du lịch các làng nghề thủ công truyền thống ở huyện phú vang, tỉnh thừa thiên huế - Pdf 23

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong tiến trình lịch sử phát triển của tỉnh Thừa Thiên Huế, kể từ khi nhà Nguyễn
chọn đất Huế làm đất định đô, hệ thống làng xã nông thôn của Thuận Hóa - Phú Xuân
lúc bấy giờ đã có những chuyển động cùng với sự ra đời của những phố chợ, bến cảng
đặc biệt nhu cầu trao đổi hàng hóa đã tạo tiền đề thúc đẩy sự phát triển của ngành nghề
thủ công nghiệp. Quá trình hình thành và phát triển của làng nghề thủ công nghiệp
đồng thời là quá trình thu hẹp dần kinh tế nông nghiệp và đổi mới diện mạo nông thôn
theo hướng nghề và làng nghề gắn liền với hoạt động sản xuất nông nghiệp trong nền
kinh tế - xã hội nông thôn Việt Nam truyền thống.
Nghề và làng nghề truyền thống đã góp phần tạo dựng bản sắc văn hóa Huế,
đóng góp vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế - xã hội, nhất là đối với các vùng
nông nghiệp, nông thôn. Mặt khác, làng nghề truyền thống góp phần vào sự phân
công lao động trong nền kinh tế nông nghiệp Việt Nam truyền thống thành ba
ngành công - nông -thương nghiệp. Cơ cấu kinh tế này đã thực sự tạo cho làng xã
Việt Nam có thế ổn định lâu dài, vững chắc, thậm chí cho đến cuối thế kỷ XX đầu
thế kỉ XXI với những tiến bộ khoa học công nghệ tác động vào cũng không làm cho
nó thay đổi đáng kể. Vì vậy, trong xu thế hội nhập kinh tế và văn hóa giữa các nước
ngày càng phát triển, việc bảo tồn và phát triển các đặc trưng văn hóa của một vùng,
một quốc gia là điều vô cùng quan trọng, nó vừa giữ gìn, phát triển được truyền
thống văn hóa của dân tộc để có thể “ hòa nhập quốc tế nhưng không hòa tan”, vừa
góp phần tích cực tạo động lực thúc đẩy xóa đói giảm nghèo nâng cao đời sống cho
dân cư và đổi mới bộ mặt nông thôn, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động và cơ
cấu kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn phải gắn liền với quá trình
xây dựng nông thôn mới, trong đó phát triển ngành nghề tiểu thủ công nghiệp và
làng nghề là một trong những nhân tố có tính quyết định bởi vì phát triển ngành
nghề tiểu thủ công nghiệp và làng nghề trong nông thôn sẽ góp phần thúc đẩy phát
triển cơ sở hạ tầng nông thôn, cải tạo và giữ gìn môi trường sinh thái trong các cộng
đồng dân cư nhất là trong quá trình phát triển các ngành nghề và làng nghề truyền
1

năng quản lý cũng như xây dựng cơ sở hạ tầng cần thiết cho việc phát triển du lịch,
để dần hướng tới các đối tượng khách hàng khắt khe hơn trong chất lượng dịch,
cũng như thu về lợi nhuận cao hơn.
2
Việc phát triển các dịch vụ du lịch làng nghề truyền thống không chỉ đem lại
lợi ích to lớn cho các làng nghề truyền thống mà còn mang lợi ích cho xã hội, bởi
bó tạo ra sân chơi mới và lành mạnh và nâng cao tầm hiểu biết của con người về
lịch sử văn hóa dân tộc nói chung và Huế-Phú Vang nói riêng.
Vấn đề phát triển du lịch làng nghề cũng được đánh giá là một vấn đề mang
tính vĩ mô và với tầ quan trọng của sự phát triển làng nghề gắn với du lịch và những
tiềm năng lớn của làng nghề với đối tượng khách du lịch, với lý do như vậy nên tôi
chọn “Du lịch các làng nghề thủ công truyền thống ở huyện Phú Vang, tỉnh
Thừa Thiên Huế” làm đề tài niên luận năm thứ ba của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Làng nghề thủ công truyền thống, nhiều tác giả đã nghiên cứu và viết thành
sách về nhiều mặt như “Huế nghề và làng nghề thủ công truyền thống, Thuận Hóa,
Huế” của tác giả Nguyễn Hữu Thông, “Tết Huế và những sản phẩm thủ công truyền
thống” Huế xưa và nay, số 43 trang 35-41 của tác giả Hoàng Bảo.
Đề tài “Đánh giá hiện trạng môi trường làng nghề truyền thống Thừa Thiên Huế”
thuộc đề tài cấp nhà nước: “Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc xây dựng
các chính sách và biện pháp giải quyết vấn đề môi trường ở các làng nghề Việt Nam”.
Chủ trì: TS. Lê Văn Thăng, thuộc khoa Môi trường, Đại học Khoa học Huế.
- Các đề tài nghiên cứu các làng nghề truyền thống ở các tỉnh, thành khác:
+ Đề tài: “Vốn cho phát triển làng nghề ở Hà Tây”, Nguyễn Văn Công.
+ Đề tài: “ Giải pháp tín dụng ngân hàng nhằm thúc đẩy phát triển làng nghề
ngoại thành Hà Nội”, Nguyễn Thị Mùi.
+ Đề tài: “Mối quan hệ giữa văn hóa và du lịch trong thời kỳ đổi mới ở nước ta
hiện nay”, Đoàn Thị Thanh Thúy.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu đã có nhiều cách tiếp cận và giải quyết các
vấn đề dưới nhiều góc độ khác nhau, tuy nhiên nghiên cứu các làng nghề truyền thống

