MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ngày nay, khi đời sống vật chất của con người ngày càng được nâng cao
thì nhu cầu thoả mãn đời sống tinh thần của con người cũng trở nên quan trọng.
Vì vậy, du lịch trở thành một ngành kinh tế quan trọng của nhiều quốc gia trên
thế giới và theo nhận định thì ngành du lịch hiện nay chỉ đứng sau ngành công
nghiệp ô tô, công nghiệp dầu khí.
Những năm gần đây, hoạt động du lịch trên thế giới đang có sự thay đổi
khi số lượng khách du lịch ngày càng quan tâm nhiều hơn tới các loại hình du
lịch bền vững như: du lịch sinh thái, du lịch văn hoá .Trong đó du lịch văn hoá
được quan tâm nhiều nhất. Du khách muốn khám phá, tìm hiểu những giá trị
truyền thống của dân tộc mình cũng như của các dân tộc trên thế giới.
Việt Nam là một nước có ngành du lịch đang phát triển nhưng là nước có
nguồn tài nguyên du lịch hết sức phong phú. Ngoài những thế mạnh về cảnh
quan tự nhiên, những nét văn hoá truyền thống đặc sắc của dân tộc thì làng
nghề truyền thống cũng là một trong những thế mạnh cho Việt Nam phát triển
du lịch. Đến với làng nghề, du khách được chứng kiến tận mắt những công
đoạn tạo ra một sản phẩm thủ công mỹ nghệ qua bàn tay khéo léo của người
nghệ nhân dân gian để họ hiểu hơn về quá trình tạo ra sản phẩm, để được nghe
kể về lịch sử làng nghề, để từ đó trân trọng hơn những giá trị truyền thống của
dân tộc, góp phần trong việc giữ gìn và phát huy những giá trị đó.
Các làng nghề truyền thống với các sản phẩm độc đáo thiết thực luôn đem
lại lợi ích kinh tế cho người lao động. Sản phẩm làng nghề không chỉ phục vụ
đắc lực cho cuộc sống sinh hoạt hàng ngày của người dân mà giờ đây chúng đã
trở thành những sản phẩm có giá trị xuất khẩu, mang lại thu nhập cao hơn cho
người lao động, mang lại nguồn thu ngoại tệ cho đất nước. Hiện nay, công việc
khôi phục và bảo vệ các làng nghề là rất quan trọng. Đó không phải là công
1
việc riêng của từng cá nhân của từng làng nghề mà là công việc chung của các
cấp, các ngành có liên quan vì thực trạng làng nghề Việt Nam nói chung đang
gặp nhiều khó khăn, cần có sự quan tâm giúp đỡ để giữ gìn, phát huy một nét
năm gần đây, sở Văn Hoá - Thể Thao - Du Lịch Huế và phòng Văn Hóa Thông
Tin huyện Phú Vang đă quan tâm tới sự phát triển của các làng nghề, phục vụ
cho hoạt động du lịch của tỉnh: nghiên cứu, xây dựng các tour, các tuyến du
lịch đưa du khách về với làng nghề. Đây là bước mở đầu có ý nghĩa đối với các
làng nghề thủ công truyền thống ở huyện Phú Vang.
Với hy vọng các làng nghề truyền thống không bị mai một và phát triển,
vừa là ngành kinh tế quan trọng của dân địa phương, vừa là sản phẩm du lịch
độc đáo của ngành du lịch Huế em đã chọn đề tài báo cáo tôt nghiệp của mình
là “du lịch các làng nghề thủ công truyền thống ở huyện Phú Vang- Thừa Thiên
Huế".Với đề tài này em hy vọng các làng nghề truyền thống ở Phú vang sẽ
được mọi người sẽ biết đến nhiều hơn nữa, các cấp chính quyền có sự quan tâm
hơn nữa để các làng nghề phát triển hơn nữa hòa nhịp với tốc độ phát triển
chung của du lịch Huế.
2.Lịch sử nghiên cứu vấn đề:
Các làng nghề thủ công truyền thống từ lúc thành lập qua quá trình tồn tại
và phát triển với những tiến triển mới,những sự thay đổi thích nghi của các làng
nghể để tạo ra những mặt hàng thủ công truyền thống góp phần phát triển hoạt
động du lịch ở Phú Vang-Thừa Thiên Huế.
Những định hướng và giải pháp để bảo tồn và phát triển các làng nghề thủ
công truyền thống trong hoạt động du lịch Huế nói chung và Phú Vang nói
riêng.
