Phần1.
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Cây Dong riềng (Canna edulis Ker), cây thân thảo, họ Dong riềng
(Cannaceae) có nguồn gốc từ Nam mỹ thuộc nhóm cây trồng lấy củ, được
người Pháp giới thiệu và trồng ở nước ta vào đầu thế kỷ 19.
Trong những năm gần đây do sự phát triển của nền kinh tế thị trường,
sự phát triển của khoa học công nghệ về chế biến và do nhu cầu của thị
trường về tinh bột Dong riềng với mục đích sử dụng làm nguyên liệu chế
biến miến, bánh đa, bánh mì, bánh bao, kẹo [31] ngoài ra tinh bột còn
được dùng làm thức ăn rất tốt cho trẻ em và người ốm, thân lá làm thức ăn
chăn nuôi, để bao gói có thể thay thế bằng túi nilon khó phân hủy.
Trước kia do không thấy được giá trị của cây Dong riềng, do vậy
chúng chủ yếu được trồng trên đất cằn cỗi, đất tận dụng mà các cây khác
không phát triển được hoặc trên đất đồi núi. Nhưng ngày nay (vào khoảng từ
năm 1980) cây Dong riềng đã được chú ý phát triển như là cây hàng hóa, có
giá trị kinh tế, một số địa phương đã chuyển đổi Dong riềng là cây trồng
hàng hóa như Hưng Yên, Hà Nội, Hòa Bình, Sơn La, Quảng Ninh, Đồng
Nai hiện nay ở nước ta theo thống kê chưa đầy đủ diện tích trồng Dong
riềng vào khoảng 30-40 nghìn ha, năng suất đạt 50-60 tấn/ ha.
Những nghiên cứu về Dong riềng cho đến nay thực sự cũng chưa
được quan tâm đúng mức về phương diện chọn tạo giống cũng như nghiên
cứu về tình hình sâu bệnh hại và biện pháp phòng trừ chúng trên Dong riềng.
Nhưng ngày nay do sự phát triển của thị trường về tinh bột Dong riềng, nên
1
một số địa phương ở đồng bằng sông Hồng như tại Hưng Yên một số địa
phương đã tiến hành phát triển trồng chúng thay vì trồng lúa trước đây, với
diện tích lớn, thành vùng cung cấp tinh bột làm nguyên liệu cho ngành chế
biến thực phẩm.
Dong riềng là cây có thời gian sinh trưởng kéo dài từ 9 đến 12 tháng,
cho chi phí sản xuất tăng lên gây ô nhiễm môi sinh, ảnh hưởng đến sức khỏe
cộng đồng.
Để làm giảm chi phí bảo vệ thực vật trong tổng chi phí sản xuất, làm
giảm tính kháng thuốc của sâu hại, giảm sự tác hại đến quần thể thiên địch
và tránh tác hại đến môi trường. Vì vậy việc nghiên cứu cơ sở khoa học
nhằm xác định giải pháp hữu hiệu để khống chế tác hại của sâu hại, hạn chế
thấp nhất việc sử dụng thuốc hóa học, đảm bảo an toàn thực phẩm, giảm
độc hại cho người sản xuất và thuận lợi cho quá trình canh tác, đảm bảo
năng suất cây trồng, an toàn cho môi sinh là đòi hỏi cấp thiết của thực tế sản
xuất, duy trì bền vững môi trường sinh thái, đặc biệt với vùng đồng bằng
sông Hồng nơi tập trung dân cư có mật độ cao, rất dễ gây nên những tổn thất
cho cộng đồng khi lạm dụng thuốc hóa học, làm mất cân bằng sinh thái.
Từ thực tế trong các chương trình phòng trừ dịch hại tổng hợp trên lúa,
rau. Khi đã có được những hiểu biết cơ bản về sinh học, sinh thái học khu hệ
dịch hại trên đồng ruộng, đặc biệt đối với đối tượng chính. Với định hướng
đó chúng tôi tiến hành đề tài “Điều tra thành phần sâu hại, đặc điểm sinh
học, sinh thái học của Bọ nẹt (Eucleidae) hại Dong riềng (Canna edulis
Ker) tại Hưng Yên và vùng phụ cận.”