thống ở huyện Phú Vang, Tỉnh Thừa Thiên Huế.
-Phạm vi địa điểm: Nghiên cứu tiến hành tại các làng nghề truyền thống (bao
gồm các làng nghề thủ công truyền thống) trên địa bàn huyện Phú Vang, tỉnh Thừa
Thiên Huế.
-Phạm vi thời gian: Nghiên cứu tìm hiểu các vấn đề làng nghề truyền thống
trong khoảng thời gian năm 2000 cho đến nay.
5. Phương pháp nghiên cứu
-Phương pháp điền dã.
-Phương pháp thu thập số liệu.
-Phương pháp phân tích tổng hợp và thống kê.
4
-Phương pháp lịch sử, phương pháp logic.
6. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung đề tài được chia thành ba chương
Chương 1: Tổng quan về lý thuyết và địa bàn nghiên cứu.
Chương 2: Tiềm năng du lịch các làng nghề thủ công truyền thống ở huyện
Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Chương 3: Thực trạng, và giải pháp phát triển các làng nghề truyền thống
5
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ LÝ THUYẾT VÀ ĐỊA BÀN
NGHIÊN CỨU
1.1. Tổng quan về huyện Phú Vang
Phú Vang là huyện đồng bằng ven biển và đầm phá của tỉnh Thừa Thiên Huế.
Phía Bắc giáp biển Đông, phía Tây giáp huyện Hương Trà và thành phố Huế, phía
Nam giáp huyện Hương Thủy, phía Đông giáp huyện Phú Lộc.
Toàn huyện có 19 xã và 1 thị trấn, trong đó có 13 xã, thị trấn ven biển, đầm
phá và 7 xã trọng điểm nông nghiệp. Diện tích tự nhiên 28.031 ha, trong đó đất
nông nghiệp 10.829,44 ha, đất phi nông nghiệp 13.932,94 ha, đất chưa sử dụng
3.269,42 ha. Địa hình của huyện khá phức tạp, đất rộng, người đông, với 182.336
dân, trong đó có 85.830 lao động, mật độ dân số bình quân 647 người/km

biển, đầm phá của Phú Vang thuận lợi cho nghề nuôi trồng thủy hải sản.
- Địa hình, đất đai: Phú Vang thuộc vùng đất trũng, có diện tích đầm phá
lớn, đất đai bị chia cắt bởi hệ thống sông ngòi, doi cát không thuận lợi cho phát
triển hệ thống đường bộ và đường thủy. Diện tích tự nhiên 28.031,80 ha, trong
đó đất nông nghiệp 10.829,44 ha, đất phi nông nghiệp 13.932,94 ha, đất chưa sử
dụng 3.269,42 ha.
Đất đai của huyện Phú Vang chủ yếu là đất nông nghiệp và mặt nước nuôi
trồng thủy sản. Tiềm năng đất chưa khai thác còn lớn, chiếm 42,3% tổng diện tích
đất tự nhiên. Tuy nhiên, tỷ lệ đất chưa sử dụng có thể chuyển sang gieo trồng không
lớn, chủ yếu là các cồn cát, đất bãi cát. Đất mặt nước chưa sử dụng chủ yếu là đất
ao hồ, đầm phá.
- Khoáng sản: Phú Vang là nơi có nhiều khoáng sản Ti tan, tập trung ở các xã
Phú Diên, Vinh Xuân, Vinh Thanh và Vinh An, có chất lượng tốt với quy mô khá
lớn đang được khai thác.
1.2. Tổng quan về du lịch và du lịch làng nghề truyền thống
1.2.1. Khái niệm du lịch
Ngày nay, du lịch đã trở thành một hiện tượng kinh tế xã hội phổ biến không
chỉ ở các nước phát triển mà còn ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam.
Tuy nhiên, cho đến nay không chỉ ở nước ta, nhận thức về nội dung du lịch vẫn
chưa thống nhất.
Do hoàn cảnh khác nhau, dưới mỗi góc độ nghiên cứu khác nhau, mỗi người
có một cách hiểu về du lịch khác nhau. Do vậy có bao nhiêu tác giả nghiên cứu về
du lịch thì có bấy nhiêu định nghĩa.
Dưới con mắt của Guer Freuler thì “du lịch với ý nghĩa hiện đại của từ này là
một hiện tượng của thời đại chúng ta, dựa trên sự tăng trưởng về nhu cầu khôi phục
7
sức khoẻ và sự thay đổi của môi trường xung quanh, dựa vào sự phát sinh, phát
triển tình cảm đối với vẻ đẹp thiên nhiên”.
Kaspar cho rằng du lịch không chỉ là hiện tượng di chuyển của cư dân mà phải
là tất cả những gì có liên quan đến sự di chuyển đó. Chúng ta cũng thấy ý tưởng này