3.Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
+Đối tượng nghiên cứu: du lịch các làng nghề thủ công truyền thống ở
huyện Phú Vang-Thừa Thiên Huế.
+Phạm vi nghiên cứu: các làng nghề thủ công truyền thống trên địa
bànhuyện Phú Vang,tỉnh Thừa Thiên Huế.
3
4.Phương pháp nghiên cứu:
Trong quá trình làm báo cáo, các phương pháp nghiên cứu đã được sử
dụng:
lớn, đất đai bị chia cắt mạnh bởi hệ thống sông ngòi, doi cát.
Đất đai thổ nhưỡng Phú Vang đa dạng, mặt nước chưa sử dụng còn
nhiều.
Với chiều dài 45km bờ biển và Cảng biển Thuận An; 8,626ha diện tích
mặt nước đầm phá nước sẽ rất thuận lợi cho việc phát triển tiềm năng du lịch
sinh thái biển và đầm phá trên địa bàn toàn Huyện.
b.Đặc điểm khí hậu và thời tiết:
Phú Vang nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa nóng ẩm của vùng ven biển, có
hai mùa mưa nắng rõ rệt. Mùa mưa từ tháng 8 năm trước đến tháng giêng năm
sau; Lượng mưa hàng năm khá lớn, trung bình khoảng 3000mm. Mưa phân bố
không đồng đều trong năm, tập trung chủ yếu vào các tháng 9, 10, 11 và 12
chiếm 75-80% lượng mưa cả năm gây úng lụt.
Mùa nắng gió Tây Nam khô nóng oi bức, bắt đầu từ tháng 3 đến tháng 8,
lượng bốc hơi cao nhất từ tháng 2 đến tháng 4( đúng lúc nước thủy triều thấp).
5
Nhiệt độ không khí trung bình năm tương đối cao, dao động từ 24,9
o
C
đến 26,4
o
C, ít thay đổi theo mùa. Thủy triều có hai chế độ, từ bán nhật triều đều
đến bán nhật triều không đều, biên độ thủy triều dưới 0,5m-2m. Tại Thuận An
có độ cao thủy Triều trung bình khoảng 0,4m-0,5m. Vùng Bắc và Nam Thuận
An có độ cao thủy triều trung bình 0,6m-1,2m. Độ cao thủy triều trong các
đầm, phá vũng, vịnh thường nhỏ hơn các vùng biển.
Là huyện ven biển, đầm phá nên Phú Vang còn có đặc thù của hệ sinh
thái ven bờ, hàng năm có mưa to, gió bão nên cần chú ý khai thác Du lịch ở
mùa nắng khô.
c.Đặc điểm thủy văn:
Trong phạm vi huyện Phú Vang, hệ thống sông ngòi trải dài và ôm kín
Phú Vang là mảnh đất còn hoang sơ: các bãi biển và đầm phá còn nhiều
tiềm năng chưa được khai thác, đây là một hạn chế, song dưới góc độ môi
trường du lịch thì đây lại là một lợi thế vì tất cả tài nguyên thiên nhiên còn ở
dạng nguyên sơ. Tài nguyên thiên nhiên của Phú Vang tuy không đặc sắc
nhưng khá dầy đặc và nói chung tương đối dễ tiếp cận, dễ khai thác cho tuyến
du lịch Huế và vùng phụ cận.
1.1.2.Điều kiện nhân văn:
Để đánh giá nguồn tài nguyên du lịch nhân văn của Phú Vang, cần xem
xét một số vấn đề sau:
a.Dân số và nguồn nhân lực:
Dân số trung bình toàn huyện năm 2006 là 186.000 người ( chiếm
khoảng 16,6% dân số toàn tỉnh ). Tỷ lệ tăng dân số bình quân là 1,3%. Dân số
thành thị chiếm tỷ lệ thấp, khoảng 11,2% dân số toàn huyện. Mật độ dân số
trung bình là 650 người/km
2
, nhưng phân bố không đồng đều giữa các xã, dân
cư tập trung đông nhất là ở thị trấn Thuận An, Xã Phú Thượng, Phú Mỹ, Phú
Diên, Phú Đa; thấp nhất là ở Vinh Phú, Vinh Thái, Phú Lương, Phú Hồ và Phú
Thanh.