3
2. Mục đích yêu cầu.
2.1. Mục đích:
Xác định thành phần sâu hại trên Dong riềng (Canna edulis Ker), đặc
điểm sinh học, sinh thái học của Bọ nẹt, trên cơ sở đó đề xuất biện pháp
phòng trừ chúng.
2.2. Yêu cầu:
2.2.1. Xác định thành phần, mức độ phổ biến của sâu hại trên Dong riềng ở
Hưng yên và vùng phụ cận.
2.2.2 Nghiên cứu đặc điểm sinh học và ảnh hưởng của một số yếu tố sinh
thái quan trọng (nhiệt độ, ẩm độ, thức ăn ) đến quá trình phát triển của Bọ
nẹt hại Dong riềng.
chúng bắt đầu cuộn lá và có thể tìm thây 5-6 con /tổ, nhưng chỉ thấy 1-2 con
chung sống, sâu non đẫy sức đạt 23 mm dài và có màu trắng vàng, mình
trong và có màu xanh lá cây, đầu màu vàng, mảnh đầu giữa màu nâu vàng
và đầu hàm dưới màu nâu đen, khi ấu trùng kéo kén, kén màu óng ánh và
hóa nhộng ngay trong tổ và ở đó trong suốt thời gian nhộng, nhộng có kích
thước dài 11,5 mm, màu vàng sậm như Chocolate và phía đuôi nhộng có 8
sợi lông có tác dụng giúp nhộng bám vào lá cây. Thế hệ cuối cùng của sâu
cuốn lá nhỏ qua đông trong năm ở bên trong lá Dong riềng đã chết. Ngài
trưởng thành thường bắt gặp vào cuối tháng 2 đầu tháng 3 ở Florida. Thế hệ
đầu tiên của sâu cuốn lá nhỏ khoảng 35 ngày, trong thời gian mùa hè các thế
hệ kế tiếp nhau phát triển trên Dong riềng.
Sâu cuốn lá nhỏ và cuốn lá lớn gây hại trên tất cả các loại Dong riềng
sản xuất và Dong riềng cảnh. Phòng trừ bằng cách cắt tất cả các lá Dong
riềng đã chết vìu xuống đất vào mùa Đông trong năm đó là cách tốt nhất để
giảm quần thể của sâu cuốn lá nhỏ, cắt lá chết của Dong riềng vào mùa
Đông sẽ làm giảm mật độ sâu hại vào mùa xuân (chính là diệt nhộng qua
Đông ở lá khô), vào mùa hè với sự phát triển của sâu non thì kiểm soát bằng
thuốc hóa học bằng cách phun thuốc trên bề mặt lá, tuy nhiên cần thêm vào
thuốc chất bám dính, vì mặt lá Dong riềng có chất sáp không thấm nước.Có
thể dùng thuốc sinh học Bacillus thuringiensis (Bt), ít độc để phòng trừ đối
tượng này.
b. Bọ cánh cứng châu á (Asiatic garden beetle).
6
Bọ cánh cứng Châu á (Maladera castanea) là loài sâu hại khá quan
trọng, sâu non gây hại làm tổn hại ở bộ phận rễ, trưởng thành có tập tính bay
nhiều và hấp dẫn bởi ánh sáng đèn và trưởng thành có đặc tính ăn đêm. Bọ
cánh cứng loài này là loài đa thực, ăn trên nhiều loại cây như Dong riềng,
Đào, Đậu đỗ, Cúc tây, Dâu tây Ban ngày bọ cánh cứng thường ẩn mình
trong đất xung quanh gốc cây và rất hiếm khi nhìn thấy chúng, trưởng thành
dài ¾ inch và có lớp lông mịn màu nâu vàng óng ánh.
ngoài ra dùng thuốc bảo vệ thực vật KAOLIN dùng để phun phòngtrừ đối
tượng này, hoặc dùng bẫy Feromone để hấp dẫn trưởng thành sau đó bắt
chúng [7], một số cây mang tính chất xua đuổi Bọ cánh cánh cứng Nhật bản
như Bạc hà, Hành, Tỏi và cây họ cúc [19].
c. Rệp (Aphid).