8
Luật Du lịch của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành ngày 01
tháng 01 năm 2006, tại chương 1, điều 10 định nghĩa:" Du lịch là hoạt động của
con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan,
tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong thời gian nhất định ".
1.2.2. Khái niệm làng nghề thủ công truyền thống
Theo tiến sỹ Phạm Côn Sơn trong cuốn “ Làng nghề truyền thống Việt Nam”
làng nghề được định nghĩa như sau" Làng là một đơn vị hành chính cổ xưa mà cũng
có nghĩa là một đơn vị quần cư đông người, sinh hoạt có tổ chức, có kỷ cương tập
quán riêng theo nghĩa rộng. Làng nghề không những là một làng sống chuyên nghề
mà cũng hàm ý là những người cùng nghề sống hợp quần để phát triển công ăn việc
làm. Cơ sở vững chắc của các làng nghề là sự vừa làm ăn tập thể vừa phát triển kinh
tế, vừa giữ gìn bản sắc dân tộc và cá biệt của địa phương".
Xem xét định nghĩa ở dưới góc độ kinh tế theo Dương Bá Phượng trong: "Bảo
tồn và phát triển các làng nghề trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa” thì "
làng nghề là làng ở nông thôn có một hoặc một số nghề thủ công tách ra khỏi thủ
công nghiệp và kinh doanh độc lập". Thu nhập từ các nghề đó chiếm tỷ trọng cao
trong tổng giá trị của toàn làng” Làng nghề theo cách phân loại về thời gian gồm có:
Làng nghề truyền thống và làng nghề mới. Niên luận đi sâu vào tìm hiểu làng nghề
truyền thống ( Phú Vang ) vì có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển du lịch hiện
nay. Theo tiến sỹ Phạm Côn Sơn trong cuốn "Làng nghề truyền thống Việt Nam"
thì làng nghề được định nghĩa như sau: Làng nghề truyền thống là làng nghề cổ
truyền làm nghề thủ công truyền thống. Ở đây không nhất thiết dân làng đều sản
xuất thủ công. Người thợ thủ công nhiều trường hợp cũng là nông dân. Nhưng yêu
cầu chuyên môn hóa cao đã tạo ra những người thợ chuyên sản xuất hàng truyền
thống ngay tại làng quê của mình.
1.2.3. Đặc điểm du lịch làng nghề thủ công truyền thống
Làng nghề truyền thống tồn tại ở nông thôn, gắn bó chặt chẽ với nông nghiệp:
Các làng nghề xuất hiện và tồn tại trong từng làng xã ở nông thôn. Các ngành
nghề thủ công nghiệp tách dần khỏi nông nghiệp. Sản xuất nông nghiệp và sản xuất

