Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
BÙI THỊ THU TRANG
DẠY HỌC TÁC PHẨM
NGHỊ LUẬN TRUNG ĐẠI TRONG SỰ SO SÁNH
VỚI TÁC PHẨM NGHỊ LUẬN HIỆN ĐẠI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC Chuyên ngành: LL&PP dạy học Văn - Tiếng Việt
Mã số: 60.14.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Gia Cầu
Thái Nguyên - Năm 2012
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
LỜI CẢM ƠN ! Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của mình tới Tiến sĩ Nguyễn Gia Cầu-
Người thầy đã tận tình hướng dẫn em trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu
và hoàn thành luận văn.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
i
MỤC LỤC
Trang
Lời cảm ơn
Lời cam đoan
Mục lục i
Danh mục chữ viết tắt iv
PHẦN MỞ ĐẦU 1
PHẦN NỘI DUNG 8
Chƣơng 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 8
1.1 Cơ sở lí luận 8
1.1.1 Đặc trưng cơ bản của văn nghị luận 8
1.1.2. Đặc điểm cơ bản của văn nghị luận trung đại và văn nghị luận hiện đại 12
1.1.2.1. Đặc điểm của văn nghị luận trung đại 13
1.1.2.2. Đặc điểm của văn nghị luận hiện đại 14
1.2. Cơ sở thực tiễn 16
1.2.1. Thực tế của việc dạy tác phẩm" Đại cáo bình Ngô" và "Tuyên ngôn
Độc lập" trong nhà trường hiện nay đối với giáo viên THPT 16
1.2.1.1. Thực tế của việc dạy tác phẩm "Đại cáo bình Ngô" 16
1.2.1.2. Thực tế của việc dạy tác phẩm "Tuyên ngôn Độc lập" 26
1.2.2. Khả năng cảm thụ của học sinh khi học tác phẩm "Đại cáo bình Ngô"
và "Tuyên ngôn Độc lập" 33
1.2.2.1. Khả năng cảm thụ của học sinh khi học tác phẩm "Đại cáo bình Ngô" 34
1.2.2.2. Khả năng cảm thụ của học sinh khi học tác phẩm "Tuyên ngôn Độc lập" 38
Chƣơng 2. ĐỊNH HƢỚNG DẠY HỌC TPNL TRUNG ĐẠI TRONG
SỰ SO SÁNH VỚI TPNL HIỆN ĐẠI 42
2.1. Giới thiệu tổng quát các TPNL trung đại và các TPNL hiện đại trong
chương trình và SGK Ngữ văn THPT 42
2.3.2.1. Định hướng dạy học "Đại cáo bình Ngô" 76
2.3.2.2. Định hướng dạy học " Tuyên ngôn Độc lập" 77
2.4. Định hướng dạy học tác phẩm "Đại cáo bình Ngô" trong sự so sánh
với tác phẩm "Tuyên ngôn Độc lập" theo đề xuất của luận văn 79
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
iii
2.4.1. Định hướng chung 80
2.4.2. Định hướng về nội dung 80
2.4.3. Định hướng về phương pháp 83
Chƣơng 3. THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM 84
3.1. Thiết kế thể nghiệm dạy học tác phẩm "Đại cáo bình Ngô" trong sự
so sánh với tác phẩm "Tuyên ngôn Độc lập" 84
3.2. Dạy học thực nghiệm 101
3.2.1. Mục đích thực nghiệm 101
3.2.2. Cách thức thực nghiệm 101
3.2.3. Kết quả thực nghiệm 102
3.2.4. Kết luận chung về thực nghiệm 104
PHẦN KẾT LUẬN 105
TÀI LIỆU THAM KHẢO 107 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
iv
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
GV: Giáo viên
cũng có những tác phẩm bất hủ và có ý nghĩa sâu sắc. Ta có thể kể đến những
tác phẩm xuất sắc như: “Chiếu dời đô” của Lí Công Uẩn, “Hịch tướng sĩ”
của Trần Quốc Tuấn, “Đại cáo bình Ngô” của Nguyễn Trãi, “Tuyên ngôn
Độc lập” của Hồ Chí Minh…Các tác phẩm nghị luận lớn và mẫu mực ấy đã
chứa đựng nhiều giá trị không chỉ có ý nghĩa về mặt lịch sử, văn chương mà
còn là những bằng chứng chân thực, xác đáng nhất thể hiện rõ quan niệm và
tư duy của con người trong từng thời đại.
