BỘ CÔNG THƯƠNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP. HỒ CHÍ MINH
CƠ SỞ THANH HÓA – KINH TẾ
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN KẾ TOÁN BÁN HÀNG VÀ XÁC
ĐỊNH KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH TẠI CÔNG TY
CỔ PHẦN THƯƠNG MẠI VÀ DỊCH VỤ HOẰNG HÓA
GIẢNG VIÊN HD : TH.S. VÕ THỊ MINH
SINH VIÊN TH : NGUYỄN THỊ LOAN
MSSV : 12000763
LỚP : DHKT8LTTH
THANH HÓA, THÁNG 03 NĂM 2014
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD:TH.S Võ THị Minh
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚN DẪN
2 DV Dịch vụ
3 CP Cổ phần
4 VAT Thuế giá trih gia tăng
5 TNHH Trách nhiệm hữu hạn
6 QĐ Quyết định
SVTH: Nguyễn Thị Loan – MSSV: 12000763
Chương1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu GVHD: TH.S. Võ THị Minh
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1.1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Tham gia hoạt động trong lĩnh vực thương mại, cầu nối giữa sản xuất và
tiêu dùng, là các doanh nghiệp thương mại với chức năng chủ yếu là tổ chức lưu
thông hàng hoá. Đặc biệt công tác bán hàng được coi là khâu mấu chốt trong
hoạt động kinh doanh thương mại, chính vì vậy hạch toán nghiệp vụ bán hàng
hết sức cần thiết. Việc tổ chức tốt khâu tổ chức bán hàng và kế toán bán hàng là
nhân tố có ảnh hưởng trực tiếp, quyết định tới hoạt động sản xuất kinh doanh
cũng như sự tồn tại phát triển của doanh nghiệp.
Như vậy ta có thể thấy rằng, công tác hạch toán bán hàng và xác định kết
quả hoạt động kinh doanh có được tổ chức hợp lý hay không là một trong những
điều kiện quan trọng giúp doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả, bảo toàn và phát
triển vốn.
Với những nhận thức về tầm quan trọng của tổ chức hạch toán bán hàng và
xác định kết quả hoạt động kinh doanh, sau khi được trang bị những kiến thức lý
luận ở nhà trường và qua thời gian tìm hiểu thực tế tại Công ty Cổ Phần Thương
Mại Và Dịch Vụ Hoằng Hóa, em đã chọn đề tài “Hoàn thiện kế toán bán hàng
và xác định kết quả hoạt động kinh doanh tại Công ty Cổ Phần Thương Mại
Và Dịch Vụ Hoằng Hóa ’’ làm đề tài cho chuyên đề tốt nghiệp của mình.
1.2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Hệ thống hóa các vấn đề lí luận có liên quan đến công tác kế toán bán hàng
và xác định kết quả hoạt động kinh doanh tại công ty Cổ Phần Thương Mại Và
- Không gian: Nghiên cứu tại công ty Cổ Phần Thương Mại Và Dịch Vụ
Hoằng Hóa
- Thời gian: Các số liệu được khảo sát, thu thập năm 2012, và đề xuất giải
pháp
cho các năm tiếp theo.
1.5. KẾT CẤU CỦA CHUYÊN ĐỀ
Nội dung chính của chuyên đề gồm 4 chương:
Chương 1 : Tổng quan về đề tài nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở lí luận về kế toán bán hàng và xác định kết quả hoạt
động kinh doanh tại doanh nghiệp thương mại
SVTH: Nguyễn Thị Loan – MSSV: 12000763 Trang :7
Chương1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu GVHD: TH.S. Võ THị Minh
Chương 3: Thực trạng công tác kế toán bán hàng và xác định kết quả hoạt
động kinh doanh tại công ty Cổ Phần Thương Mại Và Dịch Vụ Hoằng Hóa
Chương 4: Giải pháp hoàn thiện công tác kế toán bán hàng và xác định kết
quả hoạt động kinh doanh tại công ty Cổ Phần Thương Mại Và Dịch Vụ Hoằng
Hóa
SVTH: Nguyễn Thị Loan – MSSV: 12000763 Trang :8
Chương2: Cơ sở lý luận GVHD: TH.S. Võ THị Minh
CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ KẾ TOÁN BÁN HÀNG VÀ XÁC ĐỊNH
KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH TẠI DOANH NGHIỆP
THƯƠNG MẠI
2.1. BÁN HÀNG VÀ Ý NGHĨA CỦA KẾ TOÁN BÁN HÀNG TRONG
DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI.