Du lịch làng nghề truyền thống là một chiến lược quan trọng trong việc phát
triển làng nghề bền vững. Có thể thấy rằng du lịch làng đã mang lại lợi ích to lớn về
mặt kinh tế xã hội cho nhiều đối tượng. Việc phát triển du lịch làng nghề đã mang
lại hiệu quả kinh tế cho làng nghề như nâng cao thu nhập của các hộ dân, góp phần
làm hiện đại hóa cơ sở hạ tầng ở làng nghề Đồng thời việc phát triển du lịch làng
nghề còn giúp nâng cao tầm hiểu biết của người dân trong nước về văn hóa lịch sử
dân tộc, tăng thêm tình yêu đối với quê hương đất nước; du lịch làng nghề truyền
thống còn là một công cụ hữu hiệu để quảng bá hình ảnh văn hóa dân tộc tới du
khách nước ngoài.
10
1.2.5. Vai trò làng nghề truyền thống Phú Vang đối với hoạt động du lịch
Giữa hoạt động du lịch và làng nghề có mối quan hệ chặt chẽ hữu cơ tác động
qua lại lẫn nhau. Phát triển du lịch tại các làng nghề truyền thống là một giải pháp
hữu hiệu để phát triển kinh tế xã hội làng nghề truyền thống nói chung theo hướng
tích cực và bền vững. Ngược lại làng nghề truyền thống cũng là trung tâm thu hút
khách du lịch và có tác động mạnh mẽ trở lại khách du lịch trong mục tiêu phát
triển chung. Làng nghề truyền thống là một không gian văn hóa – kinh tế - xã hội
lâu đời, nó bảo lưu tinh hoa văn hóa từ đời này sang đời khác đúc kết bởi nghệ nhân
tài hoa. Môi trường văn hóa làng quê với cây đa bến nước sân đình, các hoạt động
lễ hội và phường hội, phong tục tập quán nếp sống đậm nét văn hoá truyền thống.
Tất cả những điều đó luôn luôn gắn kết với sự hình thành và phát triển của làng
nghề truyền thống. Và tạo ra nét văn hóa rất riêng của mỗi làng nghề truyền thống.
Phong cảnh làng nghề cùng với những giá trị chứa đựng bên trong làng nghề truyền
thống sẽ là điểm du lịch lý tưởng cho du khách, đặc biệt là khách quốc tế đến tham
quan, tìm hiểu, mua sắm tại các làng nghề. Làng nghề truyền thống còn là nơi sản
xuất ra những hàng thủ công mỹ nghệ có giá trị nghệ thuật cao, tiêu biểu độc đáo
cho mỗi vùng miền, địa phương. Vì vậy du khách đến với các điểm du lịch làng
nghề truyền thống còn mong muốn chiêm ngưỡng, mua sắm các sản phẩm thủ công
làm vật kỷ niệm trong chuyến đi của mình. Thực tế nhu cầu mua sắm của du khách
là rất lớn, làng nghề truyền thống sẽ đảm bảo đáp ứng đầy đủ nhu cầu tinh tế và đa

phần quan trọng trong việc giúp cho du khách trải nghiệm, tham gia vào hoạt động
sản xuất. Mỗi làng nghề truyền thống đều chứa đựng trong đó những yếu tố văn hoá
của mỗi làng nghề. Và chỉ khi tham gia vào những tour du lịch như vậy thì du khách
mới có thể cảm nhận được những yếu tố văn hoá của mỗi vùng miền .
Làng nghề truyền thống Phú Vang còn góp phần làm tăng doanh thu không chỉ
cho nhân dân mỗi làng nghề thông qua tiêu thụ sản phẩm mà nó còn góp phần làm
tăng doanh thu cho ngành du lịch Thừa Thiên Huế khi mà khách du lịch mua tour,
tham gia vào hoạt động du lịch tại các làng nghề truyền thống Phát triển làng nghề
truyền thống không chỉ mang lại lợi ích kinh tế góp phần phát triển hoạt động du
lịch mà còn là cơ hội để quảng bá hình ảnh con người và đất nước Việt Nam trong
đó có Thừa Thiên Huế.
12
CHƯƠNG 2: TIỀM NĂNG DU LỊCH CÁC LÀNG NGHỀ
THỦ CÔNG TRUYỀN THỐNG Ở HUYỆN PHÚ VANG,
TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
2.1. Các làng nghề truyền thống
2.1.1. Đặc điểm địa lý, nguồn gốc dân cư làng nghề hoa giấy Thanh Tiên
♦ Đặc điểm địa lý:
Thanh Tiên là một trong những làng được thành lập sớm ở xứ Thuận Hóa.
Cùng với một số địa phương khác, làng Thanh Tiên là một trong mười chín xã
thuộc tổng Mậu Tài, huyện Tư Vinh, phủ Triệu Phong. Nay là xã Phú Mậu, huyện
Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Nằm bên bờ nam hạ lưu sông hương, phía bắc giáp thôn Mậu Tài, phía Nam
giáp Thế Vinh, Đông Tây giáp dòng sông Hương bởi cồn Triều Sơn nằm giữa. Đến
nay, người dân trong vùng vẫn thuộc câu ca lưu truyền nói về địa thế và sự trù phú
của làng quê mình từ xa xưa:
“Thanh Tiên cao bợc hẩng bờ
Gọi ghe ghé lại mẹ nhờ duyên con”
Câu ca dao gơi cho ta cảnh một ngôi làng ven sông thanh bình với tiếng hũ giã
gạo của các cô thôn nữ, đó là nơi dừng chân nghỉ ngơi của các thương nhân, của