Năm 2006, nguồn lao động của huyện có khoảng người chiếm
7
khoảng % dân số. Trong đó lao động chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực nông,
lâm nghiệp chiếm khoảng %, dịch vụ chiếm khoảng % còn lại là hoạt
động trong lĩnh vực công nghiệp và xây dựng.
Nhìn chung, huyện có nguồn nhân lực dồi dào, tuy nhiên trình độ chuyên
môn kỹ thuật, tay nghề cao còn hạn chế. Trình độ dân trí còn thấp, số lượng lao
động được đào tạo ngành nghề chính qui còn it. Nhưng hạn chế trên đã gây ảnh
hưởng không nhỏ đến sự phát triển của toàn huyện trong đó có phát triển du
lịch.
hàng hóa, số hộ thuần nông giảm từ 63,8% ( năm 2000 ) xuống còn 59,1%
( năm 2005 ); Hộ Thương nghiệp – Dịch vụ tăng từ 8,95% lên 15,1%.
Đã tập trung đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, ưu tiên đầu tư cho giao thông, thủy
lợi, điện, nước sinh hoạt, trường học, bệnh viện quá trình đô thị hóa diễn ra
nhanh ở Phú Thượng, thị trấn Thuận An, Phú Đa đáp ứng ngay càng tốt hơn
nhu cầu phục vụ sản xuất và đời sống cho nhân dân.
1.1.3.Các nguồn tài nguyên du lịch
* Tài nguyên du lịch tự nhiên
- Khu nước khoáng chữa bệnh Mỹ An:
Mạch suối khoáng Mỹ An nằm cách thành phố Huế 6km về phía Đông, tại
Làng Mỹ An, thuộc xã Phú Tân, huyện Phú Vang. Suối nằm ngay cạnh đường
Quốc lộ, trong một vùng đất khá bằng phẳng và rộng. Đặc điểm địa chất của
khu vực và tính chất lý hóa của nước khoáng ở đây có công dụng chữa các
bệnh về khớp, cột sống, viêm dây thần kinh, Nước khoáng Mỹ An được xác
định đạt tiêu chuẩn quy định quốc tế về chữa bệnh.
Con suối này đã có từ rất lâu, hiện nay đang được Công ty Du lịch Hương
Giang khai thác cho người dân để tắm và chữa bệnh rất hiệu quả.
- Bãi biển Thuận An thuộc thị trấn Thuận An là nơi nghỉ mát lý tưởng cho
các du khách trong và ngoài nước. Ngoài ra, còn có các bãi tắm thuộc xã Phú
Thuận và Phú Diên đã và đang được khai thác có hiệu quả.
Bãi tắm Thuận An nằm cách thành phố Huế 13km. Đây là một nơi tắm
9
biển thú vị cho mọi du khách sau một ngà tham quan lăng tẩm, chùa chiền,
phong cảnh ở Huế. Từ trung tâm thành phố Huế khách chỉ mất 15 phút là đến
được bãi tắm Thuận An. Mùa hoạt động của bãi tắm từ tháng 4 đến tháng 8.
* Tài nguyên du lịch nhân văn:
- Khu Đình Làng Dương Nỗ: Khu này thuộc Làng Dương Nổ, Xã Phú
Dương, huyện Phú Vang.
Trong hệ thống di tích Đình Làng Dương Nổ có cụm di tích lưu niệm Chủ
tịch Hồ Chí Minh ở Làng Dương Nổ, cụm di tích bao gồm Nhà lưu niệm.
Khái niệm du lịch:Từ xa xưa trong lịch sử nhân loại du lịch đã được ghi
nhận là một sở thích, một hoạt động tích cực nghỉ ngơi của con người. Ngày
nay trên phạm vi toàn thế giới du lịch trở thành một nhu cầu không thể thiếu
được trong đời sống văn hóa – xã hội của nhiều nước, hoạt động du lịch đang
phát triển mạnh mẽ và trở thành một trong những ngành kinh tế quan trọng ở
nhiều nước trên thế giới.