2.1.1. Vị trí của công tác bán hàng trong hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp thương mại
Trong doanh nghiệp thương mại bán hàng là khâu quan trọng nhất, nó ảnh
hưởng đến sự sống còn của doanh nghiệp thương mại. Bán hàng là khâu trung
gian nối liền sản xuất và tiêu dùng, kích thích tiêu dùng và sản xuất phát triển
của doanh nghiệp. Nó là yếu tố then chốt và làm căn cứ để phân tích về tình hình
thực tế và thấy được khả năng kinh doanh của doanh nghiệp trên thương trường
cạnh tranh gay go ác liệt. Kế toán doanh thu bán hàng cung cấp được thông tin
một cách chính xác cho các bộ phận để có biện pháp xử lý và thay đổi chiến
lược kinh doanh, cung cấp số liệu cho kế toán tổng hợp và kế toán khác để xác
định được kết quả kinh doanh chi tiết một cách chính xác nhất.
Doanh nghiệp đem bán sản phẩm , hàng hoá cung cấp dịch vụ đồng thời đã
thu được tiền hoặc có quyền thu tiền của người mua. Quá trình bán hàng thực
chất là quá trình trao đổi quyền sở hữu giữa người bán và người mua trên thị
trường hoạt động.
Thị trường hoạt động là thị trường thoả mãn đồng thời 3 điều kiện.
- Các sản phẩm được bán trên thị trường có tính tương đồng.
- Người mua và người bán có thể tìm thấy nhau bất kỳ lúc nào.
- Giá cả được công khai.
Khi tiến hành giao dịch giữa doanh nghiệp với bên ngoài hoạc bên sử dụng
tài sản doanh thu được xác định bằng giá trị hợp lý đó là giá trị tài sản có thể
trao đổi hoạc giá trị một khoản nợ được thanh toán một cách tự nguyện giữa các
bên có đầy đủ hiểu biết trong sự trao đổi ngang giá trên thị trường hoạt động.
SVTH: Nguyễn Thị Loan – MSSV: 12000763 Trang :10
Chương2: Cơ sở lý luận GVHD: TH.S. Võ THị Minh
2.1.3. Các phương thức bán hàng trong doanh nghiệp Thương mại
Đặc điển cơ bản của hoạt động sản xuất kinh doanh thương mại, dịch vụ
là thực hiện việc lưu thông hàng hoá, dịch vụ đáp ứng nhu cầu ngày càng cao
trong tiêu dùng xã hội. Đặc biệt với nền kinh tế thị trường hiện nay trong môi
trường cạnh tranh buộc các doanh nghiệp phải vận dụng linh hoạt, sáng tạo các
hình thức, phương thức tiêu thụ hàng hoá khác nhau để đạt mục đích bán được
nhiều hàng hoá nhất và tối đa lợi nhuận. Muốn làm được điều đó, các doanh
nghiệp thương mại cần tổ chức nhiều phương thức bán hàng khác nhau nhằm
đáp ứng yêu cầu cao nhất của khách hàng. Hoạt động bán hàng trong doanh
nghiệp Thương mại bao gồm các phương thức sau:
doanh nghiệp, hàng hoá được coi là tiêu thụ, doanh nghiệp được phép ghi doanh
thu.
- Bán buôn không qua kho: Đây là trường hợp bán hàng mà hàng hoá
bán cho khách hàng không qua kho của doanh nghiệp. Phương thức này có ưu
điểm là tiết kiệm được chi phí lưu thông, lưu kho… và tăng nhanh sự vận động
của hàng hoá. Tuy nhiên phương thức này chỉ thực hiện được trong điêù kiện
cung ứng hàng hoá có kế hoạch, hàng hoá có sự phân loại, chọn lọc hay bao gói
của đơn vị bán hàng. Bán buôn không qua kho có hai hình thức thực hiện:
+ Bán buôn vận chuyển thẳng có tham gia thanh toán: Theo hình thức này,
bên bán buôn căn cứ vào hợp đồng mua hàng để nhận hàng của nhà cung cấp
bán thẳng cho khách hàng theo hợp đồng qua kho của doanh nghiệp. Như vậy
nghiệp vụ mua bán xảy ra đồng thời, doanh nghiệp bán buôn vừa tiến hành
thanh toán với bên cung cấp vừa tiến hành với bên mua hàng. Chứng từ sử dụng
của doanh nghiệp trong trường hợp này là hoá đơn bán hàng.
+ Bán buôn vận chuyển thẳng không tham gia thanh toán: Thực chất đây là
hình thức môi giới trong quan hệ mua bán của doanh nghiệp Thương mại. Công
ty bán buôn là đơn vị trung gian môi giới giữa bên mua và bên bán. Doanh
nghiệp uỷ quyền cho bên mua trực tiếp thanh toán tiền hàng cho nhà cung cấp,
đồng thời doanh nghiệp nhận được tiền hoa hồng do bên mua hoặc bên bán trả,
sau đó bên bán gửi cho doanh nghiệp bán buôn các chứng từ bán hàng để theo
SVTH: Nguyễn Thị Loan – MSSV: 12000763 Trang :12
Chương2: Cơ sở lý luận GVHD: TH.S. Võ THị Minh
dõi việc thực hiện hợp đồng đã ký kết giữa các bên. Theo hình thức này, doanh
nghiệp không được ghi nhận nghiệp vụ bán cũng như mua.
2.1.3.2. Phương thức bán lẻ hàng hoá
Đây là giai đoạn cuối cùng của quá trình vận động hàng hoá từ sản xuất đến
tiêu dùng. Hàng hoá được bán trực tiếp từ nhà kinh doanh thương mại đến tay
người tiêu dùng, giá trị sử dụng của hàng hoá được thực hiện. Hàng hoá bán lẻ
thường có khối lượng nhỏ, thanh toán ngay và hình thức thanh toán chủ yếu
bằng tiền mặt nên ít khi phải lập chứng từ bán hàng, các hình thức bán lẻ bao
Đối với bên nhận đại lý:
Số hàng hoá nhận đại lý không thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp
nhưng doanh nghiệp phải có trách nhiệm bảo quản, giữ hộ, bán hộ và được
hưởng hoa hồng theo hợp đồng đã ký giữa các bên. Số hoa hồng này thực chất là
doanh thu của doanh nghiệp nhận đại lý.
2.1.3.4. Phương thức bán hàng trả góp.
Đây là phương thức bán hàng thu tiền nhiều lần, khách hàng thanh toán
lần đầu tiên ngay thời điểm mua hàng, số tiền còn lại khách hàng sẽ chấp nhận
trả ở những lần tiếp theo và phải chịu một tỷ lệ lãi suất nhất định. Thực chất của
phương thức này là doanh nghiệp Thương mại bán hàng trực tiếp kết hợp với
cho vay vốn. Vì vậy bán hàng theo phương thức này bao giờ giá cũng cao hơn
giá bán thông thường, khi nào người mua thanh toán hết tiền thì doanh nghiệp
Thương mại mới hết quyền sở hữu về hàng hoá. Phương thức này chỉ áp dụng
đối với những hàng hoá có giá trị cao và thời hạn sử dụng lâu dài.
2.1.4. Ý nghĩa của kế toán bán hàng trong kinh doanh thương mại.
Tiêu thụ hàng hoá là giai đoạn cuối cùng trong vòng đời sống của hàng
hoá, là điều kiện để tái sản xuất xã hội. Trong điều kiện hiện nay, doanh nghiệp
vừa và nhỏ được thành lập và phát triển với một số lượng lớn, hàng hoá cung
cấp cho thị trường đa dạng phong phú đáp ứng được nhu cầu lớn và ngày càng
cao của người tiêu dùng. Do dó, mỗi doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển
cần phải hết sức nhạy bén với thị trường, tạo ra uy tín đối với khách hàng nhằm
khẳng định vị trí của mình trên thị trường.
SVTH: Nguyễn Thị Loan – MSSV: 12000763 Trang :14
Chương2: Cơ sở lý luận GVHD: TH.S. Võ THị Minh
Đối với doanh nghiệp Thương mại việc hạch toán nghiệp vụ bán hàng là
khâu hết sức quan trọng trong công tác quản lý. Từ việc hạch toán kế toán bán
hàng và xác định kết quả kinh doanh có thể đưa ra các chỉ tiêu giúp cho doanh
nghiệp thấy được thực trạng hoạt động của mình, từ đó đề ra phương hướng, đổi
mới, cải tiến, xây dựng chiến lược kinh doanh cho các kỳ tiếp theo để đạt hiệu
quả kinh tế cao. Chính vì thế, hạch toán các nghiệp vụ bán hàng phải đảm bảo
hợp và xác định chính xác kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của từng
doanh nghiệp.
- Kiểm tra tình hình thu tiền bán hàng và quản lý tiền bán hàng, với hàng
hoá bán chịu cần mở sổ chi tiết cho từng khách hàng, theo dõi sát sao việc thanh
toán công nợ của từng khách hàng, tránh tình trạng bị đơn vị kinh tế khác chiếm
dụng vốn.
- Theo dõi phản ánh và giám sát chặt chẽ quá trình tiêu thụ, ghi chép kịp
thời, đầy đủ các khoản chi phí phát sinh trong quá trình bán hàng để xác định
chính xác kết quả kinh doanh.
- Lập báo cáo kết quả kinh doanh đúng chế độ kế toán, cung cấp kịp thời
thông tin kinh tế cần thiết về tình hình bán hàng cho các bộ phận liên quan. Định
kì kế toán tiến hành phân tích kinh tế đối với các hoạt động tiêu thụ. Thực hiện
đúng chế độ phân phối lợi nhuận theo chế độ tài chính hiện hành.
2.2.1.2. Nguyên tắc tổ chức hạch toán hàng hoá.
Hàng hoá của doanh nghiệp kinh doanh không chỉ đơn thuần là một loại
hàng hoá, nó bao gồm rất nhiều chủng loại mà bán hàng cũng theo nhiều cách
thức khác nhau. Do vậy, quản lý và hạch toán muốn chặt chẽ cần tuân thủ các
gnuyên tắc sau:
- Kế toán phải tổ chức hạch toán hàng hoá theo từng loại, từng đơn vị
mua hàng.
- Kế toán phải kết hợp việc ghi chép giữa kế toán bán hàng và thủ kho
đảm bảo cho thông tin về hàng hoá được phản ánh kịp thời chính xác.
- Công tác ghi chép ban đầu phải khoa học, hợp lý phản ánh đúng tình
hình biến động của hàng hoá.
SVTH: Nguyễn Thị Loan – MSSV: 12000763 Trang :16
Chương2: Cơ sở lý luận GVHD: TH.S. Võ THị Minh
- Hàng hoá khi nhập kho phải ghi theo giá thực tế. Nếu trong kỳ hạch toán
chi tiết xuất, nhập kho hàng hoá theo giá hạch toán thì cuối kỳ kế toán phải xác
định lại giá trị của từng hàng hoá xuất, nhập trong kỳ.
2.2.2. Nội dung của kế toán bán hàng.
- Ngày, tháng, năm lập chứng từ.
- Số hiệu chứng từ.
- Tên gọi, địa chỉ của đơn vị hay cá nhân lập chứng từ.
- Tên gọi, địa chỉ của đơn vị hay cá nhân nhận chứng từ.
- Nội dung nghiệp vụ kinh té phát sinh ra chứng từ.
- Các chỉ tiêu về số lượng và giá trị.
- Chữ kí người lập và người chịu trách nhiệm về tính chính xác của các
nghiệp vụ kinh tế phát sinh.
Luân chuyển chứng từ: Là quá trình giao chuyển chứng từ lần lượt giữa
các bộ phận liên quan trong cùng một doanh nghiệp. Từ đó kế toán nắm được
tình hình lấy số liệu ghi vào sổ kế toán, tuỳ theo từng loại chứng từ mà có trình
tự luân chuyển phù hợp.
2.2.2.2.Xác định giá vốn hàng bán.
Hàng bán khi xuất kho hay gửi bán đều phải xác định giá trị của hàng hoá.