thành một bán đảo trù phú, phía Đông và phía Bắc tựa lưng vào làng Phổ Lợi (Phú
Dương) làng Vĩnh Lại (xã Phú Thanh) phía Tây và Nam quay mặt ra sông Hương.
Từ thành phố Huế qua Đập Đá, qua cầu chợ dinh chạy thẳng 7km làng Sình
nằm khiêm tốn, thanh bình trong những rặng cây xanh, những ngôi nhà nhỏ, bao
bọc xung quanh làng Sình là phong cảnh thiên nhiên tươi đẹp. Chính những con
sông, những cánh đồng lúa, đồng bắp tươi tốt giữa trời-mây-sông nước đã nuôi
dưỡng một nền văn hóa dân gian đa dạng và đặc sắc cho dân tộc, khơi dậy niềm tự
hào và yêu nước của nhân dân địa phương nói riêng và những người đã từng biết
đến làng Sình nói chung.
♦ Nguồn gốc dân cư:
Làng Sình là một vùng đất hình thành cùng lịch sử ra đời xứ Huế. Huế vào đầu
công nguyên thược lãnh thổ người Chăm. Trong thời kỳ Bắc thuôc, dưới thời nhà
Hán, Huế thuộc huyện Lô Dung, quận Nhật Nam. Năm 192 Khu Liên khởi nghĩa
thắng lợi lập nên nước Lâm Ấp tức là nước Champa. Dưới thời nhà Đường, Huế
thuộc Lâm Châu là một vùng đất tranh chấp giữa các triều đình Trung Quốc và
nước Lâm Ấp. Đến thời nhà Lý thì Huế thuộc về châu Lý của nước Lâm Ấp. Năm
14
1306 vua Chế Mân của nước Lâm Ấp lấy Huyền Trân Công Chúa con vua Trần
Nhân Tông, nhường châu Ô và châu Lý cho nước ta, được đổi tên là châu Thuận và
châu Hóa.
Từ giữa thế kỷ XVI Huế trở thành đầu cầu cho phong trào Nam Tiến lúc nhà
nước Đàng Trong thành lập Huế trở thành trung tâm thứ hai của nước ta bên cạnh
trung tâm Thăng Long. Văn hóa Huế không chỉ là đặc trưng của Huế mà Huế trở
thành trung tâm văn hóa ảnh hưởng đến cả đàng trong, nửa nước phía nam. Văn hóa
Huế có lẽ đã bắt nguồn từ vùng có nhiều di cư nhất vào đây là Thanh Hóa-Nghệ An
và đã được bổ sung bằng các yếu tố địa phương.
Công cuộc Nam tiến của nước ta bắt đầu từ thế kỷ X sau khi nước ta thoát khỏi
ách đô hộ của Trung Quốc. Thời kỳ đầu việc tranh giành đất đai vùng Bình Trị
Thiên và Quảng Nam đến Bình Định được thực hiện bằng chiến tranh và hòa hảo.
Đến thế kỷ XVI Nguyễn Hoàng được chúa Trịnh cử vào trấn thủ vùng Thuận

đai, theo lời những người đi trước thì người đầu tiên có công lập làng là một người
đàn bà họ Lê, quê Thanh Hóa không chồng không con. Về sau bà bỏ đây đi nơi
khác không để lại một dấu vết. Ban đầu miếu thờ ngài khai canh làng Sình nằm ở
ngã ba Hương Lộ. Năm 1985 do sai lầm trong việc “bài trừ mê tín dị đoan” miếu bà
bị đập. Dân làng Sình phải đưa ngài khai canh về thờ ở đình làng.
Theo cuốn “Lệ làng” cho biết, từ khi thành lập cho đến đời vua Tự Đức, làng
Lại Ân có 18 dòng họ được sắp xếp theo thời gian.
Đứng đầu là tộc Phan rồi đến tộc Võ, tộc Hà, tộc Lê, tộc Đặng, tộc Đinh, tộc
Trần, tộc Phạm, tộc Huỳnh, tộc Nguyễn, tộc Đào, tộc Ngô
Hiện nay làng Lại Ân có đến 34 dòng họ nhưng các họ như họ Lê, Đặng, Đào,
Ngô (nguyên gốc) không còn nữa. Cư dân có sự biến động rất lớn. Dân làng Lại Ân
đã phiêu tán đi nhiều nơi và cũng do nhiều nơi tụ tập về.
2.1.3. Đặc điểm địa lý, nguồn gốc dân cư làng nghề nước mắm Làng Trài-
Phú Hải
♦ Đặc điểm địa lý:
Làng Cự Lại, xã Phú Hải, huyện Phú Vang là một xã vùng biển và đầm phá
cách trung tâm huyện lỵ khoảng 25 km nằm về phía Tây Bắc, có tọa độ địa lý
107,658° đến 107,681° kinh độ Đông và từ 16,526° đến 16,557° vĩ độ Bắc, cách
thành phố Huế khoảng 23 km về hướng Đông; có chiều dài 2 km, bình quân chiều
rộng có 900m; diện tích tự nhiên có 333,2 ha, trong đó diện tích đất thổ cư: 57,16
ha, diện tích đất nông nghiệp 15,7 ha, đất Lâm nghiệp có 27 ha, đất nuôi trồng thủy
sản có 11,34 ha, diện tích mặt nước có 129 ha, đất mồ mã bạch sa có 93 ha.
16
Xã Phú Hải có vị trí:
- Phía Đông giáp: Biển Đông.
- Phía Tây giáp: Phá Tam Giang.
- Phía Nam giáp: Xã Phú Diên.
- Phía Bắc giáp ; Xã Phú Thuận.
Xã có tuyến Quốc lộ 49B đi ngang qua là điều kiện thuận lợi trong việc lưu
thông và trao đổi hàng hóa giữa địa phương với các vùng lân cận. Bên cạnh đó, xã

mùa lụt chính ở Thừa Thiên Huế.
+ Mùa khô nóng ẩm, từ tháng 2 đến tháng 8 chiếm 22% lượng mưa cả năm, ít
mưa nhất là tháng 4, 5.
17
+ Nắng trung bình có từ 1800 - 2000 giờ nắng/năm cao nhất tháng 5 - 7.
- Độ ẩm trung bình: 80%
- Gió: Chịu ảnh hưởng của 02 loại gió chính
+ Gió mùa Đông Bắc: Từ tháng 9 đến tháng 2 năm sau. Trong thời gian từ
tháng 9 đến tháng 11 thường xuất hiện những cơn bão kèm theo mưa lớn gây lũ lụt.
+ Gió Tây Nam xuất hiện từ tháng 3 đến tháng 8 hàng năm.
- Thuỷ văn:
Xã Phú Hải là một xã đồng bằng ven biển và đầm phá của khu vực miền
Trung, nằm trong hệ thủy văn của đầm phá Tam Giang - Cầu Hai với đặc điểm Hệ
đầm phá Tam Giang - Cầu Hai có chiều dài 68 km, tổng diện tích mặt nước 216 km
2
và do ba đầm, phá hợp thành: Phá Tam Giang, đầm Thủy Tú và đầm Cầu Hai.
- Tài nguyên
Tài nguyên đất:
Trong số 333,23ha diện tích tự nhiên có những loại đất chính sau:
+ Đất trồng lúa: Diện tích 16,23 ha chiếm 4,87% diện tích đất tự nhiên. Được
bồi đắp một lượng đất phù sa khá lớn từ thượng nguồn sông Hương đổ về vào mùa
lũ lụt, là loại đất được hình thành do phong hóa đá mẹ khác nhau, được nhân dân
địa phương cải tạo để sản xuất nông nghiệp. Loại đất này được phân bố chủ yếu ở
Thôn Cự Lại Trung và Cự Lại Bắc.
+ Đất trồng cây hằng năm khác: Diện tích 6,27 ha, chiếm 1,88 % diện tích đất
tự nhiên. Phân bố tập trung và hình thành các dải đất hẹp tập trung ở khu dân cư.
Loại đất này đang được khai thác một cách khá triệt để vào sản xuất nông nghiệp
như trồng cây rau màu, đậu đỗ
+ Đất trồng cây lâu năm: Không có.
+ Đất nuôi trồng thuỷ sản: Diện tích 20,68 ha chiếm 6,21% diện tích đất tự nhiên.

2
cao trên 90% và các mỏ khoáng sản
Titan trữ lượng lớn, phân bố dọc biển.
- Tài nguyên nhân văn:
Toàn xã Phú Hải hiện có 1.724 hộ, tương ứng 8.129 nhân khẩu. Số lượng
trong độ tuổi lao động chiếm tỷ lệ trung bình, khoảng 50%, trình độ văn hóa 12/12
khoảng 40%. Tuy nhiên đây là một xã tập trung vào đánh bắt xa bờ và chưa phát
triển ngành nghề, dịch vụ nên số lao động trong độ tuổi đa số là lao động già, số lao
động trẻ còn lại rất ít, đa phần đi làm ăn xa như vào TP. HCM và các khu đô thị lớn
trong và ngoài tỉnh.
♦ Nguồn gốc dân cư:
Làng Cự Lại, xã Phú Hải (tục còn gọi là “Làng Trài”) do Ngài bổn Thổ Tiền
khai canh Phan Qúy Công, cùng các vị Tiền bối khai canh, khai khẩn đã lập nên
19
cách đây khoảng 463 năm và các vị Thủy tổ các họ (tục còn gọi là phụ tộc, phụ
phái) cùng nhau xây dựng qua nhiều thế hệ cho đến nay.
2.1.4 Đặc điểm địa lý, nguồn gốc dân cư làng nghề rượu gạo làng Chuồn
♦ Đặc điểm địa lý:
“Đầm phá Tam Giang” - hệ thống đầm phá rộng nhất Đông Nam Á - là nguồn
sinh sống của bao lớp người dân Việt. Ven theo bờ phá Tam Giang có những ngôi
làng được hình thành cách đây 500-600 năm và cho đến nay vẫn còn giữ được
những nét cổ kính cũng như một đời sống văn hóa tinh thần mang đậm chất làng
quê Việt. Làng Chuồn (là cách nói tiếng Nôm của Làng An Truyền ngày nay, thuộc
xã Phú An- huyện Phú Vang – tỉnh Thừa Thiên Huế) là một ngôi làng cổ như thế.
Làng Chuồn là 1 làng quê bên chân sóng nằm khuất nẻo bên ao đầm ruộng lúa
cách TP Huế gần 10 km về hướng Đông Bắc.
Phú An là một trong 21 xã và thị trấn của huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên
Huế, xã nằm bên phá Tam Giang một trong những đầm phá lớn nhất Đông Nam Á
với diện tích khoảng 22.000 hecta, trải dài từ huyện Phong Điền đến huyện Phú Lộc
với khoảng 70km (sở thủy sản tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2009). Tổng diện tích tự