Ngày nay thuật ngữ "Du Lịch " đã trở nên rất thông dụng, nó được bắt
nguồn từ tiếng Hy Lạp , có nghĩa là đi một vòng, trong tiếng việt thuật ngữ này
được dịch thông qua tiếng Hán: "Du "có nghĩa là đi chơi," Lịch": có nghĩa là
từng trải. Tuy nhiên người Trung Quốc gọi du lịch là du lãm với nghĩa là đi
chơi để nâng cao nhận thức.Du lịch là một hoạt động kinh tế mang tính xã hội
cao thu hút hàng tỷ người trên thế gới, bản chất kinh tế của du lịch là ở chỗ sản
xuất và cung cấp hàng hóa, dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu vật chất tinh thần
cho khách. Bên cạnh đó du lịch còn góp phần vào việc chuyển đổi cơ cấu các
nghành kinh tế như: giao thông, công nghiệp, nông nghiệp, xây dựng… theo
hướng tăng tỷ trọng của khối dịch vụ trong nền kinh tế quốc dân. Hoạt động du
lịch thường gắn liền với đi chơi, giải trí nhằm phục hồi nâng cao sức khỏe và
khả năng lao động của con người, nhưng các chuyến đi du lịch không chỉ dừng
lại ở việc nghỉ ngơi, giải trí mà còn thỏa mãn rất lớn nhu cầu về tinh thần. Bởi
mỗi vùng, mỗi quốc gia lại cho những đăc trưng riêng về tự nhiên, lịch sử, văn
hóa truyền thống, nhưng trước hết hoạt động du lịch liên quan mật thiết đến
11
việc di chuyển chỗ tạm thời của khách du lịch. Trong lịch sử xã hội loài người
có rất nhiều hoạt động, nhiều chuyến đi mà người ta còn gọi là các hoạt động
sơ khai như các cuộc hành hương tôn giáo,các cuộc thám
hiểmChritopher,Colombo,Termand Majillan…. Cho đến nay có rất nhiều định
nghĩa khác nhau về du lịch, do hoàn cảnh ( thời gian, khu vực) dưới góc độ
nghiên cứu khác nhau, mỗi người lại có cách hiểu khác nhau về du lịch.
Năm 1963, tại hội nghị Liên Hiệp Quốc về du lịch ở RoMa các chuyên gia
đã đưa ra định nghĩa về du lịch:" Du lịch là tổng hợp các mối liên hệ hiện tượng
động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng
nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch,
điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch."
* Tài nguyên du lịch nhân văn Theo luật du lịch Việt Nam, tại điều 13 đưa
ra: “ Tài nguyên du lịch nhân văn bao gồm truyền thống, các yếu tố văn hóa,
văn nghệ dân gian, di tích lịch sử cách mạng, các công trình lao động nghệ
thuật sáng tạo của con người và các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể khác có
thể sử dụng phục vụ cho mục đích du lịch”. Tài nguyên du lịch nhân văn bao
gồm di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể. Theo Luật di sản văn
hóa Việt Nam có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2002 tại điều 4 giải thích từ
ngữ: Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa,
khoa học, bao gồm di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật cổ vật,
bảo vật quốc gia. Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch
sử, văn hóa khoa học được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằng
truyền miệng, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác, bao gồm
tiếng nói, chưc viết, các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, ngữ văn
truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết về nghề
thủ công truyền thống, tri thức về y, dược học cổ truyền, về trang phục truyền
thống dân tộc và những tri thức dân gian khác. Di tích lịch sử văn hóa là công
trình xây dựng, địa điểm có giá trị lịch sử,văn hóa khoa học.
* Tài nguyên du lịch tự nhiên: Theo Luật Du Lịch Việt Nam: “Tài nguyên
13
du lịch tự nhiên là hiện tượng trong môi trường tự nhiên được phục vụ cho mục
đích du lịch”. Tài nguyên du lịch tự nhiên bao gồm: Các thành phần tự nhiên:
địa hình, khí hậu, thủy văn, sinh vật… Các cảnh quan tự nhiên. Các di sản thiên
nhiên thế giới
1.2.4. Khái niệm về làng nghề truyền thống
Theo tiến sỹ Phạm Côn Sơn trong cuốn“ Làng nghề truyền thống
ViệtNam” làng nghề được định nghĩa như sau" Làng là một đơn vị hành chính
cổ xưa mà cũng có nghĩa là một đơn vị quần cư đông người, sinh hoạt có tổ
Vang - Thừa Thiên Huế.