Rệp là loại gây hại quan trọng khi trồng Dong riềng trong nhà kính,
trồng bằng củ hay hạt Rệp gây hại khi bắt đầu xuất hiện chồi non, giai đoạn
chồi non rất hấp dẫn với Rệp, điều này rất quan trọng để phòng trừ Rệp để
bảo vệ mắt chồi của Dong riềng, cũng trong giai đoạn này nếu không chú ý
phòng trừ rệp sẽ dẫn đến sự bùng nổ về số lượng chỉ trong vài ngày.
Phòng trừ rệp bằng cách phun thuốc trừ sâu, nhưng điều quan trọng
thường xuyên kiểm tra Rệp trên Dong riềng, nếu ít có thể dùng chổi lông
chải Rệp hoặc dùng Bọ rùa ăn thịt để trừ Rệp để tránh bùng nổ về số lượng
lớn [20]
d. Nhện đỏ (Red spider mite).
8
Nhện đỏ ( Tetranychus urticae) là loài gây hại quan trọng trong nhà
kính hoặc chủ yếu thấy trong thời gian nhiệt rất nóng, khô. Cơ thể nhện rất
nhỏ, rất khó phát hiện bằng mắt thường giống như những chấm đỏ hoặc
xanh trên lá và trên thân Dong riềng, trưởng thành có kích thước khoẩng
0,5 mm, Nhện đỏ có thể thấy ở trong nhà kính ở vùng nhiệt đới và ôn đới,
đặc điểm sống ở dưới mặt lá.
Nhện đỏ là loài ăn tạp có thể ăn trên hàng trăm loại cây chủ yếu trên
các loài rau và cây lương thực như ớt, cà chua, khoai tây, đậu đỗ, ngô, dâu
tây và trên hoa hồng.
Nhện đỏ đẻ trứng trên lá và kiểu gây hại là chích hút, làm cho lá nhỏ
lại, để lại trên lá các vết chấm đen gây nên vết thương làm chết biểu bì, có
thể nhìn thấy rất rõ vết thương rất nhỏ tương ứng với kích thước của nhện
đỏ, với mật độ cao gây hại làm ảnh hưởng đến quang hợp của Dong riềng,
làm giảm sản lượng của dinh dưỡng, có thể dẫn đến làm chết cây, nhện đỏ
Bộ phận sinh dục của con đực thường được bố trí ở phần dưới bụng
giống như một cái van kéo dài, bộ phận sinh dục ngoài thường bằng 1/3
ống dẫn tinh như loài Narosa, Cania Walker và những loài trong cùng chi
của chúng.
Bộ phận sinh dục của con cái cho thấy hình thái rất đa dạng và
thường có lông thô cứng, bộ phận sinh dục giống hình đĩa liên quan đến
đặc thù của loài trong họ Bọ nẹt, ống dẫn dịch thường được cấu tạo từ
trung tâm của cơ quan sinh dục và được kéo dài thêm ra khi cần thiết, túi
chứa dịch có cấu tạo xoắn là đại diện chung cho tất cả các loài trong cùng
họ, khi ống dẫn dịch xoắn lại thường được kéo dài ra và dài nhất được xem
10
là loài Phocoderma Kollar, độ dài gấp 3 lần so với bụng, ống dẫn dịch
dạng xoắn được cấu tạo bởi màng cứng khác nhau và chạy dọc theo ống
dẫn dịch và đó có thể là đại diện nét đặc trưng rõ ràng của họ Bọ nẹt và đó
có thể coi như là chìa khóa phân loại.
Bộ phận bụng là không thay đổi tạo nên sự đặc trưng của họ Bọ nẹt.
Trưởng thành Bọ nẹt khi đậu có đặc điểm thân và bụng tạo nên một
góc, chân dạng rộng và cánh rủ xuống. Theo (Kalshoven: 1950,1981) ngài
có thể treo lơ lửng trên cành con trông giống như một mẩu lá chết khô [23,
24].