không khí sản xuất ở đây nhộn nhịp tấp nập hẳn lên, mọi người, mọi nhà hăng hái
sản xuất mong kiếm thêm phần thu nhập phục vụ cuộc sống. Bên cạnh cùng với
Hoa giấy Thanh Tiên và tranh làng Sình, rượu gạo làng Chuồn và nước mắm làng
Trài là những sản phẩm truyền thống nó gắn liền từ xưa tạo nên đời sống tâm linh
luôn gắn liền với người dân bởi việc sản xuất, chế biến sản phẩm dựa vào tiềm lực
sông, biển mà thiên nhiên ban tặng. Các thành viên trong làng ai cũng có việc để
làm tùy theo khả năng của từng người và tùy vào công đoạn dễ hay khó của sản
phẩm. Sản phẩm Hoa giấy Thanh Tiên và tranh làng Sình điều được sản xuất cao
điểm vào những ngày cuối năm và chúng chỉ thật sự ý nghĩa trong những ngày tết
cổ truyền của dân tộc. Chủ nhân của chúng không phải là những nghệ nhân chuyên
nghiệp mà họ là những người nông dân bình dị, chân chất ở chốn làng quê vốn
thanh bình, yên ả nhưng sự đóng góp cho đời của họ quả thật đáng để cho chúng ta
trân trọng, nể phục.
2.3. Tiềm năng du lịch các làng nghề thủ công truyền thống
2.3.1. Tình hình phát triển du lịch
Trong những năm vừa qua, Đảng ủy huyện Phú Vang cùng với nhân dân huyện
Phú Vang đang ra sức nổ lực xây dựng và thực hiện các chính sách, kế hoạch của
tỉnh Thiên Huế nhằm đưa du lịch trở thành nền kinh tế mũi nhọn.
Với tiềm năng về tài nguyên tự nhiên và tài nguyên nhân văn phong phú, dồi
dào. Ủy ban nhân dân huyện Phú Vang đang tập trung khai thác, thúc đẩy nền kinh
21
tế của huyện chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước, tăng
tỉ trọng dịch vụ và công nghiệp giảm nông nghiệp.
+ Tài nguyên tự nhiên: Với nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng về biển, đầm
phá, suối nước khoáng, …
+ Tài nguyên nhân văn: các di tích lịch sử văn hóa, lễ hội, ẩm thực, làng
nghề Các tài nguyên đó đã tạo cho huyện có tiềm năng to lớn để trở thành trung
tâm du lịch của tỉnh.
Năm 2013, tuy gặp nhiều khó khăn do kinh tế bị lạm phát và những yếu tố về
ngoại cảnh như khí hậu, thời tiết, đặc biệt việc sân bay Phú Bài phải đóng cửa nghỉ

thiếu liên kết, hợp tác trong sản xuất, tiêu thụ sản phẩm. Sự phối hợp giữa các
ngành công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp, xuất nhập khẩu, du lịch, thương mại,
dịch vụ, các thương nhân, nghệ nhân với các cơ sở sản xuất còn hạn chế. Trình độ
của các chủ cơ sở sản xuất chưa đáp ứng yêu cầu, chủ yếu dựa vào kinh nghiệm.
Các cơ sở chưa mạnh dạn bỏ vốn, vay vốn mở rộng sản xuất, phần lớn là các cơ sở
nhỏ, nguồn vốn ít, lao động phổ thông.
Do vậy, để khai thác tối đa tiềm năng du lịch của huyện, thì Ủy ban nhân dân
huyện cùng với nhân dân phải nổ lực hơn nữa để xây dựng các hoạt động du lịch
đặc trưng, và có các biện pháp tích cực để khắc phục những khó khăn hiện tại mà
huyện đang mắc phải.
Huyện Phú Vang có đường bờ biển dài gần 40 km. Dọc theo dải ven biển là
các bãi tắm đẹp, và những làng quê yên ả với nhiều thắng cảnh đẹp cùng với nền
văn hóa giàu bản sắc. Cuộc sống gắn liền với biển đã tạo cho vùng này những nét
đặc sắc riêng không thể lẫn lộn. Huyện Phú Vang là một bộ phận để cấu thành nên
văn hóa Huế nói riêng và văn hóa lớn của miền Trung nói chung, nơi đây đã chứng
kiến biết bao biến cố đổi thay của lịch sử dân tộc. Cho đến nay, nhiều làng xã miền
biển vẫn lưu giữ được nhiều di tích lịch sử, giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể.
Ngoài các tài nguyên tự nhiên và tài nguyên nhân văn, trên địa bàn Phú Vang ở
các xã vùng biển còn có các tài nguyên du lịch khác như Thành Phố Lăng ở An
Bằng, chợ chiều Vinh Thanh, rượu gạo Vinh Thanh, sản phẩm của các làng nghề…
Tuy chưa được xếp hạng là di tích lịch sử văn hóa hay các làng nghề truyền thống
nhưng những địa điểm này đã được du khách biết đến rất nhiều và khá nổi tiếng.
2.3.2. Hệ thống các làng nghề truyền thống tiêu biểu
Theo Sở Công Thương Thừa Thiên-Huế, toàn tỉnh hiện có 88 làng nghề
truyền thống, với đông đảo đội ngũ thợ thủ công lành nghề, tài hoa. Nhiều nghề
trong số đó đi liền với việc xây dựng các công trình di tích Huế như nghề mộc,
chạm khắc gỗ, đúc đồng, gốm sứ, luyện sắt, rèn Nếu biết kết hợp khai thác
23
tiềm năng du lịch làng nghề, đây cũng là thế mạnh thu hút khách du lịch hiện nay
của Thừa Thiên-Huế.

hiện của lòng biết ơn, của sự tôn vinh. Đây là vốn truyền thống đạo lý của người
24
dân Việt Nam, truyền thống “uống nước nhớ nguồn”. Đó là đặc điểm của các nghề
thủ công truyền thống hiện nay. Nhưng nghề làm hoa giấy ở Thanh Tiên lại không
có được niềm hạnh phúc ấy, họ không có cơ hội để tổ chức lễ hội bày tỏ lòng thành
kính của mình với người đã có công đem lại cho họ một nghề mà sản phẩm của nó
đem lại nguồn thu nhập đáng kể cho người dân.
Như vậy, trong số các ngành nghề thủ công ra đời sớm, hoa giấy Thanh Tiên
cũng đã có mặt để đáp ứng cho đời sống tinh thần. Tuy nhiên, có nhiều nguyên
nhân và khía cạnh ra đời thì nghề làm hoa giấy ở làng Thanh Tiên lại mang những
đặc điểm riêng biệt.
Trước hết, sự ra đời của làng hoa và sản phẩm của nó nhằm phục vụ những
nhu cầu tín ngưỡng dân gian của người dân. Những nhu cầu này vốn có từ rất lâu
đời trên đất Thừa Thiên Huế. Bởi vì trong quá trình di cư vào Nam thì những tín
ngưỡng dân gian mà người dân phía Bắc mang theo “luôn tâm khảm như một thứ
hành trang vụ hình mà bền chặt trong cuộc sống”. Thêm vào đó tàn dư tín ngưỡng
của các cư dân Chăm, cư dân Inđônêxia và sự giao hòa với tín ngưỡng của người
Hoa trên nền chi phối của các tôn giáo truyền thống: Phật, Lão, Nho Tất cả đã tạo
nên một tập tục tín ngưỡng bền chặt và tồn tại hết sức lâu dài trên mảnh đất này.
Chính những điều đó đã làm nảy sinh một sản phẩm thủ công bằng giấy để phục vụ
cho tín ngưỡng dân gian của người dân như hoa giấy Thanh Tiên.
Đối với người dân Việt Nam nói chung và người dân Thừa Thiên Huế nói
riêng thì hoa luôn là yếu tố trang trí không thể thiếu trong các ngày lễ, cúng, tế, kị
giỗ, đám cưới kể cả đám ma. Nó đã trở thành một yếu tố tạo niềm vui trong các lễ
hội cũng như thể hiện tính thiêng liêng trong đời sống tâm linh của con người.
Cũng mang tính chất linh thiêng phục vụ cho thờ cúng, thế nhưng hoa giấy
Thanh Tiên có thể thấy là sự thay thế độc đáo nhất nơi thờ không có khả năng thay
hoa tươi thường xuyên.
Sản phẩm hoa giấy thường trang trí ở những nơi thờ tự trong nhà chẳng hạn
như các miếu, am, trang bà, bàn thờ ông địa, táo quân thần bếp Chính sự phong


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status