1
LỜI MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, để tồn tại và phát triển đòi hỏi các doanh nghiệp không ngừng đổi
mới và nâng cao trình độ quản lý, trong đó đổi mới và hoàn thiện công tác dự toán
ngân sách giữ một vị trí vô cùng quan trọng. Bất kỳ một tổ chức nào dùø lớn hay
nhỏ, thậm chí ngay trong phạm vi một gia đình cũng phải tính toán và dự trù việc sử
dụng ngân sách của mình. Tuy nhiên, để dự toán ngân sách một cách chính xác,
phản ánh đúng tiềm năng thực tế của doanh nghiệp là công việc rất khó thực hiện.
Hiện nay, các doanh nghiệp lập dự toán ngân sách nhưng số liệu dự toán ngân sách
thường không phản ánh đúng tiềm năng thực tế của doanh nghiệp nên không phát
huy vai trò, công dụng của nó và gây lãng phí cho doanh nghiệp.
Việc nghiên cứu để hoàn thiện công tác dự toán ngân sách, nh
ằm giúp
các
doanh nghiệp xây d
ựng
hệ thống báo cáo dự toán ngân sách chính xác, phản ánh
đúng tiềm năng, đảm bảo cho các dự toán thực sự là công cụ hữu ích cho nhà quản
trị, và đảm bảo cho việc chuẩn bị các nguồn lực để đối phó kịp thời với mọi tình
huống xảy ra đột xuất trong tương lai, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn trong giai
đoạn hiện nay.
Công ty 32 là công ty giữ vị trí quan trọng trong Tổng cục hậu cần nhưng
công tác dự toán ngân sách của công ty hiện nay còn nhiều khiếm khuyết, từ việc
nhận thức được sự cần thiết của công tác dự toán ngân sách với các doanh nghiệp
và từ yêu cầu đổi mới công tác quản lý tại công ty 32 nên tôi đã chọn đề tài “Hoàn
thiện dự toán ngân sách tại công ty 32”
Mục tiêu của đề tài:
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về dự toán ngân sách.
- Đánh giá thực trạng về công tác dự toán ngân sách tại công ty 32.
Dự toán là cơ sở, là trung tâm của kế hoạch và tiền đề cho việc dự toán là dự báo.
Dự toán ngân sách: Là những tính toán, dự kiến một cách toàn diện mục
tiêu kinh tế, tài chính mà doanh nghiệp cần đạt được trong kỳ hoạt động, đồng thời
chỉ rõ cách thức, biện pháp huy động các nguồn lực để thực hiện mục tiêu và nhiệm
vụ đó. Dự toán ngân sách là một hệ thống bao gồm nhiều dự toán như: dự toán tiêu
thụ, dự toán sản xuất, dự toán chi phí nguyên vật liệu, dự toán chi phí nhân công, dự
toán chi phí sản xuất chung, dự toán chi phí bán hàng, dự toán chi phí quản lý
doanh nghiệp, dự toán giá vốn hàng bán, dự toán vốn đầu tư, dự toán tiền, dự toán
báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, dự toán bảng cân đối kế toán. Dự toán ngân
sách là cơ sở để đánh giá thành quả hoạt động của từng bộ phận, của mỗi cá nhân
phụ trách từng bộ phận, từ đó xác định trách nhiệm của từng bộ phận nhằm phục vụ
tốt cho quá trình tổ chức và hoạch định.
1.1.2 Phân loại dự toán ngân sách
Dự toán là công cụ của nhà quản lý, chính vì thế đòi hỏi nhà quản lý phải am
hiểu các loại dự toán để thích ứng với từng nhu cầu riêng lẻ và từng hoàn cảnh cụ
thể của từng tổ chức trong từng thời kỳ, từng giai đoạn. Tùy theo cách thức phân
loại sẽ có các loại dự toán ngân sách sau đây:
1.1.2.1 Phân loại theo thời gian:
• Dự toán ngân sách ngắn hạn: Dự toán ngân sách ngắn hạn là dự toán
được lập cho kỳ kế hoạch là môt năm và được chia ra từng kỳ ngắn hơn là
hàng quí và hàng tháng. Dự toán ngân sách ngắn hạn thường liên quan đến
các hoạt động kinh doanh thường xuyên của tổ chức như mua hàng, bán
4
hàng, thu tiền, chi tiền, sản xuất… Dự toán ngân sách ngắn hạn được lập
hàng năm trước khi niên độ kế toán kết thúc và được xem như là định hướng
chỉ đạo cho mọi hoạt động của tổ chức trong năm kế hoạch.
