Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/ ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
––––––––––––––––––––––––––––
HÀ QUANG
GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHO VAY TIÊU DÙNG
TẠI NGÂN HÀNG TMCP PHÁT TRIỂN NHÀ ĐỒNG BẰNG
SÔNG CỬU LONG – CHI NHÁNH PHÚ THỌ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Chuyên ngành: QUẢN LÝ KINH TẾ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Cao Thịnh THÁI NGUYÊN - 2014
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/ i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi, chưa
công bố tại bất kỳ nơi nào, mọi số liệu sử dụng trong luận văn này là những thông
tin xác thực.
Tôi xin chịu mọi trách nhiệm về lời cam đoan của mình.
Phú Thọ, ngày 20 tháng 02 năm 2014
Tác giả luận văn
Hà Quang
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/ iii
MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các cụm từ viết tắt vi
Danh mục các bảng vii
Danh mục các hình viii
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục tiêu nghiên cứu 2
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 2
4. Ý nghĩa khoa học và ứng dụng của đề tài nghiên cứu 3
5. Kết cấu của luận văn 3
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHO VAY TIÊU
DÙNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 4
1.1. Cơ sở lý luận về cho vay tiêu dùng của Ngân hàng thương mại 4
1.1.1. Ngân hàng Thương mại và cho vay của ngân hàng thương mại 4
1.1.2. Cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại 14
1.1.3. Các nhân tố ảnh hưởng tới cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại 26
1.1.4. Nội dung đánh giá hiệu quả hoạt động cho vay tiêu dùng ở ngân hàng
thương mại 35
1.2. Cơ sở thực tiễn về cho vay tiêu dùng ở một số ngân hàng trong nước và
trên thế giới 36
1.2.1. Cho vay tiêu dùng của một số ngân hàng trong nước 36
3.2.4. Cơ cấu cho vay tiêu dùng 68
3.2.5. Hệ số thu hồi nợ và nợ xấu trong cho vay tiêu dùng 73
3.2.6. Đánh giá thực trạng cho vay tiêu dùng 80
3.3. Những yếu tố ảnh hưởng đến cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng TMCP Phát
triển nhà đồng bằng sông Cửu Long - Chi nhánh Phú Thọ 86
3.3.1. Ảnh hưởng bởi các nhân tố từ phía ngân hàng 86
3.3.2. Nhân tố từ phía khách hàng 88
3.3.3. Các nhân tố từ môi trường kinh tế - văn hóa - xã hội, môi trường pháp lý
và chủ trương chính sách của Nhà nước 89
3.4. Những vấn đề đặt ra cần giải quyết trong hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân
hàng TMCP Phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long - Chi nhánh Phú Thọ 91
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/ v
Chƣơng 4: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHO VAY TIÊU DÙNG
TẠI NGÂN HÀNG TMCP PHÁT TRIỂN NHÀ ĐỒNG BẰNG SÔNG
CỬU LONG - CHI NHÁNH PHÚ THỌ 94
4.1. Định hướng CVTD của Ngân hàng TMCP Phát triển nhà Đồng bằng Sông
Cửu Long - Chi nhánh Phú Thọ 94
4.1.1. Định hướng phát triển của Ngân hàng TMCP Phát triển nhà Đồng bằng
Sông Cửu Long - Chi nhánh Phú Thọ 94
4.1.2. Định hướng quản trị rủi ro của Ngân hàng Thương mại cổ phần Phát triển
nhà Đồng bằng Sông Cửu Long - Chi nhánh Phú Thọ 95
4.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng thương mại
cổ phần Phát triển nhà Đồng bằng Sông Cửu Long - Chi nhánh Phú Thọ 97