Kế toán tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể của doanh nghiệp để lựa chọn phương
pháp tính giá trị thực tế hay phương pháp tính giá hạch toán cho phù hợp.
- Tính giá theo phương pháp tính giá thực tế: Theo phương pháp này,
giá trị hàng hoá phản ánh trong kế toán phải được hạch toán theo giá thực tế.
Đối với hàng hoá nhập kho giá thực tế được xác định phù hợp với từng nguồn
nhập. Đối với hàng hoá xuất kho cũng phải được phản ánh theo giá thực tế. Vì
hàng hoá nhập kho có thể theo giá trên hoá đơn, chứng từ nhưng giá trị thực tế
lại khác do tình hình biến động trên thị trường. Doanh nghiệp có thể áp dụng
một trong những phương pháp tính giá thực tế sau:
+ Phương pháp tính giá thực tế đích danh: Theo phương pháp này, giá
thực tế hàng hoá xuất kho căn cứ vào đơn giá thực tế của hàng hoá nhập trong kì
theo từng lô, từng lần nhập và số lượng hàng hoá xuất kho theo từng lần.
SVTH: Nguyễn Thị Loan – MSSV: 12000763 Trang :18
Chương2: Cơ sở lý luận GVHD: TH.S. Võ THị Minh
+ Phương pháp tính giá thực tế bình quân gia quyền: Theo phương
pháp này, giá thực tế hàng hoá xuất kho được tính bình quân giữa giá trị thực tế
giá. Giá hạch toán phải được doanh nghiệp quy định thống nhất trong kì hạch
toán.
Trị giá hạch toán của
hàng hóa xuất kho
=
Số lượng hàng
hóa xuất kho
x
Đơn giá hạch
toán
Đến cuối kì hạch toán, kế toán mới tính toán để xác định giá thực tế hàng
hoá xuất bán trong kì. Việc hạch toán được thực hiện như sau:
Trước hết xác định hệ số giữa giá mua thực tế và hàng hoá luân chuyên
trong kì, được xác định theo công thức sau:
Giá thực tế hàng hóa
xuất bán trong kỳ
=
Trị giá hạch
toán của hàng
hóa xuất bán
trong kỳ
x Hệ số giá
Trong đó:
Hệ số giá =
Trị Giá mua thực tế
hàng hóa tồn đầu kỳ
+
Trị Giá mua thực tế hàng
hóa nhập kho trong kỳ
Trị giá hạch toán
chỉ khác là theo dừi cả về mặt giá trị hàng ngày hoặc định kỳ, khi nhận được các
chứng từ nhập- xuất kho do thủ kho chuyển tới, nhân viên kế toán bán hàng phải
kiểm tra đối chiếu ghi đơn giỏ hạch toán vào và tính ra số tiền, sau đó lần lượt
ghi các nghiệp vụ nhập, xuất vào các thẻ kế toán chi tiết hàng hóa cứ liên quan.
Cuối tháng tiến hành cộng thẻ và đối chiếu với thẻ kho.
SVTH: Nguyễn Thị Loan – MSSV: 12000763 Trang :20
Phiếu nhập kho
Phiếu xuất kho
Sổ chi tiếtThẻ kho
Bảng tổng hợp
nhập xuất tồn
Kế toỏn tổng hợp
Chương2: Cơ sở lý luận GVHD: TH.S. Võ THị Minh
Để thực hiện đối chiếu giữa kế toán tổng hợp và chi tiết, kế toán phải căn
cứ vào các thẻ kế toán chi tiết để lập bảng tổng hợp nhập- xuất- tồn kho về mặt
giá trị của từng loại hàng hóa Số liệu của bảng này được đối chiếu với số liệu
của phần kế toán tổng hợp.
Ngoài ra, để quản lý chặt chẽ thẻ kho, nhân viên kế toán bán hàng mở sổ
đăng ký thẻ kho, khi giao thẻ kho cho thủ kho, kế toán phải ghi vào sổ.
Ghi chỳ: Ghi hàng ngày
Quan hệ đối chiếu
Ghi cuối thỏng
Sơ đồ 2.1: Chi tiết hàng hóa theo phương pháp thẻ song song
b. Phương pháp sổ đối chiếu luân chuyển.
Trong phương pháp này, tại kho thủ kho sử dụng thẻ kế toán chi tiết hàng
hoá giống phương pháp thẻ song song.Tại phòng kế toán, kế toán không mở thẻ
chi tiết mà mở sổ đối chiếu luân chuyển để hạch toán số lượng và số tiền từng
danh điểm bán hàng theo từng kho. Sổ này ghi mỗi tháng một lần vào cuối tháng
trên cơ sở chứng từ nhập, xuất phát sinh trong tháng của từng hàng hoá, mỗi thứ
chỉ ghi một dòng trong sổ. Cuối tháng đối chiếu số lượng hàng hoá trên sổ luân
Phiếu giao nhận chứng từ nhập
Sổ số dư
Bảng luỹ kế
N-X-T
Phiếu giao nhận chứng từ xuất
Thẻ kho Bảng tổng hợp
N-X-T
Kế toán tổng hợp
Chương2: Cơ sở lý luận GVHD: TH.S. Võ THị Minh
Tiếp đó cộng số tiền nhập , xuất trong tháng và dựa vào số dư đầu tháng để
tính ra số dư cuối tháng của từng mặt hàng. Số dư này được dùng để đối chiếu
với số dư trên sổ số dư.
Ghi chú :
Ghi hàng ngày
Quan hệ đối chiếu
Ghi cuối tháng
Sơ đồ 2.3: Kế toán chi tiết hàng hoá theo phương pháp sổ số dư
2.2.2.4. Kế toán doanh thu
2.2.2.4.1. Khái niệm doanh thu và các loại doanh thu
Doanh thu : Là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong
kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất kinh doanh thông thường của
doanh nghiệp, góp phần làm tăng nguồn vốn chủ sở hữu.
Doanh thu được xác định bằng giá trị hợp lý của các khoản đã thu hoặc sẽ
thu được sau khi trừ đi các khoản chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán và
giá trị hàng bán bị trả lại.
Giá trị hợp lý : Là giá trị tài sản có thể trao đổi hoặc giá trị một khoản nợ
được thanh toán một cách tự nguyện giữa các bên có đầy đủ hiểu biết trong sự
trao đổi ngang giá.
SVTH: Nguyễn Thị Loan – MSSV: 12000763 Trang :23
Chương2: Cơ sở lý luận GVHD: TH.S. Võ THị Minh
Chương2: Cơ sở lý luận GVHD: TH.S. Võ THị Minh
thu bán hàng bị trả lại.
+ Số thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu, thuế GTGT tính theo phương
pháp trực tiếp phải nộp tính theo DTBH thực tế.
+ Kết chuyển DTT về tiêu thụ trong kỳ.
Bên có: Phản ánh tổng doanh thu tiêu thụ trong kỳ.
Tài khoản 511 cuối kỳ không có số dư và chi tiết là 6 tài khoản cấp hai
dưới dây:
+ TK 5111- Doanh thu bán hàng hoá
+ TK 5112- Doanh thu bán các thành phẩm
+ TK 5113- Doanh thu cung cấp dịch vụ
+ TK 5114-Doanh thu trợ cấp, trợ giá
+ TK 5117- Doanh thu kinh doanh BĐS đầu tư
+ TK 5118-Doanh thu khác
Khi phản ánh doanh nghiệp bán hàng, bên có TK 511 cần phân biệt theo
từng trường hợp:
- Hàng hoá, dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng theo phương
pháp khấu trừ thuế, doanh thu bán hàng ghi theo giá bán chưa thuế GTGT.
- Hàng hoá, dịch vụ thuôc đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng theo phương
pháp trực tiếp và hàng hoá, dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng
theo phương pháp xuất khẩu, doanh thu bán hàng ghi theo giá tính toán với
người mua gồm cả thuế phải chịu .
*Tài khoản 512: Doanh thu nội bộ.
Tài khoản này dùng để phản ánh doanh thu do bán hàng hoá, dịch vụ trong
nội bộ giữa các đơn vị trực thuộc trong cùng công ty hoặc tổng công ty.
Nội dung phản ánh của TK 512 như sau:
Bên nợ:
+ Khoản giảm giá hàng bán, chiết khấu thương mại khi bán hàng và doanh
thu hàng bán bị trả lại.
+ Số thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu, thuế GTGT tính theo phương