15
CHƯƠNG 2: MỘT SỐ LÀNG NGHỀ THỦ CÔNG TRUYỀN THỐNG Ở
HUYỆN PHÚ VANG - ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG DU LỊCH
2.1.Vai trò của làng nghề đối với hoạt động du lịch Phú Vang
Giữa hoạt động du lịch và làng nghề có mối quan hệ chặt chẽ hữu cơ tác
động qua lại lẫn nhau. Phát triển du lịch tại các làng nghề truyền thống là một
giải pháp hữu hiệu để phát triển kinh tế xã hội làng nghề truyền thống nói
chung theo hướng tích cực và bền vững.Ngược lại làng nghề truyền thống cũng
là trung tâm thu hút khách du lịch và có tác động mạnh mẽ trở lại khách du lịch
trong mục tiêu phát triển chung. Làng nghề truyền thống là một không gian văn
hóa – kinh tế - xã hội lâu đời, nó bảo lưu tinh hoa văn hóa từ đời này sang đời
khác đúc kết bởi nghệ nhân tài hoa.Môi trường văn hóa làng quê với cây đa bến
nước sân đình, các hoạt động lễ hội và phường hội, phong tục tập quán nếp
sống đậm nét văn hoá truyền thống.Tất cả những điều đó luôn luôn gắn kết với
sự hình thành và phát triển của làng nghề truyền thống. Và tạo ra nét văn hóa
rất riêng của mỗi làng nghề truyền thống. Phong cảnh làng nghề cùng với
những giá trị chứa đựng bên trong làng nghề truyền thống sẽ là điểm du lịch lý
tưởng cho du khách, đặc biệt là khách quốc tế đến tham quan, tìm hiểu, mua
sắm tại các làng nghề. Làng nghề truyền thống còn là nơi sản xuất ra những
hàng thủ công mỹ nghệ có giá trị nghệ thuật cao, tiêu biểu độc đáo cho mỗi
vùng miền, địa phương. Vì vậy du khách đến với các điểm du lịch làng nghề
truyền thống còn mong muốn chiêm ngưỡng, mua sắm các sản phẩm thủ công
làm vật kỷ niệm trong chuyến đi của mình. Thực tế nhu cầu mua sắm của du
khách là rất lớn, làng nghề truyền thống sẽ đảm bảo đáp ứng đầy đủ nhu cầu
tinh tế và đa dạng của du khách.Với sự đa dạng các làng nghề đã góp phần
quan trọng trong việc giữ gìn các giá trị truyền thống văn hóa, đồng thời là cơ
sở để phát triển ngành du lịch vốn thừa hưởng những thế mạnh về văn
hóa.Vùng đất Phú Vang như nhiều miền quê khác trong cả nước, trải qua nhiều
16
2.2.Một số làng nghề tiêu biểu
2.2.1.Làng hoa giấy Thanh Tiên xã Phú Mậu
a.Nguồn gốc và quá trình phát triển
Theo Gia phả họ Trần (Phụng tu ngày 4-5 năm Tự Đức 33), ngài khai
canh của làng là Võ Đình Tiên, từ Sơn Tây phò chúa Nguyễn đến đóng đô ở
Phú Xuân, đã có công khai canh 83 mẫu ruộng tại làng. Vì vậy làng vốn có
truyền thống làm nghề nông, tuy nhiên, vào tháng chạp, Thanh Tiên lại rộn rã
với nghề làm hoa giấy. Nghề hoa giấy Thanh Tiên có danh mục thống kê của
các nghề thủ công từ thế kỷ XVI-XIX của Đại Nam nhất thống chí.
Làng Thanh Tiên thuộc tổng Mậu Tài, huyện Phú Vang, phủ Triệu Phong.
Nay thuộc xã Phú Mậu, Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế. Làng Thanh Tiên
nằm vào một vị trí khá đặc biệt bên bờ nam hạ lưu sông Hương, phía bắc giáp
thôn Mậu Tài, nam giáp Thế Vinh, đông giáp Vọng Trì, đông tây giáp sông
Hương.
Nghề hoa giấy của Phú Mậu đã có khá lâu, xuất phát từ thôn Thanh Tiên và
Tiên Nộn sau đó lan rộng ra các vùng lân cận, tuy nhiên trước đây người dân
chỉ dùng các loại giấy ca rô để nhuộm màu, khác với hiện nay còn dùng thêm
một số giấy màu thủ công khác. So với các loại hoa mà người ta dùng các
nguyên liệu khác giấy bóng, nhựa, thì nét đẹp của loại hoa này vẫn trội hơn,
đó là tính thủ công tạo cho loại hoa này mang vẻ đẹp tự nhiên.