Trứng. trứng được xếp như dạng vảy, hình dạng hơi dẹt và thường đẻ
không tập trung, (Common 1970)[2].
Sâu non. Sâu non bọ nẹt nhiều loài có màu xanh và da trơn, nhưng
loài khác trên da có mấu với tuyến độc được truyền qua lông và màu sắc
mang tính đe dọa, tuyến độc rất mạnh (Marshall 2006) [16 ] gây cho kẻ thù
sự đau đớn dữ dội. Nghiên cứu của Wagner, 2005 [24] cho thấy Sâu non
Bọ nẹt rất dẹt, có lẽ đặc biệt nhất đó là không có chân trước, mà có cấu tạo
giác bám ở phần bụng và trong khi di chuyển chúng tiết ra nhớt bám, giống
như loài sên khi di chuyển cũng tiết ra dịch nhầy, sâu non hại trên lá của ký
chủ. Sự di chuyển của sâu non chủ yếu bởi nhu động, điều này được quan
tấn/ha), khoai lang (1,2 tấn/ha), sắn 2,0 tấn/ha) vì Dong riềng có tỷ lệ tinh
bột khá cao (18%) và năng suất củ cao (45-65 tấn/ha) gấp 4,5-11 lần so với
trong số các cây trồng trên [28].
12
Qua nghiên cứu tài liệu về Dong riềng của tác giả Lý Ban [28] cho
thấy trong sản xuất, từ khi cây Dong riềng được giới thiệu vào nước ta ( vào
khoảng thời gian 1898) cho tới khi tác giả viết cuốn sách này (1963), đã
phản ánh lên một điều sâu hại trên Dong riềng là không quan trọng, được thể
hiện bởi nhà nghiên cứu người Pháp khi nghiên cứu về Dong riềng ở Việt
nam vào đầu thế kỷ 20 đã nhận xét “Người Việt nam, trồng cây khoai riềng
cứ để mặc nơi trồng và chỉ khi nào cần mới đào dần lên” hoặc cũng trong tài
liệu trên có ghi lại thời đó gọi cây Dong riềng là cây “Trời đánh không chết”
và có giải thích rằng đã trồng Dong riềng là có thu hoạch cho năng suất cao,
vì Dong riềng là cây dễ tính, tính thích nghi cao, không bị sâu gây hại làm
mất thu hoạch.
Giai đoạn 1961-1965, Trương Văn Hộ và các cộng sự thuộc Viện
khoa học kỹ thuật Nông Nghiệp Việt nam đã tiến hành nghiên cứu về Dong
riềng, nhưng chủ yếu tập trung nghiên cứu về các đặc điểm thực vật học là
chủ yếu và ghi nhận một số sâu hại trên Dong riềng là Bọ nẹt, sâu xám, sâu
khoang và châu chấu nhưng tác hại không đáng kể và biện pháp phòng trừ
các đối tượng trên bằng thuốc trừ sâu DDT hoặc 666 [ 35 ]. theo tác giả
trương Văn Hộ và các cộng sự trong quá trình điều tra nguồn gen cây có củ
đã điều tra thành phần sâu hại trên Dong riềng( 1993-1996) [ 31].
Kết quả điều tra trên dong riềng thành phần sâu hại năm 1993 bao gồm các
đối tượng sâu gây hại chính sau:
- Sâu khoang (Spodoptera litura Fabr)
- Sâu xám (Agrotis ypsilon Rott)
- Châu chấu (Oxya chinesis sp)
- Bọ nẹt (Parnasa sp)
- Bọ cánh cứng (Epitrix sp)
1-3 ăn mặt dưới lá, sâu non tuổi 4-6 đục khoét vào thân cây.
Pha nhộng của sâu khoang: có chiều dài 15-20 mm, màu nâu tươi, khi
sắp vũ hóa nhộng chuyển mầu đen bóng, mép trước của đốt bụng thứ 4 đến
đốt bụng thứ 7 có nhiều vết châm kim lõm. Cuối bụng có có 1 đôi gai ngắn,
nhộng đực có lỗ sinh sản nằm ngay đốt thứ 9 nhô ra và kéo sát tới mép sau
của đốt 8 thành hình chóp, lỗ sinh sản nằm ngay giữa 2 đốt này và có dạng
một lỗ khía sắc nét và ngắn, sâu thường hóa nhộng ngay trong đất ẩm quanh
gốc rau hoặc bờ ruộng.
Trưởng thành: Thân dài 15-21 mm, sải cánh dài 35-43 mm, bướm đực
có kích thước nhỏ hơn bướm cái. Đầu ngực màu xám bạc và trên ngực có
túm lông màu trắng xám hơi nhô lên, cánh trước màu nâu vàng ở bướm đực
có màu cánh thẫm hơn, vệt xiên cánh có 3 đường mở xếp xít nhau, ở giữa
mép sau cánh trước có hình hạt thóc màu nâu vàng. Ở bướm cái màu cánh
nhạt hơn, vệt xiên giữa cánh có 3 đường chỉ màu trắng xếp tách rời nhau,
cánh sau màu trắng bạc, ở gốc chân cánh của bướm đực có một gai và bướm
cái có 3 gai gài cánh. Bướm thích mùi chua ngọt, hoạt động ban đêm, ban
ngày ẩm nấp trong tán cây, bờ cỏ.
Theo tác giả Lê Văn Trịnh nghiên cứu về đặc điểm sinh học sâu
khoang cho thấy khi nhiệt độ không khí từ 17,6-28,1độ C, độ ẩm 73,1-86,0
% thì thời gian trứng là 2,1-3,7 ngày; sâu tuổi 1: 2,5-8,0 ngày; Sâu tuổi 2:
1,8-5,9 này; Sâu tuổi 3: 1,3-4,9 ngày; Sâu tuổi 4: 1,5-5,1 ngày; Sâu tuổi
5:1,7-5,6 ngày, Sâu tuổi 6: 2,4-7,4 ngày; Tiền nhộng: 1,2-3,6 ngày, Nhộng:
4,0-13,5 ngày và thời gian tiền đẻ trứng của bướm từ 1,3-2,4 ngày Bướm
đực sống từ 4,5-6,2 ngày; Bướm cái sống từ 5,1-7,9 ngày, vòng đời của sâu
biến động từ 20,1-60,6 ngày. Những nghiên cứu của tác giả cũng cho thấy ở
điều kiện mùa đông từ 17,6-18,7 độ C, ẩm độ không khí 73,1-81,5 % thì
15
vòng đời sâu khoang tới 51,4-60,6 ngày, nhiệt độ cao mùa hè 28,1 độ C và
ẩm độ 83,6 % thì vòng đời sâu chỉ có 20,1 ngày. Vậy vòng đời của sâu
khoang chịu ảnh hưởng rất lớn đến nhiệt độ và ẩm độ.
15-16 mm, mồn thụt vò chỉ thò ra khi ăn. Hai bên sườn kể từ đốt bụng cuối,
ứng với mỗi đốt có 1 chấm màu xanh (6 chấm tương ứng). trên lưng cũng có
9 vệt xanh như vậy, cơ thể chia thành 11 đốt rất rõ, các đốt cuối bụng nhỏ và
ngắn dần. Trên lưng, ứng với mỗi đốt có 2 chùm lông, cơ thể có 4 hàng lông
bảo vệ chạy dọc theo chiều dài của thân, riêng hàng thứ1 và thứ 4 có 10
chùm lông. Chùm thứ 9 kể từ trên xuống có 2 chấm đen hình tam giác bao
lấy phần trên của chùm lông, chùm lông này rất ngắn, các lông của Bọ nẹt
nhỏ như kim, có tác dụng tiết chất độc để bảo vệ Bọ nẹt khi gặp kẻ thù, sâu
non di chuyển hết sức chậm, sâu non có chân nhưng không phát triển, phần
bụng bọ nẹt mềm, luôn tiết ra chất dính, giúp nó bám vững trên cây.
Nhộng được bao bọc trong một kén tròn trông giống như hạt cau khô,
đường kính 10-11 mm, kén mới màu trắng đục rất mềm, sau chuyển màu
đen sẫm và vỏ kén khô cứng lại bảo vệ nhộng qua Đông.
Về tập quán sinh sống và quy luật gây hại: Bọ nẹt qua Đông ở giai
đoạn ặn nhộng. Nhộng ở dưới đất, xunh quanh gốc chuối, trên các tàn dư,
sang xuân (cuối tháng 3) bọ nẹt hóa trưởng thành, sau khi nở sâu non hoạt
động mạnh và lớn rất nhanh, sức ăn mạnh dần theo tuổi, sâu non có 4 lần lột
xác, mỗi lần lột xác sâu ngừng ăn để bò ra ngoài lá tiến hành lột xác, mỗi lần
lột xác sâu non biến từ màu xanh sẫm trở thành xanh nhạt, sau khi lột xác
xong, sâu non nằm yên 3-4 giờ mới tiến hành ăn bình thường và cơ thể lớn
lên rõ rệt, càng tuổi lớn thời gian lột xác của sâu non càng ngắn lại; Thời
17
gian từ khi trứng nở đến khi lột xác lần thứ nhất là 11 ngày, lần 2 là 9 ngày,
lần thứ 3 là 8 ngày, lần thứ 4 là 7 ngày, sau lần phân tán lần thứ 4 sâu phân
tán, sâu non ăn suốt ngày đêm nhưng trong phạm vi hẹp khoảng 2
tháng/năm; Khi sâu non đẫy sức, sâu non ngừng ăn, một phần cặn bã trong
cơ thể được tiết ra làm kén. Khi làm kén, bọ nẹt có những chuyển động tròn
nhả tơ nhả sáp tạo ra một cái kén dày, đầu tiên vỏ kén mềm trắng đục, sau
chuyển thành màu nâu đen rồi cứng lại thành một cái vỏ vững chắc để bảo
vệ nhộng qua Đông, khi vũ hóa vỏ kén nứt ra như một cái nắp, trưởng thành
- Tủ định ôn, tủ sấy, nhiệt ẩm kế
- Lá dong riềng
3.2. Các dụng cụ pha chế thuốc hóa học
- Ống đong cỡ 100 cc, 200 cc, 300 cc, 500 cc, 1000 cc
- Bình phun thuốc trừ sâu cầm tay loại 1-10 lít
19
3.3. Thuốc trừ sâu hóa học: Thuộc danh mục thuốc trừ sâu cho sử dụng
trong sản xuất :
- Polytrin 440 EC
- Owatox 400 ND
- Padan 95 SP
- Thuốc BVTV sinh học BT.
3.4. Các giống Dong riềng tham gia nghiên cứu:
Hai giống phổ biến ngoài sản xuất ( Dong riềng đỏ, Dong riềng trắng)
và một số giống trong tập đoàn công tác tại Trung tâm nghiên cứu cây có củ,
Viện CLTCTP; một số giống trong quỹ gen của Trung tâm tài nguyên thực
vật nông nghiệp (Viện KHNN Việt nam)
4. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU.
- Điều tra thu thập, xác định thành phần sâu hại trên Dong riềng ở Hưng
yên và phụ cận.
- Nghiên cứu đặc điểm sinh học và ảnh hưởng của một số yếu tố sinh thái
quan trọng (nhiệt độ, ẩm độ, thức ăn ) đến quá trình phát triển của Bọ
nẹt trên Dong riềng
- Nghiên cứu sự biến động số lượng của Bọ nẹt trên trên đồng ruộng Dong
riềng, dưới sự ảnh hưởng của các yếu tố sinh thái như nhiệt, ẩm độ,
lượng mưa, thiên địch và các yếu thâm canh trồng xen, trồng thuần
- Thử nghiệm một số thuốc trừ sâu đối với Bọ nẹt hại Dong riềng trong
phòng thí nghiệm và ngoài đồng
5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
5.1. Điều tra thu thập và xác định thành phần sâu hại trên Dong riềng.