4.2.1. Hoàn thiện quy trình cho vay, xây dựng và tổ chức thực hiện thẩm định
hồ sơ khoa học, chắc chắn 97
4.2.2. Áp dụng chính sách tín dụng theo hướng thông thoáng hơn 98
NHTM : Ngân hàng thương mại
SXKD : Sản xuất kinh doanh
TMCP : Thương mại cổ phần
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/ vii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Tình hình huy động vốn của Ngân hàng TMCP Phát triển nhà đồng
bằng sông Cửu Long - Chi nhánh Phú Thọ 4 năm từ 2009 đến 2012 55
Bảng 3.2: Tình hình dư nợ của Ngân hàng TMCP Phát triển nhà đồng bằng
sông Cửu Long - Chi nhánh Phú Thọ 58
Bảng 3.3: Doanh thu của hoạt động kinh doanh 59
Bảng 3.4: Tỷ trọng cho vay tiêu dùng trong tổng dư nợ 60
Bảng 3.5: Cơ cấu dư nợ cho vay tiêu dùng theo loại hình khách hàng 68
Bảng 3.6: Cơ cấu dư nợ cho vay tiêu dùng theo thời gian vay vốn 69
Bảng 3.7: Cơ cấu dư nợ cho vay tiêu dùng theo tài sản bảo đảm 70
Bảng 3.8: Cơ cấu dư nợ cho vay tiêu dùng theo loại hình sản phẩm 71
Bảng 3.9: Hệ số thu hồi nợ từ cho vay tiêu dùng 73
Bảng 3.10: Tình hình nợ xấu trong hoạt động cho vay tiêu dùng 74
Bảng 3.11: Tình hình nợ xấu trong hoạt động cho vay tiêu dùng theo thời gian 77
Bảng 3.12: Tỷ trọng nợ xấu cho vay tiêu dùng theo loại hình sản phẩm 78
Bảng 3.13: Tỷ trọng nợ xấu cho vay tiêu dùng theo đối tượng vay 79
Bảng 3.14: Tỷ trọng nợ xấu cho vay tiêu dùng theo tài sản bảo đảm 80
Bảng 3.15: Lãi thu từ hoạt động cho vay tiêu dùng trong tổng lợi nhuận từ các
hoạt động cho vay 83
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, hoạt động cho vay tiêu dùng (CVTD) mang một
vai trò quan trọng trong dịch vụ ngân hàng, nó đóng góp một phần lợi nhuận không
nhỏ trong hoạt động cho vay của ngân hàng. Trong bối cảnh người tiêu dùng với
mức thu nhập ngày càng ổn định và được cải thiện, cùng với trình độ dân trí và mức
sống cao, là cơ sở để thúc đẩy hoạt động cho vay tiêu dùng ngày càng phát triển
mạnh mẽ và làm tăng tính cạnh tranh giữa các ngân hàng thương mại.
Ngân hàng Thương mại cổ phần (TMCP) Phát triển nhà đồng bằng sông Cửu
Long là Ngân hàng thương mại cổ phần với 80% vốn chủ sở hữu thuộc về Nhà
nước là một trong những ngân hàng hàng đầu về quy mô và chất lượng hoạt động
tại Việt Nam. Ngân hàng TMCP Phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long - Chi
nhánh Phú Thọ là đơn vị thành viên của hệ thống đóng tại địa bàn tỉnh Phú Thọ, có
thành phố Việt Trì vẫn được coi là thành phố công nghiệp của miền Bắc, chính vì
vậy tiềm năng phát triển của kinh tế tỉnh Phú Thọ và nhu cầu vay tiêu dùng tại đây
là rất lớn. Sự phát triển của nền kinh tế cũng như nhu cầu tiêu dùng của người dân
nhất thiết phải có sự hỗ trợ của các ngân hàng. Bởi vậy, CVTD là một thị trường
tiềm năng đối với các NHTM nói chung và Ngân hàng TMCP Phát triển nhà đồng
bằng sông Cửu Long - Chi nhánh Phú Thọ nói riêng trong thời gian tới.
Trước bối cảnh đó, Ngân hàng TMCP Phát triển nhà đồng bằng sông Cửu
Long - Chi nhánh Phú Thọ đã nhận thức được tầm quan trọng của việc thiết lập
quan hệ với khu vực khách hàng vay tiêu dùng tại địa bàn. Chi nhánh đã triển khai
nhiều loại hình tín dụng tiêu dùng đối với khách hàng cá nhân, không ngừng đẩy
mạnh dư nợ CVTD, từng bước cải thiện quy trình, quy chế cho vay phù hợp nhu
cầu của khách hàng.
Tuy vậy, hoạt động CVTD vẫn còn có những hạn chế nhất định như: Mức
CVTD tối đa còn thấp, thời hạn CVTD ngắn, chính sách và thủ tục CVTD còn phức
sông Cửu Long - Chi nhánh Phú Thọ. Ngoài ra, trong một số trường hợp, đề tài sẽ
tiếp cận một số đối tượng (tổ chức, cá nhân) vay vốn tín dụng để nghiên cứu, phân
tích sâu.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về mặt không gian: Nghiên cứu trên phạm vi địa bàn tỉnh Phú Thọ
- Về mặt thời gian: Sử dụng dữ liệu 2010 - 2012, một số số liệu có thể lấy
trong phạm vi thời gian xa hơn (từ những năm 2008 và 2009).
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/ 3
- Nội dung nghiên cứu: Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu trong phạm vi nội
dung về thực trạng CVTD Ngân hàng TMCP Phát triển nhà đồng bằng sông Cửu
Long - Chi nhánh Phú Thọ từ năm 2010 đến năm 2012
4. Ý nghĩa khoa học và ứng dụng của đề tài nghiên cứu
Việc nghiên cứu đề tài này có ý nghĩa thiết thực về mặt lý luận cũng như
thực tiễn. Về mặt lý luận, đề tài sẽ hình thành một hệ thống lý luận liên quan đến
CVTD (khái niệm, nội hàm của các thuật ngữ liên quan; đặc điểm nhận dạng và các
nội dung lý thuyết liên quan đến CVTD…).
Về mặt thực tiễn, thông qua đánh giá thực trạng CVTD, đề tài sẽ cung cấp cơ
sở, luận cứ, bằng chứng khoa học cho nhà quản trị ngân hàng nhất là Ngân hàng
TMCP Phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long - Chi nhánh Phú Thọ các thông tin
một cách sát thực về vấn đề CVTD. Đồng thời đề xuất một số giải pháp nhằm nâng
cao chất lượng CVTD tại ngân hàng, để Ngân hàng TMCP Phát triển nhà đồng bằng
sông Cửu Long - Chi nhánh Phú Thọ có thể tham khảo.
Kết quả thực hiện của Đề tài không chỉ cung cấp cho các ngân hàng những
thông tin quan trọng về lý thuyết, kỹ năng quản trị mà còn là tài liệu tham khảo có
giá trị cho các tổ chức, cá nhân nghiên cứu khoa học… liên quan đến CVTD tại các
ngân hàng ở Việt Nam.
nhau, cùng bình đẳng trước pháp luật. Theo đó, nền kinh tế hàng hoá phát triển tất
yếu tạo ra những tiền đề cần thiết, đòi hỏi sự ra đời của nhiều loại hình ngân hàng
và các tổ chức tín dụng khác.
Ngân hàng là một loại hình tổ chức kinh doanh có vai trò vô cùng quan trọng.
Với sự hiện hữu của ngân hàng, các cá nhân, hộ gia đình có thể nhận được các
khoản vay để trang trải chi phí học tập, mua sắm ô tô, đồ dùng gia đình, sửa chữa và
xây dựng nhà cửa. Với các hãng kinh doanh, các khoản vay của ngân hàng được coi
như nguồn tài chính quan trọng để bổ sung vốn để mở rộng sản xuất, nâng cao chất
lượng sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh với các doanh nghiệp khác trên thị
trường trong nước và quốc tế. Bên cạnh đó, ngân hàng cũng là một địa chỉ tin cậy
nếu chúng ta muốn cất giữ tiền hay nhận được lời khuyên về lĩnh vực đầu tư cho
khoản tiền tiết kiệm.
Có thể nói rằng, mỗi chủ thể trong nền kinh tế dù trực tiếp hay gián tiếp đều ít
nhất một lần được hưởng lợi do hoạt động của ngân hàng mang lại. Để tăng cường
quản lý, hướng dẫn hoạt động của các ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác, tạo
thuận lợi cho sự phát triển nền kinh tế đồng thời bảo vệ lợi ích hợp pháp của các tổ
chức và cá nhân, việc hiểu đúng khái niệm Ngân hàng thương mại (NHTM) là hết
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/ 5
sức cần thiết.
Tại Khoản 3, Điều 4 Luật các Tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 được Quốc
hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa 12, kỳ họp thứ 7 thông qua
ngày 16/06/2010, NHTM được định nghĩa: là loại hình ngân hàng được thực hiện
tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của
Luật Các Tổ chức tín dụng nhằm mục tiêu lợi nhuận.
Cũng tại Khoản 2 Điều này quy định: Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng
có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật Các
Trung gian thanh toán: Nếu như mọi khoản chi trả của xã hội đều được thực
hiện bên ngoài ngân hàng thì chi phí thực hiện là rất lớn, bao gồm: chi phí in, đúc,
bảo quản, vận chuyển tiền Với sự ra đời của NHTM, phần lớn các khoản chi trả
trong hoạt động mua bán trao đổi hàng hoá dịch vụ của xã hội dần được thực hiện
qua ngân hàng, với những hình thức thanh toán phù hợp, thủ tục đơn giản, nhanh
chóng, thuận tiện với công nghệ ngày càng hiện đại hơn. Chính nhờ tập trung công
việc thanh toán của xã hội ở ngân hàng nên việc lưu thông hàng hoá dịch vụ trở nên
nhanh chóng, an toàn, tiết kiệm hơn. Không những vậy, do thực hiện chức năng
trung gian thanh toán, NHTM có điều kiện huy động tiền gửi của toàn xã hội nói
chung và của doanh nghiệp nói riêng tới mức tối đa, tạo nguồn vốn cho đầu tư phát
triển, đẩy mạnh hoạt động của ngân hàng.
Chức năng tạo tiền: Xuất phát từ khả năng thay thế lượng tiền giấy bạc trong
lưu thông bằng những phương tiện thanh toán khác như séc, uỷ nhiệm chi Chức
năng này được thực hiện thông qua nghiệp vụ tín dụng và đầu tư của hệ thống
NHTM, trong mối liên hệ chặt chẽ với hệ thống dự trữ quốc gia. Hệ thống tín dụng
là điều kiện cần thiết cho phát triển kinh tế theo hệ số tăng trưởng vững chắc. Mục
đích của chính sách dự trữ quốc gia là đưa ra một khối lượng tiền cung ứng phù hợp
với chính sách ổn định giá cả, tăng trưởng kinh tế và việc làm.
1.1.1.2. Khái quát hoạt động kinh doanh cơ bản của ngân hàng thương mại
- Hoạt động huy động vốn
NHTM là một loại hình doanh nghiệp bởi vậy muốn mở rộng các hoạt động
kinh doanh nó phải tự tạo lập được nguồn vốn từ các nguồn sau:
Vốn tự có bao gồm vốn điều lệ, các quỹ dự trữ và một số tài sản nợ khác theo
quy định của Ngân hàng Trung ương.
Vốn huy động là việc huy động nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội thông qua các
hình thức: (i) Huy động vốn từ hoạt động nhận tiền gửi tiết kiệm trong dân cư và tiền
gửi thanh toán của các cá nhân và doanh nghiệp có hoạt động tại ngân hàng. Đây là
hình thức huy động vốn phổ biến của các NHTM, để gia tăng tiền gửi trong môi
trường cạnh tranh, các ngân hàng đã đưa ra nhiều hình thức huy động tiền gửi đa
dạng như: tiền gửi thanh toán, tiền gửi có kỳ hạn của các tổ chức kinh tế; tiền gửi tiết
Được thực hiện dưới hai hình thức
- Đầu tư chứng khoán: Các khoản đầu tư chứng khoán có khả năng trao đổi
trên thị trường đóng vai trò quan trọng trong hoạt động của các NHTM. Chứng
khoán cung cấp một nguồn thu nhập bổ sung cho ngân hàng, đây là nguồn thu nhập
tương đối quan trọng trong quản trị ngân hàng cũng như cho các cổ đông khi thu
nhập từ danh mục cho vay suy giảm. Chứng khoán có thanh khoản cao, tạo nên tính
lỏng cho tài sản của ngân hàng, hỗ trợ cho nguồn tiền mặt và nguồn tiền vay từ thị
trường tiền tệ khi ngân hàng phải đáp ứng các yêu cầu thanh toán quy mô lớn. Việc
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/ 8
đầu tư vào chứng khoán có tính thanh khoản cao có thể giúp ngân hàng điều chỉnh
mức rủi ro tín dụng tổng thể trong danh mục tài sản.
- Đầu tư vốn liên doanh, liên kết là việc ngân hàng bỏ vốn ra để liên doanh,
liên kết với các NHTM, tổ chức tín dụng khác hoặc các doanh nghiệp thuộc các lĩnh
vực sản xuất thương mại, dịch vụ để tăng phần vốn góp tạo ra những lợi thế cho
ngân hàng và nền kinh tế.
Chiết khấu giấy tờ có giá và các công cụ chuyển nhƣợng: Việc chiết khấu
giấy tờ có giá, công cụ chuyển nhượng của ngân hàng cho khách hàng được thực
hiện với hai phương thức là chiết khấu có thời hạn và chiết khấu toàn bộ. Chiết
khấu có thời hạn thực chất là một hình thức cấp tín dụng, còn chiết khấu toàn bộ là
một khoản đầu tư của ngân hàng.
Hoạt động dịch vụ ngân hàng
Dịch vụ ngân hàng được phát triển mạnh trong nền kinh tế thị trường và đưa
lại nguồn thu đáng kể cho các NHTM. Các hoạt động dịch vụ ngân hàng được thực
hiện dưới các hình thức sau:
Dịch vụ thanh toán, cung cấp các tài khoản giao dịch: Đây là một nghiệp
vụ truyền thống của ngân hàng, hoạt động này của ngân hàng cho phép khách hàng
có độ rủi ro cao, đồng thời yêu cầu phải có trình độ chuyên môn cao.
Cung cấp các dịch vụ uỷ thác: Ngân hàng thực hiện quản lý tài sản và quản lý
hoạt động tài chính cho cá nhân và doanh nghiệp thương mại. Theo đó ngân hàng sẽ
thu phí trên cơ sở giá trị tài sản hay quy mô vốn mà họ quản lý. Hầu hết các ngân hàng
đều cung cấp cả hai loại dịch vụ là dịch vụ uỷ thác thông thường cho cá nhân, hộ gia
đình và uỷ thác thương mại cho các doanh nghiệp.
Thông qua phòng uỷ thác cá nhân, khách hàng có thể tiết kiệm các khoản tiền
để cho con đi học. Ngân hàng sẽ quản lý và đầu tư khoản tiền đó cho đến khi khách
hàng cần. Thậm chí phổ biến hơn, các ngân hàng đóng vai trò là người được uỷ thác
trong di chúc quản lý tài sản cho khách hàng đã qua đời bằng cách công bố tài sản,
bảo quản các tài sản có giá, đầu tư có hiệu quả và đảm bảo cho người thừa kế hợp
pháp việc nhận được khoản thừa kế. Trong phòng uỷ thác thương mại, ngân hàng
quản lý danh mục đầu tư chứng khoán và kế hoạch tiền lương cho các doanh nghiệp.
Ngân hàng đóng vai trò như những người đại lý cho các doanh nghiệp trong hoạt
động phát hành cổ phiếu, trái phiếu.
Cung cấp các dịch vụ môi giới đầu tƣ chứng khoán: Trên thị trường tài
chính hiện nay, nhiều ngân hàng đang phấn đấu để trở thành một “Bách hoá tài
chính” thực sự, cung cấp đầy đủ các dịch vụ tài chính, cho phép khách hàng thoả
mãn mọi nhu cầu tài chính tại một thời điểm. Đây là lý do khiến các ngân hàng bắt
đầu cung cấp các dịch vụ môi giới chứng khoán, cung cấp cho khách hàng các cơ
hội mua cổ phiếu, trái phiếu và các chứng khoán khác mà không phải nhờ đến
người kinh doanh chứng khoán.
Tƣ vấn tài chính: Các ngân hàng từ lâu đã được khách hàng yêu cầu thực
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/ 10
hiện hoạt động tư vấn tài chính, đặc biệt là về tiết kiệm và đầu tư. Ngân hàng ngày
nay thực hiện nhiều dịch vụ tư vấn tài chính đa dạng, từ chuẩn bị về thuế và kế
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/ 11
hàng cho vay. (Ví dụ: Lãi suất cố định, lãi suất thả nổi,…).
- Đánh giá và xếp hạng khách hàng: Các khoản cho vay có hoặc không có tài
sản đảm bảo
- Khi kết thúc hợp đồng khách hàng có nghĩa vụ trả gốc và lãi hoặc một số
thoả thuận khác nếu được ngân hàng cho vay chấp nhận. Trường hợp khách hàng
không thực hiện hợp đồng hay không có một điều khoản nào khác thì tài sản đảm
bảo thuộc quyền quyết định của ngân hàng cho vay.
1.1.1.4. Các loại hình cho vay của Ngân hàng thương mại
- Dựa theo mục đích sử dụng tiền vay có 2 hình thức cho vay là CVTD và cho
vay để kinh doanh.
+ CVTD: Mục đích của loại cho vay này là người đi vay phải sử dụng tiền vay
vào việc tiêu dùng, mua sắm tài sản cố định nhằm mục đích phục vụ lợi ích cá nhân.
Khi thực hiện hình thức cho vay này, cán bộ tín dụng đã phải tính đến nguồn tiền
được dùng trả nợ ngân hàng chính là thu nhập cá nhân của người vay tiền. Hình
thức cho vay này chỉ mới xuất hiện vào đầu thế kỷ XX, khi nền kinh tế hàng hoá
phát triển và những cuộc khủng hoảng kinh tế xảy ra, khiến giới tư bản sản xuất đã
phải bỏ đi bao nhiêu hàng hoá khi mà nhu cầu tiêu dùng có nhưng không có cầu
thực sự. Hình thức phổ biến nhất của loại hình này là cho vay trả góp, một loại hình
đã được áp dụng rất thành công ở các nước phát triển. Ngân hàng có thể cho các
công chức vay để họ mua sắm ô tô, xe máy, trả góp nhà. Ở các nước phương Tây và
Mỹ thì một người có thể mua ô tô để đi lại rất dễ dàng trong khi tài khoản của anh
ta không cần phải có 100% hay 50% giá trị của chiếc xe đó. Điều này đã giúp cho
việc tiêu thụ hàng hoá trở lên thuận lợi hơn, do vậy nó thúc đẩy sản xuất phát triển.
+ Cho vay để kinh doanh:
+ Mục đích của loại cho vay này là ngân hàng cho các doanh nghiệp vay để
khách hàng chủ yếu của Ngân hàng.
Các doanh nghiệp cần vay Ngân hàng để xây dựng, mở rộng cải tiến sửa chữa
tài sản cố định. Các khoản vay này có thời hạn dưới một năm.
Ngân hàng tài trợ cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu.
Ngân hàng cho vay để phát triển đất đối với các công trình xây dựng và phát
triển đô thị; cho vay đối với người tiêu dùng.
+ Cho vay trung và dài hạn:
Doanh nghiệp có nhu cầu vay trung và dài hạn để mua trang thiết bị, xây
dựng, cải tiến kĩ thuật, mua công nghệ với sự phát triển nhanh chóng của khoa học
công nghệ, để tồn tại và phát triển, nhu cầu vốn trung và dài hạn ngày càng cao.
Nhà nước vay trung và dài hạn để đầu tư phát triển.
Ngân hàng mua các trái phiếu trung và dài hạn doanh nghiệp nhằm tài trợ
cho các quá trình hình thành tài sản cố định. Kỳ hạn và khả năng chuyển đổi của trái
phiếu, lãi suất trái phiếu, tình hình tài chính doanh nghiệp, các kế hoạch tương lai
đều được ngân hàng tính toán khi mua trái phiếu.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/ 13
Khi khách hàng có kế hoạch mua sắm, xây dựng tài sản cố định, nhằm thực
hiện dự án nhất định, có thể xin vay ngân hàng. Một trong những yêu cầu cho vay
của ngân hàng là người vay phải xây dựng dự án, thể hiện mục đích, kế hoạch đầu
tư, cũng như quá trình thực hiện dự án (sản xuất kinh doanh). Thẩm định dự án là
điều kiện để ngân hàng quyết định phần vốn cho vay và xác định khả năng hoà trả
của doanh nghiệp
- Dựa theo hình thức đảm bảo của các khoản vay có 2 hình thức cho vay là
cho vay có đảm bảo và cho vay không có đảm bảo.
+ Cho vay có đảm bảo: Đây là những khoản cho vay mà bên cạnh việc cho
khách hàng vay vốn, ngân hàng còn nắm giữ tài sản của người vay với mục đích xử
+ Cho vay trực tiếp: Phần lớn cho vay của ngân hàng là cho vay trực tiếp. Đây
là các khoản cho vay khi khách hàng trực tiếp đến ngân hàng và xin vay vốn. Ngân
hàng trực tiếp chuyển giao tiền cho khách hàng sử dụng trên cơ sở những điều kiện
mà hai bên thoả thuận.
Khi khách hàng có tài sản thế chấp, có uy tín cao mà không cần phải thông
qua trung gian nào thì họ thường vay trực tiếp Ngân hàng.
+ Cho vay gián tiếp: Đây là hình thức cho vay thông qua các tổ chức trung
gian. Ngân hàng cho vay qua các tổ, đội, hội, nhóm, như nhóm sản xuất hội nông
dân, hội cựu chiến binh, hội phụ nữ Các tổ chức này thường xuyên liên kết các
thành viên theo một mục đích riêng, song chủ yếu đều hỗ trợ lẫn nhau, bảo vệ
quyền lợi cho mỗi thành viên. Vì vậy việc phát triển kinh tế, làm giầu, xoá đói giảm
nghèo luôn được các trung gian rất quan tâm.
Ngân hàng cũng có thể cho vay thông qua người bán lẻ các sản phẩm đầu
vào của quá trìmh sản xuất. Việc cho vay theo cách này sẽ hạn chế người vay sử
dụng tiền sai mục đích.
Cho vay gián tiếp thường được áp dụng đối với thị trường có nhiều món vay
nhỏ, người vay phân tán, cách xa Ngân hàng. Trong trường hợp như vậy cho vay
trung gian có thể tiết kiệm chi phí cho vay (phân tích, giám sát, thu nợ )
Cho vay trung gian đều nhằm giảm bớt rủi ro chi phí của ngân hàng. Tuy
nhiên nó cũng bộc lộ các khiếm khuyết. Nhiều trung gian đã lợi dụng vị thế của
mình và nếu ngân hàng không kiểm soát tốt sẽ tăng lãi suất để cho vay lại hoặc giữ
lấy số tiền của các thành viên khác cho riêng mình. Các nhà bán lẻ có thể lợi dụng
để bán hàng kém chất lượng hoặc với giá cho người vay vốn.
1.1.2. Cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại
1.1.2.1. Khái niệm, đặc điểm cho vay tiêu dùng
- Khái niệm cho vay tiêu dùng
Tại Khoản 16, Điều 4 Luật Các Tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 định
nghĩa: “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết
giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một
đồ dùng gia đình, đi du học, lao động nước ngoài…
Giai đoạn đầu, hầu hết các ngân hàng không tích cực cho vay đối với cá nhân,
hộ gia đình bởi họ tin rằng các khoản CVTD có quy mô nhỏ và rủi ro không trả
được nợ cao, do đó làm cho chúng có mức sinh lời thấp. Tuy nhiên, sự gia tăng thu
nhập của người tiêu dùng và sự cạnh tranh trong cho vay đã buộc các ngân hàng
phải hướng tới người tiêu dùng như là một khách hàng tiềm năng