Điểm thuận lợi khác của Phú Mậu là giáp ranh với thành phố Huế nên
sớm nhận được nhiều tác động tích cực về kinh tế, xã hội, khoa học - công
nghệ, tạo cơ hội phát triển nhanh và toàn diện hơn. Hiện nay, Phú Mậu đã
xây dựng được kết cấu hạ tầng khá hợp lý giúp cho việc giao thương trong nội
bộ xã và với bên ngoài dễ dàng hơn. Nhu cầu phát triển các ngành sản xuất của
Phú Mậu còn lớn, là điều kiện tốt để thu hút nguồn vốn của các nhà đầu tư.
Nhân dân Phú Mậu nói riêng và huyện Phú Vang nói chung vốn có truyền
thống yêu nước và cách mạng, cần cù, hiếu học, yêu quê hương đất nước, yêu
18
lao động, luôn biết vươn lên làm giàu, không cam chịu đói nghèo. Nếu được
Xét trên mặt kỹ thuật,tranh làng Sình có nhiều điểm tương đồng với tranh
Đông Hồ nhưng xét về mặt thời gian thì tranh làng Sình ra đời muộn
hơn.Khoảng thế kỉ XVI tranh làng Sình mới được du nhập vào trong quá trình
di cư vào đàng trong của những nghệ nhân Thanh Hóa,họ mang theo nghề
tranh để có thể kiếm cớ sinh nhai và từ một may mắn nào đó mà tranh làng
Sình được chọn làm nghề truyền nhân.
Đứng về mặt lịch sử,thế kỉ XVI là mốc thời gian đánh dấu sự đi vào ổn
định xã hội và bắt đầu phát triển kinh tế của xứ Thuận Hóa và hầu hết các làng
nghề thủ công truyền thống ra đời vào khoảng thời gian này.Tồn tại và phát
triển về mọi mặt,trở thành một trong những vệ tinh của khu thương cảng Thanh
Hà,cho đến nay ở vung đất Thuận Hóa,ngoài làng Sình chưa có một làng xã
nào từng làm nghề in tranh tín ngưỡng đã bị mất đi.Tranh làng Sình trong suốt
quá trình tồn tại và phát triển,trước và sau thời kì phong kiến không bị cạnh
tranh bởi một làng nghề nào tương tự.Đó cũng là một trong những điều kiện
khá thuận lợi cho tranh làng Sình phát triển mạnh và ngày càng mở rộng,mặt
khác do nhu cầu tín ngưỡng nhất là tầng lớp quan lại quý tộc phong kiến đã
thúc đẩy tranh làng Sình có những bước phát triển có thể nói là đạt đến đỉnh
cao.
Trải qua quá trình tồn tại và phát triển,nghề tranh làng Sình có nhiều tên
gọi khá nhau như: nghề giấy,nghề bồi,nghề hồ điệp,nghề tranh,nghề Sình Sự
phát triển của nghề tranh làng Sình còn được đánh dấu bởi sự trưởng thành lớn
mạnh của tầng lớp nghệ nhân trong làng từ bị động đã tự túc được nguyên liệu
giấy,màu và nhất là đã sáng tác được những mẫu tranh,khắc ván in theo ý
tưởng của mình.Trong làng sự phân hóa các lớp người trở nên tất yếu,hình
thành nên những bộ phận chuyên biệt trong hệ thống dây chuyền sản xuất tranh
như:chủ bồi,tự bồi và con bồi.
20
+Chủ bồi: là những người bỏ vốn ra thuê người khác in tranh
+Tự bồi: là người trực tiếp đứng ra sản xuất tranh.
+Con bồi: là những người làm thuê cho chủ bồi hoặc là bỏ sức ra đi khai
tăng thêm sự phong phú đa dạng trong các hình thức tín ngưỡng dân gian.
Tranh làng Sình với chức năng đặc trưng là tín ngưỡng.Sinh ra và lớn lên
trên một vùng đất khá đậm nét màu sắc tín ngưỡng dân gian,tranh làng Sình có
một nhiệm vụ hết sức thiết thực là đáp ứng nhu cầu của tập tục thờ cúng không
chỉ cư dân Thuận Hóa mà cả vùng Trung Trung Bộ.Tranh làng Sình mang đặc
trưng hoàn toàn của thể loại tranh cúng lễ,phục vụ tín ngưỡng,chuyên chở
những niềm kính cẩn,nỗi sợ hãi của người dâng cúng gửi về một cõi thiêng mơ
hồ,điều này được phản ánh trong việc hình tượng của tranh đều xoay quanh nội
dung cầu cúng và khi làm xong chức năng đó thì tranh được đốt đi.