• Dự toán ngân sách dài hạn: dự toán ngân sách dài hạn còn được gọi là dự
toán ngân sách vốn, đây là dự toán được lập liên quan đến tài sản dài hạn,
thời gian sử dụng tài sản vào các hoạt động kinh doanh thường hơn 1 năm.
Dự toán dài hạn thường bao gồm việc dự toán cho các tài sản lớn phục vụ
được việc sửa đổi dự toán một cách phiền phức khi mức độ hoạt động thay
đổi. Mặt khác, có thể dùng dự toán để xem xét tình hình thực hiện trong thực
tế .
• Dự toán ngân sách cố định: Là dự toán tại các số liệu tương ứng với một
mức độ hoạt động ấn định trước. Dự toán ngân sách cố định phù hợp với
doanh nghiệp có hoạt động kinh tế ổn định. Dự toán cố định chỉ dựa vào một
mức độ hoạt động mà không xét tới mức độ này có thể bị biến động trong kỳ
dự toán. Nếu dùng dự toán này để đánh giá thành quả kinh doanh của một
doanh nghiệp mà các nghiệp vụ luôn biến động thì khó đánh giá được tình
hình thực hiện dự toán của doanh nghiệp.
1.1.2.3 Phân loại theo mức độ phân tích
• Dự toán từ gốc: Là khi lập dự toán gạt bỏ hết những số liệu dự toán đã tồn
tại trong quá khứ và xem các nghiệp vụ kinh doanh như mới bắt đầu. Tiến
hành xem xét khả năng thu nhập, những khoản chi phí phát sinh và khả năng
thực hiện lợi nhuận của doanh nghiệp để lập các báo cáo dự toán. Các báo
cáo dự toán mới sẽ không lệ thuộc vào số liệu của báo cáo dự toán cũ. Dự
toán từ gốc không chịu hạn chế các mức chi tiêu đã qua, không có khuôn
mẫu vì thế nó đòi hỏi nhà quản lý các cấp phải phát huy tính năng động chủ
quan và tính sáng tạo và căn cứ vào tình hình cụ thể để lập dự toán ngân
sách. Phương pháp dự toán từ gốc có nhiều ưu điểm. Thứ nhất, nó không lệ
thuộc vào các số liệu của kỳ quá khứ. Thông thường thì các doanh nghiệp
thường hay dựa vào số liệu của các báo cáo dự toán cũ kết hợp với mục tiêu
mới để lập dự toán ngân sách cho năm sau. Nhưng cách lập dự toán ngân
sách như vậy sẽ che lấp và lệ thuộc vào các khuyết điểm ở kỳ quá khứ và cứ
để các thiếu sót, các khuyết điểm của kỳ quá khứ tồn tại mãi trong doanh
nghiệp. Dự toán từ gốc sẽ khắc phục nhược điểm này trong quá trình lập dự
6
toán. Thứ 2, phương pháp dự toán từ gốc là phát huy mạnh mẽ tính chủ động
và sáng tạo của bộ phận lập dự toán. Quan điểm của các bộ phận lập dự toán
không bị ảnh hưởng, chi phối bởi những quan điểm sai lầm của những người
sáng tạo của các bộ phận lập dự toán ngân sách.
1.1.3 Mục đích, chức năng của dự toán ngân sách:
1.1.3.1 Mục đích của dự toán ngân sách
• Dự toán ngân sách giúp các nhà quản trị cụ thể hóa các mục tiêu của doanh
nghiệp bằng các số liệu.
• Dự toán ngân sách liên kết các đơn vị trong tổ chức để cùng thực hiện các
mục tiêu của nhà quản trị.
• Dự toán ngân sách cung cấp cho nhà quản trị doanh nghiệp toàn bộ thông tin
về kế hoạch ngân sách sản xuất, kinh doanh trong từng thời gian cụ thể và cả
quá trình sản xuất kinh doanh.
• Dự toán ngân sách là căn cứ đánh giá tình hình thực hiện các chỉ tiêu đã dự
kiến. Từ đó thấy được những mặt mạnh cần phát huy và những tồn tại cần có
giải pháp hữu hiệu để khắc phục; làm cơ sở cho các quyết định kinh doanh
tồi ưu.
• Dự toán ngân sách giúp nhà quản trị kiểm soát quá trình hoạt động của doanh
nghiệp và đánh giá trách nhiệm quản lý cuả từng bộ phận trong doanh
nghiệp.
• Là căn cứ để khai thác các khả năng tiềm tàng về nguồn lực tài chính nhằm
phát huy nội lực và tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp.
1.1.3.2 Chức năng của dự toán ngân sách
Chức năng hoạch định: Chức năng hoạch định của dự toán ngân sách
thể hiện ở việc hoạch định các mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể như hoạch định về sản
lượng tiêu thụ, sản xuất, chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực
tiếp, chi phí sản xuất chung, chi phí quản lý doanh nghiệp, chi phí bán hàng v.v…
dự toán ngân sách được xem là công cụ để lượng hoá các kế hoạch của nhà quản trị.
Chức năng điều phối: Chức năng điều phối của dự toán ngân sách thể
hiện ở việc huy động và phân phối các nguồn lực để thực hiện các mục tiêu của nhà
quản trị. Nhà quản trị kết hợp giữa hoạch định các mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể và
việc đánh giá năng lực sản xuất kinh doanh thực tế của từng bộ phận để điều phối
8
9
Nhận xét mô hình 1:
Lập dự toán theo mô hình này mang nặng tính áp đặt từ quản lý cấp cao
xuống nên rất dễ tạo ra sự gây ra sự bất bình của các bộ phận riêng lẻ trong doanh
nghiệp. Đôi khi dự toán do nhà quản lý cấp cao tự ấn định sẽ quá cao hoặc quá thấp
so với mức độ hoạt động và năng lực thực tế của bộ phận, điều này không khuyến
khích sự cộng tác chung sức và tăng năng suất của các bộ phận trong tổ chức. Tâm
lý của nhiều người thì họ thích làm những gì mà mình hoạch định hơn là những gì
áp đặt từ bên ngoài vì thế dự toán ngân sách khó có thể thành công.
Khi lập dự toán ngân sách theo mô hình này đòi hỏi nhà quản lý cấp cao phải
có tầm nhìn tổng quát, toàn diện về mọi mặt của doanh nghiệp và nhà quản lý cấp
cao phải nắm vững chặt chẽ chi tiết hoạt động của từng bộ phận trong doanh
nghiệp cả về mặt định tính và định lượng, điều này chỉ phù hợp với doanh nghiệp
có qui mô nhỏ, có ít sự phân cấp về quản lý hoặc được sử dụng trong những trường
hợp hoặc tình thế đặc biệt mà buộc doanh nghiệp phải tuân theo sự chỉ đạo của quản
lý cấp cao hơn.
1.2.1.2 Mô hình 2: Mô hình thông tin phản hồi.
Theo mô hình này thì việc lập dự toán được thực hiện theo qui trình sau:
Các chỉ tiêu dự toán đầu tiên được ước tính từ ban quản lý cấp cao nhất trong
doanh nghiệp, dự toán lúc này mang tính dự thảo và được truyền xuống cho các cấp
quản lý trung gian. Trên cơ sở đó các đơn vị quản lý trung gian sẽ phân bổ xuống
các đơn vị cấp cơ sở. Các bộ phận quản lý cấp cơ sở căn cứ vào các chỉ tiêu dự
thảo, căn cứ vào khả năng và điều kiện của mình để xác định các chỉ tiêu dự toán có
thể thực hiện được và những chỉ tiêu dự toán cần giảm bớt hoặc tăng lên. Sau đó bộ
phận quản lý cấp cơ sở bảo vệ dự toán của mình trước bộ phận quản lý cấp trung
gian.
Bộ phận quản lý cấp trung gian, trên cơ sở tổng hợp các chỉ tiêu dự toán từ
các bộ phận cấp cơ sở, kết hợp với kinh nghiệm và tầm nhìn tổng quát toàn diện
hơn về hoạt động của các bộ phận cấp cơ sở, để xác định các chỉ tiêu dự toán có thể
hợp với tầm nhìn tổng quát toàn diện về toàn bộ hoạt động doanh nghiệp của quản
lý cấp cao, mục tiêu ngắn hạn, chiến lược dài hạn của doanh nghiệp để xét duyệt
thông qua dự án. Khi dự án được xét duyệt thông qua sẽ chính thức đi vào sử dụng.
11
Nhận xét mô hình 3:
Lập dự toán ngân sách theo mô hình này rất thoáng, hầu như mọi việc đều để
cho các bộ phận tự quyết định. Người trực tiếp tham gia trong các hoạt động hàng
ngày của doanh nghiệp lập dự toán thì số liệu sẽ chính xác hơn và thực tế hơn. Tâm
lý chung thì mọi người sẽ thích làm những gì do mình đặt ra, vì vậy dự toán mang
tính khả thi cao và kéo mọi người trong tổ chức cùng hướng đến mục tiêu chung
của tổ chức.
Việc để cho các bộ phận tự lập dự toán của bộ phận mình sẽ phát huy rất tích
cực vai trò kiểm tra của dự toán ngân sách, buộc mọi người trong tổ chức phấn đấu
đạt được kế hoạch do chính mình lập ra. Nếu các bộ phận không đạt được các chỉ
tiêu như trong dự toán thì họ chỉ có thể trách mình chứ không thể đổ lỗi cho bất kỳ
ai được. Dự toán theo mô hình này rất phù hợp với công ty lớn, hoặc các tập đoàn
vì thể hiện sự phân quyền trong quản lý.
Lập dự toán theo mô hình này không tốn nhi ều thời gian và chi phí nhưng
vẫn hiệu quả
Tuy nhiên nhược điểm lớn nhất của mô hình chính là việc để cho các cơ sở
tự định dự toán của mình nên có thể xảy ra tình trạng lập dự toán thấp hơn năng lực
thật sự mà họ có thể thực hiện được. Lúc này dự toán ngân sách không phát huy
được tính tính cực của nó mà còn làm trì trệ các hoạt động sản xuất, lãng phí tài
nguyên và năng lực của doanh nghiệp, không khai thác hết khả năng tiềm tàng của
doanh nghiệp. Vì vậy nhà quản lý cấp cao cần kiểm tra, cân nhắc kỹ lưỡng trước
khi chấp nhận ngân sách tự định của cấp dưới. Nếu có những khoản mục nào đáng
nghi ngờ thì phải thảo luận với quản lý các cấp dưới cho đến khi đạt được sự chấp
nhận.
Nhận xét chung
Limited
13 CHUẨN BỊ
SOẠN THẢO
THEO DÕI
S1.1 Sơ đồ quy trình quản lý ngân sách
Xác đònh rõ mục tiêu
chung của công ty
Chuẩn hóa ngân
ạn. Đầu tiên là giai đoạn chuẩn bị dự tốn ngân sách, sau đó là soạn thảo dự tốn
ngân sách và cuối cùng là theo dõi, kiểm tra thực hiện ngân sách.
Giai đoạn chuẩn bị
Việc đầu tiên phải làm trong q trình dự tốn ngân sách là làm sáng rõ mục
tiêu của doanh nghiệp. Dự tốn ngân sách phải lấy chiến lược và mục tiêu kinh
doanh của cơng ty làm nền tảng. Sau khi xác định rõ ràng mục tiêu của doanh
nghiệp sẽ xây dựng một mẫu dự tốn ngân sách chuẩn. Điều này giúp cho nhà quản
lý cấp cao dễ phối hợp với các dự tốn ngân sách của các bộ phận trong doanh
14
nghiệp, cho phép so sánh, kết nối giữa các nội dung một cách dễ dàng. Khi mọi thứ
đã được chuẩn bị đầy đủ cho việc lập dự toán ngân sách thì trước khi vào soạn thảo
hãy xem xét lại hệ thống để đảm bảo rằng ngân sách sẽ cung cấp thông tin chính
xác và phù hợp.
Giai đoạn soạn thảo
Tiếp theo sau giai đoạn chuẩn bị là giai đoạn soạn thảo dự toán ngân sách.
Trước hết, những cá nhân có liên quan trong việc lập dự toán ngân sách phải tập
hợp toàn bộ thông tin về các nguồn lực sẳn có trong doanh nghiệp và các yếu tố bên
trong và bên ngoài doanh nghiệp tác động đến công tác dự toán ngân sách đồng thời
ước tính thu, chi,… trên cơ sở đó soạn thảo các báo cáo dự toán tiêu thụ, dự toán
sản xuất, dự toán nguyên vật liệu, dự toán tiền mặt, dự toán bảng cân đối kế toán,
dự toán báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh v.v…
Giai đoạn theo dõi
Việc lập dự toán ngân sách tại doanh nghiệp phải được lập liên tục từ năm
này sang năm khác, từ tháng này sang tháng khác. Vì vậy, sau mỗi kỳ dự toán ngân
sách cần phải thường xuyên theo dõi, đánh giá tình hình dự toán, từ đó xem xét lại
các số liệu, cơ sở lập dự toán ngân sách và điều chỉnh khi cần thiết và để rút kinh
nghiệm cho lần lâp dự toán ngân sách kế tiếp.
1.2.3 Trình tự lập dự toán
Dự toán tiêu thụ luôn là dự toán chủ đạo, dự toán tiêu thụ phải được lập đầu
tiên. Hầu hết tất cả các báo cáo dự toán ngân sách trong doanh nghiệp đều phụ
hàng để bán và đủ hàng tồn kho, bộ phận cung ứng vật liệu phải phối hợp để
đảm bảo đầy đủ nguyên vật liệu cho quá trình sản xuất v.v…. Vì vậy, dự toán
ngân sách sẽ phối hợp các hoạt động của các đơn vị trong tổ chức để đạt được
mục tiêu chung của tổ chức. Khi lập dự toán ngân sách nhà quản lý cấp cao phải
kết nối tất cả các mối quan hệ của nhà quản lý và của tổ chức không mâu thuẫn
nhau, và phải kết nối các bộ phận trong tổ chức. Vì vậy, dự toán ngân sách giúp
tổ chức hạn chế những cố gắng tạo dựng lợi ích riêng lẻ. Mở rộng cách nghĩ của
nhà quản lý các cấp thấp vượt ra ngoài chính bộ phận của họ và loại bỏ những
thành kiến cố ý hay vô ý vì lợi ích cá nhân của từng bộ phận. Tất cả mọi người
trong tổ chức sẽ hướng đến mục tiêu và chiến lược chung của tổ chức.
16
• Dự toán ngân sách tạo thước đo chuẩn cho việc nhận xét, đánh giá việc thi hành
mọi hoạt động kinh doanh của từng bộ phận trong tổ chức, đánh giá hiệu quả
hoạt động của từng bộ phận trong tổ chức. Dự toán ngân sách dự kiến được chi
phí dự kiến và dòng tiền thu, chi của mội đơn vị trong tổ chức. Vì vậy, nếu dự
toán ngân sách một cách khoa học và hợp lý sẽ tạo một thước đo chuẩn cho việc
đánh giá hiệu quả hoạt động của mỗi đơn vị trong tổ chức.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1:
Dự toán ngân sách là nội dung quan trọng của kế toán quản trị. Dự toán ngân
sách phản ảnh mục tiêu, nhiệm vụ mà doanh nghiệp cần đạt được trong kỳ hoạt
động, đồng thời phản ánh năng lực, biện pháp để thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ
đó. Dự toán ngân sách là một hệ thống bao gồm nhiều dự toán như: dự toán tiêu
thụ, dự toán sản xuất, dự toán chi phí nguyên vật liệu, dự toán chi phí sản xuất
chung, dự toán chi phí bán hàng, dự toán chi phí quản lý doanh nghiệp, dự toán tiền
mặt, dự toán báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, dự toán bảng cân đối kế toán
v.v… Dự toán ngân sách là công cụ quản lý đa chức năng của nhà quản trị, trong đó
chức năng nổi bật nhất là chức năng hoạch định và kiểm soát.
Tùy theo tiêu thức phân loại dự toán ngân sách chia thành các loại như: dự
toán ngân sách ngắn hạn, dự toán ngân sách dài hạn, dự toán hoạt động, dự toán tài
chính, dự toán ngân sách linh hoạt, dự toán ngân sách cố định, dự toán từ gốc, dự
khăntrong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh. Chính vì vậy,
ngày 22/4/1980
theo quyết định 83/QĐ - H16 Tổng cục hậu cần chính thức tách liên hiệp các xí
nghiệp quân trang và quân dụng thành các công ty.
Từ đó Xí nghiệp 32 ra đời.
Ngày 22/02/1992 theo quyết định số 85/QĐ – QP, Xí nghiệp 32 được nâng cấp
thành Công ty 32 trực thuộc Tổng cục hậu cần và không ngừng phát triển tới ngày
hôm nay với tên giao dịch: Army Run Shoes And Garment Production And Ex –
Import Company. Viết tắt ASECO, là doanh nghiệp Nhà Nước trực thuộc Tổng cục
hậu cần. Trụ sở chính đặt tại : 170 đường
Quang trung – Quận Gò Vấp – Thành Phố
Hồ Chí Minh.
2.1.1.2 Chức năng, nhiệm vụ
Công ty 32 là doanh nghiệp Nhà nước trực thuộc Tổng cục hậu cần, có tư
cách pháp nhân riêng và có chức năng, nhiệm vụ sau đây:
Chức năng:
- Sản xuất các sản phẩm ngành Giày.
18
- Gia cơng các sản phẩm ngành Giày.
Nhiệm vụ:
Sản xuất, tạo nguồn cung cấp các sản phẩm giày, dép phục vụ cho nhu cầu qn đội
thơng qua đơn đặt hàng của Tổng cục hậu cần. Ngồi việc phục vụ cho qn đội
cơng ty tham gia sản xuất, gia cơng các sản phẩm giày, dép cung cấp thị trường
trong và ngồi nước.
2.1.1.3 Một số chỉ tiêu kết quả sản xuất kinh doanh tại cơng ty 32
Bảng 2.1: Bảng các chỉ tiêu kết quả kinh doanh
ĐVT: VND
Chỉ tiêu Năm 2002 Năm 2003 Năm 2004
Doanh thu 118.435.329.500 125.382.244.960 131.223.755.196
Lợi nhuận trước thuế 4.112.450.059 5.295.388.373 3.807.824.129
2.1.1.4 Tổ chức tổ chức bộ máy quản lý tại cơng ty 32
a) Sơ đồ tổ chức bộ máy quan lý tại cơng ty 32 GIÁM ĐỐC
PGĐ chính
trò
PGĐ kinh
doanh
g
nghe
ä
Phò
ng
tổ
chứ
c
sản
xuất
Phò
ng
kinh
doan
h –
xuất
nhậ
p
khẩ
Phò
ng
hàn
h
chính
,
quả
n trò
Văn
phò
ng
động, quản lý vật tư, thiết bị, phương tiện vận tải.
Phòng tài chính kế toán: 10 người. Nhiệm vụ của phòng là quản lý chấp
hành ngân sách Nhà Nước, tham mưu giám sát, thực hiện chế độ kế toán tài chính,
tổ chức công tác kế toán, theo dõi thực hiện chế độ thu chi, nộp thuế, sử dụng nguồn
vốn, theo dõi quản lý tài sản của công ty và Nhà Nước.
Phòng hành chính quản trị: Tổng số CBCNV 12 người. Nhiệm vụ là lưu
trữ văn văn thư, quản lý điều hành hoạt động trực ban, bảo vệ, tuần tra, quản lý
doanh trại, nhà đất xây dựng cơ bản, đảm bảo quân y, nhà ăn, phục vụ vệ sinh,
thông tin liên laic toàn công ty.
Phòng kỹ thuật công nghệ: Tổng số CBCNV 10 người. Đảm bảo công
tác quản lý phương tiện vận tải, quản lý hệ thống điện, nước. Quản lý kỹ thuật và
chất lượng sản phẩm, kỷ thuật an toàn vệ sinh lao động, an toàn thiết bị công
nghiệp, xây dựng qui trình công nghệ sản xuất.
Phòng chính trị: Tổng số CBCNV 7 người. Có nhiệm vụ giáo dục chính
trị và tư tưởng, công tác cán bộ. Thực hiện công tác tổ chức, xây dựng đảng, công
tác quần chúng.
Chi nhánh ở Hà Nội và Đac Lak: Tổng số CBCNV tại hà Nội
7 người,
Đăc lak 5 người. Có nhiệm vụ đại diện cho công ty kinh doanh và
thực hiện công
tác theo sự chỉ đạo của Giám đốc.
Xí nghiệp: Hiện nay công ty có 6 xí nghiệp hoạt động theo sự quản lý,
chỉ đạo thống nhất của công ty.
22
Các xí nghiệp trực thuộc công ty thực hiện chế độ hạch toán nội bộ, phụ
thuộc công ty.
Các xí nghiệp được quyền chủ động triển khai các kế hoạch sản xuất phù
hợp với năng lực sản xuất và đặc điểm của xí nghiệp mình. Được quyền chủ động
về mặt tài chính trong phạm vi công ty phân bổ cho xí nghiệp, được nhận vốn và
chịu trách nhiệm quản lý tài sản.
tiêu thụ ngoài nước.
- Công ty có thị trường tiêu thụ sản phẩm ổn định gắn bó với công ty hơn 10 năm
qua như thị trường Ucraina, Lào, Thụy điển …Đối với thị trường trong nước thì
công ty đã có lượng khách hàng quen thuộc ở khu vực Tây Nguyên, Miền Bắc…
Thị trường tiêu thụ Miền Đông Nam bộ và TP.HCM cũng đã được mở rộng một
cách nhanh chóng trong thời gian gần đây.
- Công ty có nhiều xí nghiệp sản xuất (6 xí ngiệp) nên hỗ trợ sản xuất rất tốt trong
việc phân bổ các đơn hàng và phối hợp sản xuất các đơn hàng khi bị hạn chế về
năng lực sản xuất hoặc bị sức ép về thời gian giao hàng.
- H? th?ng nhà x??ng và máy mĩc thi?t b? c?a cơng ty hi?n nay t??ng đối hiện đại.
Cả công ty đến các xí nghiệp đã được đầu tư đổi mới hàng loạt trong thời gian từ
năm 1999 đến năm 2004. Nhìn chung công ty đã hoàn thành xong kế hoạch đổi
mới, nâng cấp máy móc thiết bị toàn công ty. Vì vậy, trong những năm sau năm sau
công ty có thể tập trung toàn bộ nguồn lực cho việc phát triển sản xuất, tăng doanh
thu.
- Công ty có hệ thống khuôn viên nhà xưởng rộng rãi, thoáng mát bảo đảm sức
khỏe, phát huy tích cực tinh thần làm việc của công nhân viên và đảm bảo an toàn
lao động .
- Công ty có đội ngũ thợ lành nghề, ổn định, có nhiều năm kinh nghiệm. Cán bộ
công nhân viên đoàn kết, kỷ luật tốt. Ngành may là ngành cần nhiều lao động, thuận
lơiï của công ty là có lực lượng lao động dồi dào, việc tuyển dụng lao động ngành
may vào công ty 32 tương đối thuận lợi hơn những công ty khác trong nước vì tâm
lý người lao động vẫn thích làm cho đơn vị Nhà Nước hơn là tư nhân.
Khó khăn:
- Trình độ tổ chức quản lý của công ty còn yếu kém, mang nặng tính qui chế, chuẩn
tắc của quân đội nên không phù hợp với cơ chế thị trường, đòi hỏi sự linh hoạt,
mềm dẻo.
- Bộ phận thiết kế mẫu của công ty còn yếu kém do mới được thành lập. Chưa linh
hoạt trong việc thay đổi mẫu mã đáp ứng kịp thời với những thay đổi của khách
24
- Phấn đấu giảm tỷ trọng hàng gia công xuất khẩu, tăng tỷ trọng tiêu thụ hàng xuất
khẩu trực tiếp.
2.1.2 Tổ chức công tác kế toán tại công ty 32
2.1.2.1 Hình thức tổ chức hệ thống sổ sách kế toán:
Công ty áp hệ thống kế toán Việt Nam theo quyết định 1141/TCQĐ/CĐKT
ngày 1/1/1995, tuân thủ Luật kế toán và áp dụng các chế độ, chính sách kế toán theo
qui định của Nhà Nước có liên quan đến hoạt động của công ty.
25
Công ty tổ chức ghi sổ kế toán theo hình thức chứng từ ghi sổ. Hệ thống các
mẫu sổ được thực hiện đầy đủ, tổ chức mở sổ, ghi sổ, khóa sổ theo đúng qui định
của Bộ tài chính.
Hệ thống sổ sách hiện tại của công ty 32
- Sổ đăng ký chứng từ ghi sổ
- Sổ cái các tài khoản
- Sổ và thẻ kế toán chi tiết:
+ Sổ chi tiết thanh toán với người bán
+ Sổ chi tiết thanh toán với người mua
+ Sổ ch tiết thanh toán với ngân sách Nhà Nước
+ Sổ chi tiết thanh toán nội bộ.
+ Sổ tài sản cố định
+ Sổ theo dõi khấu hao
+ Sổ theo dõi lương và các khoản trích theo lương.
+ Sổ chi tiết nguyên vật liệu
+ Sổ chi phí sản xuất
+ Thẻ tính giá thành
+ Sổ chi tiết thành phẩm
+ Sổ chi tiết tiền gởi
+ Sổ chi tiết tiền vay v.v…
2.1.2.2 Tổ ch
ức bộ máy kế toán