PHÒNG GIÁO D C VÀ ĐÀO T O HUY N TH CH ANỤ Ạ Ệ Ạ
TR NG PTCS TR NG CONƯỜ Ọ
CHUYÊN ĐỀ:
MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP MỞ RỘNG
VỐN TỪ TIẾNG VIỆT
Người viết & Báo cáo: Nông Hùng Cường
Tổ chuyên môn THCS trường
PTCS Trọng Con
A - PHẦN MỞ ĐẦU
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
“Văn học là nhân học” .Văn học có vai trò rất quan
trọng trong đời sống và trong sự phát triển tư duy
của con người
Là một môn học thuộc nhóm khoa học xã hội ,môn
văn có tầm quan trọng trong việc giáo dục quan
điểm ,tư tưởng ,tình cảm cho học sinh. Bên cạnh
đó còn thể hiện rõ mối quan hệ với các môn học
khác.Học tốt môn văn sẽ tác động tích cực tới các
môn học khác và ngược lại ,các môn học khác
cũng góp phần học tốt môn văn .Điều đó đặt ra
yêu cầu tăng cường tính thực hành ,giảm lí
thuyết ,gắn học với hành ,gắn kiến thức với thực
tiễn hết sức phong phú ,sinh động của cuộc sống .
Hiện nay, với xu thế phát triển và hội nhập, các
em học sinh có điều kiện để tiếp xúc với nhiều nền
văn hóa qua các phương tiện thông tin đại chúng.
Mạng Internet phát triển, việc truy cập dễ dàng,
đặc biệt là sự bùng nổ của các trang cá nhân như:
học sinh là công việc tưởng chừng như đơn
giản nhưng lại rất khó thực hiện. Bởi lẽ giáo
viên tiếp xúc với học sinh chủ yếu là ở trường
với một khoảng thời gian ngắn ngủi. Vì vậy,
trong chuyên đề này, tôi muốn đặt ra kế hoạch
nâng cao vốn từ vựng tiếng Việt ngay trong
mỗi tiết học mà giáo viên lên lớp, bám sát vào
chính những bài học cụ thể để từ đó giúp các
em có thêm vốn từ vựng có thể vận dụng hợp lí
vào các bài viết cũng như trong "lời ăn tiếng
nói" hàng ngày.
III. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng: với đề tài này có thể áp dụng cho tất
cả học sinh các lớp trong khối THCS
- Phạm vi nghiên cứu: Chương trình Ngữ văn
THCS cả năm học
IV. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu phương pháp nâng cao vốn từ vựng
tiếng Việt.
- Giáo án áp dụng các phương pháp nâng cao vốn
từ tiếng Việt.
- Khảo sát thực tiễn, đánh giá kết quả
V. Các phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp điều tra
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp thực nghiệm
NỘI DUNG
Giê vv ( Bài làm văn của học sinh)
Xem qua những tin nhắn hay những dòng chia sẻ
trên Facebook của các em, chúng ta sẽ cảm thấy
như mình đang đọc một ngôn ngữ không phải là
tiếng Việt
- Ví dụ: “Zeu ngey sen na tui choi, 3h ne, ko pit
dg thi pao pen den de”, tôi đã không thể dịch
nổi tin nhắn này.
Có một thực trạng học sinh đang cổ súy cho thứ
ngôn ngữ quái dị này và xem như đó là mốt.
Bên cạnh đó các em bị ảnh hưởng rất nhiều từ
các câu nói, các thành ngữ cải biên tuy nhiên
lại làm cho các em rất thích thú tạo thành một
phong cách nói phổ biến.
Ví dụ như: “Buồn như con chuồn chuồn, Chán như
con gián, Biển học là vô bờ quay đầu là
hiphop…”
Thậm chí còn có nhiều ấn phẩm trên mạng được
các em phổ biến và coi đó là những “kiệt tác”:
Những câu nói, thành ngữ cải biên như trên khiến
người đọc bật cười dưới góc độ giải trí hài hước.
Nhưng điều đáng nói ở đây là các em học sinh hồn
nhiên mang cả cách nói ấy vào bài văn và trong
các tình huống giao tiếp với mọi hoàn cảnh và mọi
đối tượng.
