ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM NGUYỄN THỊ THANH HOA
PHÁT TRIỂN MÔI TRƯỜNG GIÁO DỤC
KỸ NĂNG GIAO TIẾP CHO HỌC SINH TRƯỜNG
PHỔ THÔNG DÂN TỘC NỘI TRÚ TỈNH HÀ GIANG
Chuyên ngành: Giáo dục học
Mã số: 60.14.01
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài
Giao tiếp là một trong những hoạt động đặc trưng nhất của đời sống xã
hội, là điều kiện quan trọng để con người phát triển toàn diện tâm lý, ý thức và
hoàn thiện các phẩm nhân cách. Việc xây dựng môi trường văn hoá giao tiếp là
một phần không tách rời của việc xây dựng môi trường giáo dục thân thiện
trong gia đình, nhà trường và ngoài xã hội. Xây dựng môi trường văn hoá giao
tiếp giúp cho học sinh phát triển khả năng tư duy trí tuệ, hình thành các phẩm
chất nhân cách phù hợp với các mục tiêu, chuẩn mực giáo dục đề ra.
Môi trường văn hóa giao tiếp trong nhà trường chính là môi trường sư
phạm, đó chính là những chuẩn mực về văn hóa giao tiếp trong việc dạy, học
và cuộc sống hàng ngày. Xây dựng môi trường văn hóa giao tiếp lành mạnh,
văn minh, chuẩn mực đã góp phần xây dựng nhân cách cho con người. Sự
giao tiếp văn hóa của mọi người trong môi trường nhà trường sẽ tác động trực
tiếp, là những tấm gương, những chuẩn mực cho học học sinh noi theo.
Phong trào thi đua "Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”
đang được ngành giáo dục triển khai thực hiện ở tất cả các bậc học hiện nay.
Mục đích của phong trào này là tạo nên một môi trường giáo dục (cả về vật
chất lẫn tinh thần) an toàn, bình đẳng, tạo hứng thú cho học sinh trong học
tập, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục trên cơ sở tập trung mọi nỗ lực
của nhà trường vì người học. Môi trường học tập thân thiện gắn bó chặt chẽ
với việc phát huy tính tích cực, năng lực tiềm ẩn của học sinh. Trong môi
trường phát triển toàn diện đó, học sinh học tập hứng thú, chủ động tìm hiểu
kiến thức dưới sự dìu dắt của thầy cô giáo, gắn chặt giữa học và hành, rèn
luyện kỹ năng và phương pháp học tập, phát triển toàn diện các phẩm chất
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
3
2. Mục đích nghiên cứu
Làm rõ một số vấn đề về môi trường giáo dục kỹ năng giao tiếp của
trường trường phổ thông DTNT tỉnh Hà Giang, từ đó đề xuất các biện pháp
phát triển môi trường giáo dục kỹ năng giao tiếp cho học sinh trường phổ
thông DTNT tỉnh Hà Giang.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về phát triển môi trường giáo dục kỹ
năng giao tiếp cho học sinh phổ thông DTNT.
3.2. Nghiên cứu thực trạng môi trường giáo dục kỹ năng giao tiếp cho
học sinh trường phổ thông DTNT tỉnh Hà Giang.
3.3. Đề xuất một số biện pháp phát triển môi trường giáo dục kỹ năng
giao tiếp cho học sinh trường phổ thông DTNT tỉnh Hà Giang.
4. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
4.1. Khách thể nghiên cứu: Môi trường giáo dục kỹ năng giao tiếp cho
học sinh trường phổ thông DTNT tỉnh Hà Giang.
4.2. Đối tượng nghiên cứu: Một số biện pháp phát triển môi trường giáo
dục kỹ năng giao tiếp cho học sinh trường phổ thông DTNT tỉnh Hà Giang.
5. Giả thuyết khoa học
Xây dựng môi trường văn hoá giao tiếp là một trong những vấn đề gắn
bó mật thiết với xây dựng môi trường học tập thân thiện trong giáo dục nhà
trường. Nếu đánh giá đúng thực trạng môi trường văn hoá giao tiếp của
7.5 Phương pháp khảo nghiệm: Khảo nghiệm một số biện pháp đề xuất
để đánh giá tính khả thi.
7.6 Phương pháp bổ trợ: Sử dụng thống kê toán học để xử lý các kết
quả nghiên cứu 8. Đóng góp mới của đề tài
8.1 Hệ thống cơ sở lý luận về phát triển môi trường giáo dục, kỹ năng
giao tiếp.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
5
8.2 Làm sáng tỏ thực trạng môi trường giáo dục và kỹ năng giao tiếp
của học sinh phổ thông DTNT tỉnh Hà Giang.
8.3 Đề xuất những biện pháp phát triển môi trường giáo dục kỹ năng
giao tiếp cho học sinh trường phổ thông nói chung và học sinh trường phổ
thông DTNT tỉnh Hà Giang nói riêng.
9. Cấu trúc luận văn
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
2. Mục đích nghiên cứu
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
5. Giả thuyết khoa học
6. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
7. Phương pháp nghiên cứu
8. Những đóng góp của đề tài
Nhà tâm lý học Mỹ Kenloc (1923) đã nuôi trong cùng một môi trường
con khỉ 10 tháng tuổi và cậu bé trai 8 tháng tuổi của mình để so sánh ảnh
hưởng của môi trường đến con khỉ và con người. Đã có nhiều ví dụ để chúng ta
hiểu về vai trò của môi trường sống đối con vật hoặc con người, không thể làm
thay đổi bản năng của con vật. Ngược lại môi trường của loài vật có thể tác
động mạnh vào bản chất của con người. Nhà xã hội học Mỹ R.E Pác – cơ đã
nói: “Người không đẻ ra người, đưa trẻ chỉ trở nên người trong quá trình giáo
dục”. Điều này khảng định vai trò của yếu tố môi trường văn hóa, môi trường
giáo dục có tính quyết định đối với sự hình thành nhân cách con người.
I.V. Pavlov và B.F. Skinnơ. I.V.Pavlov nghiên cứu sự hình thành phản
xạ có điều kiện trong môi trường được kiểm soát chặt chẽ, con vật (con chó)
hoàn toàn thụ động. B.F. Skinnơ nghiên cứu sự hình thành phản xạ tạo tác
động môi trường gần với thực tế hơn, con vật (chuột, bồ câu…) chủ động
trong hành vi đáp ứng trên cơ sở nhu cầu của nó. Nội dung học tập thể hiện
ngay trong môi trường mà con vật phải tìm cách thích nghi. Đây là cơ sở lý
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
7
thuyết để xây dựng kiểu dậy học chương trình hóa, dạy học bằng máy. Từ
nghiên cứu kết quả của hai ông, các nhà gíao dục đã nhận thức một vấn đề rất
quan trọng rằng: Yếu tố môi trường trong giáo dục không chỉ góp phần quyết
định đến sự hình thành và phát triển nhân cách con người mà quan trọng hơn
là yếu tố thực tế đã kích thích chủ thể (con người) hoạt động năng động và
sang tạo hơn. Việc tạo lập, xây dựng và phát triển môi trường giáo dục là một
nhiệm vụ quan trọng của khoa học giáo dục hiện đại.
Nghiên cứu về môi trường dạy học phải kể đến công trình của Jean
Marc Denomme và Madeleine Roy về phương pháp sư phạm tương tác.
Trong đó, mô hình quen thuộc: Người dạy – Người học – Tri thức được
chuyển thành Người dạy – Người học – Môi trường. Tác giả coi môi trường
phổ thông.
Phát triển môi trường giáo dục kỹ năng giao tiếp cho học sinh phổ
thông, đặc biệt là học sinh dân tộc thiểu số là vấn đề còn bỏ ngỏ chưa có công
trình nào nghiên cứu, chính vì vậy mà tác giả đã chọn vấn đề làm đề tài
nghiên cứu.
1.2 Một số khái niệm công cụ
1.2.1 Khái niệm về môi trường
Môi trường sống của con người là tổng hợp các điều kiện tự nhiên và
xã hội bao quanh con người và cơ ảnh hưởng tới sự sống và sự phát triển của
từng các nhân cũng như cả cộng đồng người và tác động qua lại với hoạt động
sống của con người.
Về phân loại, môi trường sống của con người gồm: môi trường tự
nhiên, môi trường xã hội, môi trường nhân tạo. Trong các loại môi trường nói
trên, môi trường xã hội có ý nghĩa rất quan trọng với sự phát triển của con
người. Môi trường xã hội là tổng thể các quan hệ giữa con người với con
người tạo nên sự thuận lợi hoặc trở ngại cho sự tồn tại và phát triển của cá
nhân cùng cộng đồng của họ.
Môi trường sống của con người là một phạm trù hẹp hơn so với phạm trù
môi trường. Môi trường sống thực hiện nhiều chức năng với con người. Cụ thể:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
9
- Là không gian sống của con người. Mỗi người trong quá trình sống
đều có không gian cần thiết cho các hoạt động như nhà ở, đất đai dùng để
sản xuất, tái tạo chất lượng môi trường sống. Yêu cầu về không gian sống của
con người thay đổi theo trình độ phát triển của kỹ thuật, công nghệ và sản
xuất. Trình độ phát triển của loài người càng cao thì nhu cầu về không gian
sản xuất càng giảm. Tuy nhiên nhu cầu về không gian sống của con người
không bao giờ mất đi. Sự sáng tạo của con người cho phép họ có thể tạo ra
con người.
Vì vậy, nhận thức đúng về vai trò của môi trường giao tiếp và môi
trường giáo dục phát triển kỹ năng giao tiếp cho học sinh THPT sẽ giúp nhà
giáo dục định hướng cho học sinh tiếp nhận những ảnh hưởng tốt đẹp của môi
trường giáo dục kỹ năng giao tiếp, đồng thời có khả năng chống lại những ảnh
hưởng xấu của môi trường giao tiếp.
1.2.2 Khái niệm về giao tiếp
Giao tiếp là một hiện tượng tâm lý phức tạp và nhiều mặt, nhiều cấp độ
khác nhau. Do đó, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về giao tiếp. Mỗi định
nghĩa dựa trên một quan điểm riêng:
Các nhà Tâm lý học Xô Viết như L.X.Vưgôtxki cho rằng: “Giao tiếp là
sự thông báo hoặc là quan hệ qua lại một cách thuần túy giữa người với
người, như là một sự trao đổi quan điểm và cảm xúc”. X.L.Rubinstêin định
nghĩa ngắn gọn: “Giao tiếp là hình thức liên kết giữa con người với nhau”.
A.A.Lêônchiev lại cho rằng: “Giao tiếp là một hệ thống những quá trình có
mục đích và động cơ đảm bảo cho sự tương tác giữa người này với người
khác trong hoạt động tập thể thực hiện các mối quan hệ liên nhân cách, các
quan hệ tâm lý và sử dụng phương tiện đặc thù mà trước hết là ngôn ngữ”.
Sự tồn tại và phát triển của mỗi con người luôn gắn liền với sự tồn tại và
phát triển của những cộng đồng xã hội nhất định. Không ai có thể sống, hoạt
động ngoài gia đình, bạn bè, địa phương, tập thể, dân tộc, tức là ngoài xã hội.
Người La Tinh nói rằng: “Ai có thể sống một mình thì người đó hoặc là thánh
nhân hoặc là quỷ sứ”. Trong quá trình sống và hoạt động đó, nảy sinh trong
mỗi chúng ta nhiều mối quan hệ. Chỉ có một số ít các mối quan hệ là có sẵn từ
khi chúng ta cất tiếng chào đời, còn đại đa số các mối quan hệ còn lại được
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
11
hình thành, phát triển trong quá trình sống và hoạt động trong cộng đồng xã
12
Ở Việt Nam, trong giáo trình “giao tiếp sư phạm” tác giả Ngô Công
Hoàn đã định nghĩa: “Giao tiếp là hình thức đặc trưng cho mối quan hệ giữa
con người với con người mà qua đó nảy sinh sự tiếp xúc tâm lý và được biểu
hiện ở các quá trình thông tin, hiểu biết, rung cảm, ảnh hưởng và tác động qua
lại lẫn nhau” [Giáo trình giao tiếp sư phạm – Ngô Công Hoàn].
Trong tài liệu “Tâm lý học đại cương” tác giả Nguyễn Quang Uẩn đã
nêu ra định nghĩa: “Giao tiếp là sự tiếp xúc tâm lý giữa người với người thông
qua đó con người trao đổi với nhau về thông tin, cảm xúc, tri giác lẫn nhau,
ảnh hưởng tác động qua lại với nhau. Hay nói khác đi, giao tiếp xác lập và
vận hành các quan hệ người - người, hiện thực hóa các quan hệ xã hội giữa
chủ thể này với chủ thể khác”.
Tác giả Phạm Minh Hạc cho rằng: “Giao tiếp là hoạt động xác lập và
vận hành các quan hệ người - người để thực hiện các quan hệ xã hội giữa
người ta với nhau”.
Mỗi tác giả khác nhau dựa trên một quan điểm riêng của mình đã đưa
ra những định nghĩa khác nhau về giao tiếp, tuy nhiên họ đều cho rằng giao
tiếp là hoạt động đặc trưng của con người, là sự trao đổi thông tin giữa con
người với nhau.
Từ những cách hiểu trên, theo chúng tôi, có thể hiểu về giao tiếp như
sau: “Giao tiếp là hình thức đặc trưng của xã hội, là sự tiếp xúc tâm lý giữa
người với người, qua đó con người trao đổi với nhau về thông tin, cảm xúc,
tri giác lẫn nhau, tác động qua lại và ảnh hưởng lẫn nhau, thiết lập và duy trì
mối quan hệ giữa con người với con người”
1.2.3. Khái niệm về môi trường giao tiếp
Mỗi một hoạt động giao tiếp khác nhau thì đều có môi trường giao tiếp
khác nhau. Như đã phân tích ở phần khái niệm môi trường, môi trường giao
tiếp được hiểu là những lĩnh vực, không gian giao tiếp xã hội đã được khu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
14
môi trường tinh thần). Trong nhà trường phổ thông, môi trường giao tiếp của
học sinh được tạo bởi các yếu tố: Cơ sở vật chất trường lớp, cảnh quan nhà
trường, truyền thống nhà trường, thái độ, hành vi ứng xử của các thành viên
trong nhà trường và phương pháp giảng dạy của giáo viên, tính tích cực chủ
động tham gia của học sinh trong quá trình hoạt động học tập, rèn luyện vv…
* Những ảnh hưởng tích cực của môi trường giao tiếp:
- Tạo cho học sinh một không gian thuận lợi, tích cực để rèn luyện các
kỹ năng giao tiếp, kỹ năng ứng xử.
- Là điều kiện tốt cho học sinh tự trải nghiệm, chia sẻ, tự khẳng định vị
trí và năng lực của bản thân.
- Là điều kiện, phương tiện để học sinh tiếp thu kiến thức, hoàn thiện nhân
cách và phát triển toàn diện về mọi mặt đặc biệt là phát triển kỹ năng sống.
* Những ảnh hưởng tiêu cực của môi trường giao tiếp:
- Môi trường giao tiếp không có văn hóa sẽ là nguyên nhân dẫn đến
những hành vi lệch chuẩn ở học sinh phổ thông, dẫn đến hiện tượng bạo lực
học đường, làm hạn chế chất lượng giáo dục, dạy học của nhà trường, ảnh
hưởng tới mối đoàn kết nội bộ. Môi trường giao tiếp có tầm quan trọng đặc
biệt, vì vậy, nhà giáo dục cần tạo điều kiện để phát triển, mở rộng môi trường
giao tiếp cho học sinh.
Giao tiếp là một trong những con đường cơ bản để hình thành và phát
triển nhân cách con người. Khả năng giao tiếp tốt là chìa khóa khởi nguồn cho
sự thành công. Khả năng giao tiếp của mỗi người có ảnh hưởng của rất nhiều
yếu tố khác nhau. Nó phụ thuộc vào vốn sống, vốn kinh nghiệm và tính tự chủ
của bản thân chủ thể, phụ thuộc vào môi trường, điều kiện, hoàn cảnh giao
tiếp. Đối với hoạt động giao tiếp của học sinh môi trường giao tiếp là điều
kiện cần thiết để phát triển kỹ năng, năng lực giao tiếp cho học sinh. Môi
giáo viên, học sinh tiến hành một hệ thống các biện pháp nhằm tạo ra một môi
trường giao tiếp an toàn, hiệu quả, thu hút người học tích cực tham gia, giúp
người học có cơ hội được trải nghiệm được phát huy và khẳng định mình
thông qua việc trao đổi, tiếp nhận thông tin để rèn luyện các kỹ năng giao tiếp
ứng xử.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
16
Phát triển môi trường giáo dục kỹ năng giao tiếp là hệ thống những tác
động của chủ thể giao tiếp nhằm tạo ra môi trường vật chất, môi trường tinh
thần và môi trường xã hội an toàn, thu hút đối tượng giao tiếp tự giác tham
gia, đồng thời tạo cơ hội cho đối tượng giao tiếp được bày tỏ thái độ và quan
điểm của mình trong môi trường đó nhằm đem đến sự hài lòng cho đối tượng
giao tiếp và chủ thể giao tiếp cũng như những người xung quanh, giúp đối
tượng giao tiếp phát triển các kỹ năng giao tiếp nâng cao hiệu quả giao tiếp.
Phát triển môi trường giáo dục kỹ năng giao tiếp là sự kết thừa, phát
huy những yếu tố tích cực của môi trường văn hoá giáo dục nhà trường, đồng
thời xây dựng, lựa chọn những phương pháp, phương tiện giao tiếp tích cực
để đạt được hiệu quả giao tiếp. Đây là nhiệm vụ của tập thể giáo viên, cán bộ
quản lý nhà trường, các tổ chức giáo dục trong và ngoài nhà trường đồng thời
là trách nhiệm, nghĩa vụ của mỗi học sinh .
1.3. Những vấn đề cơ bản về phát triển môi trƣờng giáo dục kỹ năng giao
tiếp cho học sinh trƣờng phổ thông DTNT
1.3.1 Đặc điểm tâm lý của học sinh phổ thông DTNT
Mỗi một nhóm người, một cộng đồng xã hội hay một tộc người đều có
những đặc trưng tâm lý riêng mang tính chất xã hội - lịch sử. Học sinh THPT
người dân tộc thiểu số vừa mang đậm tính dân tộc của học vừa mang đầy đủ
những đặc điểm tâm lý của học sinh bậc THPT nói chung. Học sinh THPT là
Đặc điểm tâm lý tình cảm của học sinh người dân tộc thiểu số thường
khép kín, ít bộc lộ. Vì vậy, trong hoạt động học tập và các hoạt động sinh hoạt
khác các em thường bình thản, ít tham gia nên giáo viên khó nắm bắt được
tâm lý của đối tượng học sinh này.
Nhận thức ở các em học sinh THPT người dân tộc thiểu số cũng có sự
khác biệt đó là ngay từ khi còn bé các em đã được tiếp xúc nhiều với thiên
nhiên nên đối tượng tri giác của các em là các sự vật, hiện tượng gắn liền với
tự nhiên, thiên nhiên. Chẳng hạn tri giác về không gian hay thời gian các em
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
18
thường gắn với những quy ước mang tính cộng đồng như khoảng, buổi, thời
điểm của mặt trời, mặt trăng thay vì các đơn vị đo như ngày, giờ, tháng….
Hơn nữa, do sống trong điều kiện tự cấp, tự túc, năng xuất lao động
phụ thuộc vào thiên nhiên, ít va chạm, sống theo tập tự và thỏa mãn với
những gì đã có nên trong tư duy của các em thể hiện những đặc trung về tư
duy hình ảnh trực quan sinh động hơn là khả năng tư duy ngôn ngữ. Các em
thiếu thói quen suy nghĩ theo chiều sâu. Biểu hiện trong học tập và không
phát hiện những mâu thuẫn cần giải quyết, suy nghĩ thiếu sâu sắc, nhiều em
không hiểu bài nhưng cũng không biết mình không hiểu ở chỗ nào, có thói
quen suy nghĩ một chiều và dễ dàng thừa nhận những gì người khác nói, óc
phê phán còn hạn chế biểu hiện là trong quá trình làm bài thì thường đọc đề
bài qua loa, không suy nghĩ thấu đáo đã bắt tay vào làm bài nên dễ dàng nhầm
lẫn hoặc sai sót.
Cuộc sống của học sinh dân tộc thiểu số ở các trường nội trú còn nhiều
khó khăn, các em phải sống xa gia đình trong khi chưa chuẩn bị đủ cho cuộc
sống tự lập, mọi trang trải cho học tập, cuộc sống đều phụ thuộc vào hỗ trợ
của nhà nước, sinh hoạt vật chất của các em rất eo hẹp. Điều này cũng dẫn
đến tâm lý tự ti, mặc cảm, chấp nhận cuộc sống âm thầm, lặng lẽ thiếu thốn
học và sự say mê tìm kiếm kiến thức của học sinh, giúp học sinh có động cơ
học tập đúng đắn.
Môi trường giao tiếp thân thiện, chia sẻ tạo lập sự bình đẳng giới, bình
đẳng giữa các học sinh thuộc các dân tộc khác nhau, không có sự phân biệt,
kỳ thị giàu nghèo, học sinh khuyết tật. Chính môi trường đó chú trọng kỹ
năng sống, giáo dục học sinh dân tộc hòa nhập, giáo dục cho học sinh biết rèn
luyện thân thể, biết tự bảo vệ sức khỏe, biết sống khỏe mạnh, an toàn. Phát
huy tính chủ động, tích cực, sáng tạo của học sinh trong học tập và các hoạt
động xã hội một cách phù hợp và hiệu quả. Tăng cường sự tham gia một cách
hứng thú của học sinh trong các hoạt động giáo dục trong nhà trường và tại
cộng đồng, với thái độ tự giác, chủ động và ý thức.
Môi trường giao tiếp thân thiện, chia sẻ tạo cho thầy và trò gắn kết với
nhau, trò – trò quan hệ thân thiện, đoàn kết cùng nhau học tập, rèn luyện để
nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
20 1.3.3 Ý nghĩa của việc phát triển môi trường giáo dục kỹ năng giao tiếp cho
học sinh DTNT
Ý nghĩa quan trọng nhất của việc phát triển môi trường giáo dục là tạo
nên một môi trường (cả về vật chất lẫn tinh thần) an toàn, bình đẳng, tạo hứng
thú cho học sinh trong học tập, nâng cao chất lượng giáo dục trên cơ sở tập
trung mọi nỗ lực của nhà trường vì người học. Kết quả cuối cùng là hướng
đến mục tiêu nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường, góp phần nâng
cao dân trí, phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
Môi trường giao tiếp thân thiện có tác dụng phát triển kỹ năng giao tiếp
cho học sinh gắn bó chặt chẽ với việc phát huy tích cực của học sinh. Bởi giao
thành mục đích sống, lẽ sống của học sinh, nơi đây các em được rèn luyện và
phát triển, môi trường giao tiếp góp phần tạo động lực cho học sinh học tập,
rèn luyện để phát triển nhân cách.
Xây dựng môi trường giao tiếp và phát triển kỹ năng giao tiếp cho học
sinh góp phần nâng cao năng lực của cộng đồng và gia đình, giúp học sinh
phát triển tối đa tiềm năng, trong đó chú trọng đến sự phát triển về thể chất,
nhân thức và tâm lý xã hội, góp phần làm thay đổi hẳn những thói quen, tập
quán của đồng bào các dân tộc thiếu số cũng như cuộc sống của các em.
Xây dựng môi trường giao tiếp và phát triển kỹ năng giao tiếp cho học
sinh là một nội dung quan trọng trong xây dựng văn hóa nhà trường, đối với
trường phổ thông DTNT vùng khó khăn, góp phần tạo động lực thúc đẩy học
sinh tới trường, nâng cao chất lượng giáo dục, tạo sự công bằng trong giáo
dục, giúp giáo dục miền núi phát triển.
1.3.4 Nội dung phát triển môi trường giáo dục kỹ năng giao tiếp cho học
sinh phổ thông DTNT
Phát triển môi trường giáo dục kỹ năng giao tiếp cho học sinh là những
biện pháp của chủ thể giao tiếp (giáo viên, cán bộ) và đối tượng giao tiếp (học
sinh) nhằm tạo ra môi trường vật chất an toàn, thân thiện với đối tượng giao
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
22
tiếp và các mối quan hệ xã hội chia sẻ, cộng đồng hợp tác trong học tập, rèn
luyện cùng với các yếu tố tâm lý tích cực thúc đẩy người học tự giác chủ động
trong quá trình giao tiếp nhằm thực hiện có hiệu mục tiêu và nhiệm vụ học tập,
rèn luyện đề ra. Xây dựng môi trường giao tiếp thân thiện, chia sẻ có khả năng
phát triển kỹ năng giao tiếp cho học sinh là tạo ra những ảnh hưởng tích cực tới
chất lượng giáo dục, dạy học và chất lượng giáo dục toàn diện học sinh. Xây
dựng môi trường phát triển kỹ năng giao tiếp cho học sinh bao gồm:
bộ của người học và quán triệt triết lý “ Thầy ra thầy, trò ra trò”.
Thân thiện giữa tập thể sư phạm, nhất là các thầy, cô với các em học
sinh. Thầy cô cùng các bộ phận khác trong nhà trường đều hoạt động theo
phương châm: “Tất cả vì học sinh thân yêu”. Từ đó, học sinh sẽ quý mến,
kính trọng thầy cô một cách thực sự.
Coi trọng việc giáo dục bình đẳng giới để các em học sinh nam, nữ biết
quý trọng nhau, sống hòa đồng với nhau. Rèn kỹ năng sống cho học sinh
thích ứng với xã hội, bởi cuộc sống nhà trường là cuộc sống thực, không để
học sinh phải “ngơ ngác” trước cuộc sống xã hội đang từng ngày thay đổi.
1.3.4.3 Dạy và học hiệu quả, lựa chọn và sử dụng phương pháp dạy
học tạo môi trường học tập hợp tác, chia sẻ cho học sinh
Biến những kiến thức xa lạ thành gần gũi, thân quen, thu hút học sinh
cùng tham gia trong môi trường học tập hợp tác với thầy, với bạn. Phương
pháp dạy học (PPDH) phổ biến ở phổ thông hiện nay vẫn theo hướng “Lấy
người dạy là trung tâm” (Teacher – centered) với quan niệm giáo viên là người
truyền đạt kiến thức và học sinh là người tiếp thu kiến thức. Kiến thức từ sách
giáo khoa được giáo viên “độc quyền” truyền đạt cho học sinh, kiến thức của
các em phụ thuộc vào kiến thức của thầy và học sinh luôn là người lĩnh hội tri
thức thụ động. PPDH này đã dẫn đến lối dạy “Thầy đọc – trò chép” và lối học
“thuộc lòng những gì thầy đọc cho chép”. Đây là phương pháp dạy học tạo nên
thói quen thụ động, trông chờ và sức ỳ của học sinh trong tiếp thu kiến thức, sẽ
ảnh hưởng nhiều đến tính năng động, sáng tạo trong cuộc sống và là môi
trường giao tiếp không tích cực cho học sinh.
PPDH theo hướng tích cực hóa hoạt động của người học (Learner-
centered) thực sự là phương pháp dạy học hướng vào người học, thu hút
người học cùng tham gia hợp tác, giáo viên ở đây chỉ là người tổ chức và trợ