5.2.2. Phương pháp nuôi sâu cá thể hại trên Dong riềng.
Phương pháp nuôi sâu cá thể theo mô hình của tác giả Sengoca và
Gerlach (1983) với mục đích nghiên cứu sinh học, sinh thái học.
Tiến hành bắt 100 sâu trưởng thành chuyển vào lồng mica có lá Dong
riềng sạch (cây Dong riềng được trồng trông lồng mi ca cách ly) mỗi lồng
đặt 20 trưởng thành trong 5 lồng. Sau 24 tiếng đồng hồ tiến hành quan sát
chọn lá có trứng, dùng kéo cắt phần lá có trứng đặt vào hộp nuôi sâu, mỗi
trứng một hộp sau đó chuyển hộp nuôi sâu vào tủ định ôn, để giữ ẩm sử
dụng bông thấm nước cuốn vào cuống lá Dong riềng sau 2 ngày thay một
miếng lá mới và giấy lọc trong hộp nuôi sâu. Theo dõi ở các nhiệt độ nuôi
sâu ở các nhiệt độ khác nhau (15;20;25;30 độ C và ẩm độ 75-90 %), dán
nhãn lên nắp hộp nuôi sâu từ 1-40 theo thứ tự (lượng mẫu n > 20 trở lên)
ghi lại ngày chuyển trứng, tiếp tục theo dõi trứng nở, các pha phát dục khác
(thời gian phát dục pha trứng, sâu non các tuổi, nhộng và trưởng thành) cho
đến khi kết thúc thí nghiệm. Khi sâu hóa trưởng thành, chuyển trưởng thành
sang hộp nuôi sâu có lá dong riềng tươi được giữ ẩm bằng bông thấm nước
ở cuống lá, sau đó tiến hành ghép cặp mỗi hộp một cặp để theo dõi thời gian
trưởng thành có khả năng sinh sản đến khi trưởng thành chết sinh lý (lượng
mẫu n>20 trở lên) nhằm xác định khả năng đẻ trứng, tập tính đẻ trứng của
trưởng thành, thời gian phát dục của pha trứng, sâu non, nhộng trưởng
thành, đo các pha phát dục, tỷ sống và tỷ lệ chết các pha cho đến hết đợt thí
nghiệm.
Các chỉ tiêu theo dõi: Thời gian phát dục của từng pha, thời gian
vòng đời, kích thước sâu non, nhộng, trưởng thành, số lượng trứng đẻ được
22
và tỷ lệ trướng nở cùng các đặc điểm khác của sâu hại chính trên Dong
riềng trong phòng thí nghiệm.
5.2. Điều tra biến động số lượng của sâu hại chủ yếu và sự gây hại của
chúng trên đồng ruộng.
Phương pháp điều tra thành phần sâu hại và thiên địch của chúng chủ
Tỷ lệ hại (%) = Tổng số lá bị hại/ Tổng số lá điều tra.
c) Thời gian phát dục của cá thể ( từng pha: Trứng, Sâu non, Nhộng,
Trưởng thành).
X = ( X1 + X2 + X3 + + XN)/ N
Trong đó:
X – là thời gian phát dục trung bình của từng pha (ngày)
X1 + X2 + X3 + + XN là thời gian phát dục của từng cá thể
N là tổng số cá thể theo dõi
d) Tỷ lệ trứng nở được tính theo công thức.
Tỷ lệ (%) trứng nở = (Số quả trứng nở/ Tổng số quả trứng theo dõi) x
100
24
e) Kích thước từng pha phát triển (mm).
X = (X1 + X2 + X3 + +XN)/N
Trong đó:
X – là kích thước trung bình của từng pha (mm)
X1 + X2 + X3 + + XN là kích thước của từng cá thể
N là tổng số cá thể theo dõi
8. Phương pháp tính toán và xử lý số liệu.
Số liệu được tính toán và xử lý theo chương trình Exel và IRRISTAT dùng
cho khối sinh học và Bảo vệ thực vật.
Dùng phương pháp thống kê so sánh Duncan giữa các công thức thí nghiệm
ở xác xuất P = 0,05 và P = 0,01.
25