Sử dụng từ ngữ không đúng nghĩa, "lai căng hóa",
thậm chí cả những từ ngữ đầy tính bạo lực, vô
Để thực hiện có hiệu quả các phương pháp mở
rộng vốn từ tiếng Việt, trước hết, bản thân giáo
viên phải tự trao dồi cho mình vốn từ tiếng Việt
phong phú. Sự trau dồi đó không phải là " ngày
một, ngày hai" mà có được mà nó là cả một
quá trình lĩnh hội từ các văn hóa phẩm, các
phương tiện thông tin đại chúng hay từ những
giao tiếp đời thường.
* Tiết văn bản:
Các tác phẩm thơ, văn của các nhà văn, nhà thơ
không thể thiếu biện pháp nghệ thuật. Từ ngữ
góp phần quyết định tạo nên các biện pháp
nghệ thuật đó. Giáo viên cho các em nhận ra
những từ ngữ đặc biệt, cùng các em phân tích
nghĩa, tìm ra các từ đồng nghĩa, trái nghĩa,
cách sử dụng hợp lí trong các ngữ cảnh.
Ví dụ: "Sông ngòi, kênh rạch bủa giăng chằng chịt
như mạng nhện" ( văn bản : sông nước Cà Mau
- Đoàn Giỏi)
- Hệ thống câu hỏi phát hiện:
? Sông ngòi, kênh rạch Cà Mau được ví với hình
ảnh nào?
? Em hiểu " chi chít như mạng nhện" nghĩa là như
thế nào?
? Qua đó em thấy tác giả đã sử dụng biện pháp
nghệ thuật nào?
? Tìm thêm những câu gợi hình ảnh giống như "
chi chít như mạng nhện"?
thay thế.
Khuyến khích các em tìm hiểu nhiều hơn nữa các
phương tiện thông tin đại chúng,chú ý cách
dùng câu, từ. Mỗi học sinh cần có một quyển từ
điển tiếng Việt.
Ví dụ: " Sáng bố em đi làm sớm, về muộn"
- Hệ thống câu hỏi phát hiện:
? Thế nào thì được cho là sớm?
-> Lúc mặt trời lên
? Từ hay cụm từ nào có thể thể hiện được điều
đó?
-> Bình minh, ban mai
Vậy thế nào thì được cho là muộn?
-> Lúc mặt trời lặn
? Từ hay cụm từ nào có thể thể hiện được điều
đó?
-> Hoàng hôn
Sau đây là một số bài soạn cụ thể có sử dụng
phương pháp mở rộng và nâng cao vốn từ vựng
tiếng Việt. Vì phương pháp này cần được thực hiện
trong cả quá trình học của các em ở trường THCS
nên trong mỗi tiết dạy, giáo viên chỉ nên đưa vào
một số ít câu hỏi nhằm mở rộng và nâng cao vốn
từ tiếng Việt. Chủ yếu cho các em tìm ra thêm các
câu, từ đồng nghĩa:
Để tạo hứng thú cho các em, giáo viên nên đưa
thêm một số bài tập dưới dạng trò chơi.
có được những vốn từ căn bản để có thể ứng
dụng vào trong văn nói và văn viết. Giúp các
em nhận ra câu, từ hay, dở, biết cách sử dụng
nó, "tẩy chay" các câu, từ phản cảm, không
đúng mực. Bước đầu tạo cho các em có ý thức
giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt.
V. Bài học kinh nghiệm
1. Đối với giáo viên
- Thường xuyên tự trau dồi vốn từ vựng cho mình.
- Cho học sinh tự mở rộng vốn từ thông qua bài
học cụ thể.
- Cho học sinh thực hành nhiều hơn nữa để giáo
viên nhận ra cách viết của từng em từ đó có
hướng chỉnh sửa.
- Ngoài giờ học, có những cuộc nói chuyện thân
mật với các em khi để nhận ra cách sử dụng
câu, từ trong giao tiếp, chỉnh sửa kịp thời.
- Phương pháp này cần được sử dụng nhiều hơn
với học sinh lớp 6.
- Chú trọng đến câu, từ khi nói hoặc viết ở khi
giao tiếp với học sinh.
2. Đối với học sinh
- Cần trang bị cho mình cuốn từ điển tiếng Việt.
- Thường xuyên đọc sách, báo, nghe đài, xem
truyền hình tiếp thu cách sử dụng câu, từ
đúng nghĩa, phù hợp với hoàn cảnh.
- Nắm vững kiến thức trong sách giáo khoa, luôn
phát hiện, tìm tòi thêm các từ ngữ, câu văn