Tranh làng Sình không nhiều nhưng mỗi bộ tranh đều mang một bố
cục,một giá trị riêng trong chức năng chung.Dựa vào chủ đề ta có thể phân chia
thành những loại sau:
- Chủ đề về người gồm có: tượng bà ( tượng chùa,tượng đế,tượng ngang),
con ảnh ( ảnh xiêm vẽ hình người đàn ông và đàn bà,ảnh phền vẽ hình bé trai
và bé gái và tờ bếp ).
- Chủ đề về đồ vật gồm có: khí dụng,cung tên,áo lông,áo bà,áo binh.
- Chủ đề về động vật gồm có: trâu,bò,lợn ngựa,voi,hổ
Cũng có thể phân loại tranh làng Sình thành những "bộ" gắn với từng chức
năng riêng như sau:
- Bộ tranh cầu an cho người gồm có "tờ bếp",bộ khí dụng.
- Bộ tranh cúng thế mạng gồm có "con ảnh" xiêm cho người lớn,"con ảnh"
phền cho trẻ con.
- Bộ tranh cúng lễ cầu cho "mẹ tròn con vuông" gồm: Trang Diêm
Vương,Mẫu Thoải,tam vị Phạm Tinh,ông Đốc,Đức ông và bộ phường bát âm
- Bộ tranh cúng thần bảo hộ trẻ con gồm có: "Tranh bà,tranh ông,tranh 12
con giáp.
22
- Bộ tranh cúng thế mạng cho những người đi rừng,đi biển: tranh cọp, áo
ông, áo bà
- Bộ tranh cúng giải hạn cho các vật nuôi: con ảnh trâu,lợn,gà bộ ngũ hổ
"Con ảnh thế mạng cho đàn ông
"Con ảnh" thế mạng của phụ nữ
"Con ảnh" thế mạng cho em trai
"Con ảnh" thế mạng của em gái.
Bộ "khí dụng" được bố cục làm hai phần: phần trên gồm có 2 ông điệu,2
chiếc thuyền,2 nhà kho,2 con voi,1 con ngựa; phần dưới gồm những đồ dùng
cần thiết cho người phụ nữ nhu gương,lược,trâm cài,hoa tai
+ Tranh Tượng Bà với tục cúng trừ giải bệnh tật,ốm đau và trong sinh đẻ.
Khi gia đình gặp nạn hay có ai ốm đau,bệnh tật,kể cả khi sinh đẻ khó
khăn, người ta thường khấn vái cầu cúng bà giúp đỡ,giải hạn. Trong tranh Sình
hình ảnh "Bà" cưỡi trên một con voi tư thế phục chứng tỏ uy lực của "Bà" đối
với bổn mạng,vì thế có tên gọi là "tượng voi,tượng chùa".
Nếu đàn bà thờ "Trang Bà" thì đàn ông thờ "Trang Ông".Thờ "Trang
Ông" có vai trò khá quan trọng cúng thần bảo hộ ngôi nhà thần Đất và thần
nghề nghiệp.
+ Tranh "Áo Bà", "Áo Ông", "Áo Binh" là những sản phẩm tranh Sình
được người đi biển dùng để cầu an cho mình trước đe dọa của biển cả,sóng cao
gió lớn và thường được đốt trong lễ cúng đất.Tranh "Ông Cọp","Áo Binh" cúng
"ông" để khi đi rừng không gặp nguy hiểm.Thực ra xét về bản chất đây cũng là
một hình thức thế mạng: cúng cho thần biển,thần rừng để được phù hộ tai qua
nạn khỏi.
+ Bộ tranh động vật và lễ giải hạn các vật nuôi
Quan niệm linh hồn không chỉ dừng lại ở con người mà nó còn có cả trong
vật nuôi.Con người muốn vật nuôi của mình tai qua nạn khỏi mau an chóng
lớn.Tranh thường được dùng trong lễ cúng đầu năm,ngoài "con Ảnh" cho vật
nuôi như tranh lợn,trâu,bò,gà,vịt,chó còn có thêm tiền giấy,áo binh cho ông bà
24
chuồng.
2.1.3.Làng nghề chằm nón lá Mỹ Lam xã Phú Mỹ
a.Nguồn gốc,xuất xứ và quá trình phát triển: