chục vạn lao
động khác có liên quan. Đến năm 2001 đã sử dụng 489.287 lao động và năm 2003 là
691.088 lao động. Thu nhập của người lao động cũng khả hơn hơn.
Bảng 1-3 : Tổng số lao động trong các doanh nghiệp
Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam 2000 – 2003
ĐVT: Tỷ đồng
Chỉ tiêu 2000 Tỷ lệ
%
2001 Tỷ lệ
%
2002 Tỷ lệ
%
2003 Tỷ lệ
%
Tổng số 3536998 100 3933226 100 4657803 100 5103847 100
Liên doanh 121590 3.44 125004 3.18 154812 3.32 155667 3.05

vai trò vô cùng to lớn đối với cả nước xuất khẩu vốn và nước nhập khẩu vốn. Kết quả cuối
cùng mà các bên nhận được từ hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài có ý nghóa rất to lớn.
để hiểu rõ hơn về vấn đề này, ta đi vào Chương II “Tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài
trên đòa bàn thành phố Hồ Chí Minh” và trên cơ sở đó có thể thấy được hiệu quả thực sự
do đầu tư trực tiếp nước ngoài mang lại cho nền kinh tế.

Chương 1: Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài

Trang 22

CHƯƠNG 2
TÌNH HÌNH ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TRÊN
ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
2.1 VÀI NÉT VỀ TÌNH HÌNH KINH TẾ –XÃ HỘI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
2.1.1 Tình hình xã hội
Thành phố Hồ Chí Minh là một đơn vò hành chính do Trung ương trực tiếp quản lý.
Toàn thành phố được chia thành 23 quận (huyện), 303 phường xã. Trong đó có 18 quận nội
thành và 5 huyện ngoại thành.

Chương 1: Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài

Trang 23 Hình 2-1: Tổng sản phẩm trên đòa bàn thành phố (GDP)
(Tính theo giá thực tế – Tỷ đồng)
61.226
68.752
75.862
84.852
96.403
111.344
128.046
0
50
100
150
1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004

Năm 2004: dự đoán vào thời điểm tháng 10
Nguồn: Cục Thống kê Tp.Hồ Chí Minh
Các ngành kinh tế chủ chốt dẫn đầu trong đóng góp GDP của thành phố trong năm
2003 là công nghiệp chế biến (41.2%), thương nghiệp (12.9%), vận tải và bưu điện (8.8%),
khách sạn nhà hàng (5.3%), xây dựng (5.1%)…
Hình 2-2: Cơ cấu kinh tế của thành phố năm 2003
40.90%
37.60%
21.50%
Nhà nước Ngoài quốc doanh

3936085
4770119
4026067
2000 2001 2002 2003
Xuất khẩu Nhập khẩu

Nguồn: Niên giám Thống kê Tp.Hồ Chí Minh năm 2003
2.1.3 Vò trí và vai trò của thành phố Hồ Chí Minh trong nền kinh tế Việt Nam
2.1.3.1 Vò trí
Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm kinh tế thương mại lớn nhất Việt Nam. Tổng
sản phẩm trên đòa bàn thành phố Hồ Chí Minh luôn đứng đầu trong cả nước.Tính theo giá
thực tế, năm 2003 GDP của thành phố là 111.344 tỷ đồng. Mức đóng góp của thành phố
Hồ Chí Minh trong GDP của cả nước là 18.39% trong năm 2003.
Thành phố Hồ Chí Minh là một đầu mối giao thương quốc tế, các luồng hàng hoá
giao dòch qua lại của vùng kinh tế Đông Nam Bộ với các nước hầu hết thông qua thành phố
Hồ Chí Minh. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu năm 2003 là 12.058,7 triệu USD, chiếm
26.56% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của cả nước (45402,9 triệu USD).
2.1.3.2 Vai trò
Đứng ở vò trí quan trọng của nền kinh tế Việt Nam- Năm 2003 chiếm 18.39% GDP,
khoảng 55% kim ngạch xuất nhập khẩu cả nước ( kể cả dầu khí), và với tốc độ tăng trưởng
kinh tế hàng năm cao, thành phố Hồ Chí Minh có vai trò như một nguồn động lực thúc đẩy
tăng trưởng kinh tế của cả nước.
Là một trung tâm văn hoá- khoa học kỹ thuật, thành phố Hồ Chí Minh luôn đi đầu
trong việc ứng dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ tiên tiến vào trong sản xuất, nâng cao
năng suất lao động và chất lượng sản phẩm. Hơn nữa, đây là trung tâm đào tạo nhân lực
cho các tỉnh Nam Trung Bộ và Nam Bộ.
Là nơi luôn đi đầu trong việc thực hiện các chính sách đổi mới của Chính phủ. Cụ
thể là đi đầu trong thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài…

Chương 1: Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài

56.5
---
439.1
42.7
87.5
1992 87 714 19.2 14.2
1993 102 1.585 17.2 21.9
1994 121 1.575 18.6 -0.7
1995 155 2.498 28.0 58.6
1996 114 2.376 -26.5 -4.9
1997 89 1.179 -22.0 -50.4
1998 90 707 1.1 -40.1
1999 109 471 21.1 -33.4
2000 122 224 11.9 -52.4
2001 182 619 49.2 176.3
2002 223 314 22.5 -49.3
2003 201 304 -9.9 -3.2
Tổng cộng 1755 14.163
10/2004 162 250.96 -19.4 * -17.4*
*: Tốc độ tăng giảm của số dự án vốn tính ở thời điểm cuối tháng 10 so với cả năm 2003
Nguồn: Sở Kế Hoạch và Đầu tư Tp.Hồ Chí Minh
Trong những năm gần đây, tuy thành phố Hồ Chí Minh vẫn luôn là đòa phương dẫn
đầu trong cả nước về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài nhưng số vốn đầu tư liên tục giảm
sút cho dù là số dự án vẫn lên. Thể hiện rõ là tốc độ tăng vốn luôn luôn âm, và có năm,
vốn đầu tư chỉ bằng một nửa so với năm trước. Thành phố Hồ Chí Minh không còn là đòa
phương nổi bật nhất trong thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Đây là một dấu hiệu
đáng lo ngại của đầu tư thành phố.
Có rất niều nguyên nhân làm vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài giảm xuống: do sự
xuống dốc của nền kinh tế toàn cầu theo sau sự tan vỡ của bong bóng công nghệ cao tại
Mỹ cùng với khủng hoảng kéo dài tại Nhật đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến các nước châu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status