Trong số những TPNL được đưa vào giảng dạy trong chương trình SGK
thì “Đại cáo bình Ngô”của Nguyễn Trãi và “Tuyên ngôn Độc lập” của Hồ Chí
Minh được coi là những TPNL mẫu mực của mọi thời đại. Từ lâu “Đại cáo bình
Ngô” và “Tuyên ngôn Độc lập” đã được đưa vào giảng dạy trong chương trình
trung học phổ thông. Những định hướng và thiết kế giảng dạy hai tác phẩm này
có nhiều song nếu nhìn khái quát vẫn chưa có thiết kế nào hướng dẫn giảng dạy
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
2
“Đại cáo bình Ngô”- một TPNL trung đại mẫu mực, trong sự so sánh với
“Tuyên ngôn Độc lập”- một TPNL hiện đại mẫu mực. Trong khi đó nếu đặt
“Đại cáo bình Ngô”của Nguyễn Trãi bên cạnh “Tuyên ngôn Độc lập” của Hồ
Chí Minh chúng ta sẽ nhận thấy có nhiều vấn đề cần được bàn luận. Chính vì lẽ
đó, ở đề tài này chúng tôi lựa chọn hướng nghiên cứu “Dạy - học TPNL trung
đại trong sự so sánh với TPNL hiện đại” để thấy được sự vận động của thể văn
nghị luận có sự gắn liền với tiến trình phát triển của lịch sử dân tộc và tiến trình
phát triển của văn học. Hơn nữa chúng tôi thiết nghĩ rằng giảng dạy TPNL trung
đại trong sự so sánh với TPNL hiện đại sẽ là một hình thức và điều kiện cho học
sinh có cơ hội phát triển năng lực tư duy, nhìn nhận vấn đề tổng quát và có kĩ
năng so sánh, khái quát vấn đề được tốt hơn. Đây là kĩ năng cơ bản và cần thiết
của con người mới trong xã hội hiện nay.
2. Lịch sử vấn đề
+ Giảng dạy bài văn chính luận phải lưu ý đến đặc điểm của dạng nghị
luận "thể hiện trong bài văn".
+ Một số vấn đề cần lưu ý khi giảng văn chính luận cổ.
Đặc biệt từ khi tiến hành đổi mới chương trình SGK ở cấp THPT thì các
tài liệu hướng dẫn thực hiện chương trình SGK mới cũng rất chú trọng đến
vấn đề giảng dạy văn học theo đặc trưng loại thể. Có thể kể đến hai cuốn
“Thiết kế bài học Ngữ Văn 7, 8 theo hướng tích hợp” của TS Hoàng Hữu Bội.
Trong cuốn sách tác giả Hoàng Hữu Bội đã đưa ra các bước cụ thể để dẫn dắt
HS đến với một TPNL như sau:
- Bước 1: Tiếp xúc bước đầu với văn bản để có một cái nhìn tổng quát
về văn bản đó, về luận đề, hệ thống luận điểm và trình tự lập luận.
- Bước 2: Xem xét từng phần của văn bản về nội dung và hình thức.
- Bước 3: Khơi gợi HS trao đổi, bàn luận thêm về vấn đề được tác giả
nêu ra, giải quyết trong văn bản nghị luận mà các em có thể học tập được để
làm văn nghị luận.
Sách giáo khoa lớp 11 (bộ cơ bản) trong bài Một số thể loại văn học
kịch, nghị luận đã trình bày các bước đọc văn nghị luận như sau:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
4
- Tìm hiểu thân thế tác giả và hoàn cảnh ra đời của tác phẩm nghị luận. Từ
đó nhận ra vấn đề nghị luận xuất phát từ nhu cầu nào, có tầm quan trọng ra sao.
- Phải nắm bắt được mạch suy nghĩ, sự vận động của tư tưởng theo tiến
trình diễn giải, trình bày vấn đề. Chú ý tóm lược các luận điểm và xác định
mối quan hệ giữa chúng.
- Cảm nhận tâm tư, tình cảm như một mạch chìm trong dòng chảy của
TPNL.
- Phân tích nghệ thuật lập luận, cách nêu dẫn chứng, sử dụng ngôn ngữ,
tác dụng của các biện pháp đó với từng vấn đề được trình bày trong nội dung
TPNL trung đại và TPNL hiện đại.
- Hoạt động của thầy và trò với việc dạy học TPNL trung đại trong sự so
sánh với TPNL hiện đại.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi đề tài chúng tôi giới hạn nghiên cứu hoạt động của thầy
và trò với việc dạy và học TPNL trung đại trong sự so sánh với TPNL hiện
đại thông qua hai tác phẩm nghị luận tiêu biểu của hai thời đại là “Đại cáo
bình Ngô” của Nguyễn Trãi - sách Ngữ văn 10 (bộ chuẩn) và “Tuyên ngôn
Độc lập” của Hồ Chí Minh - sách Ngữ văn 12 (bộ chuẩn)
4. Mục đích nghiên cứu
4.1. Nhận diện những đặc điểm cơ bản của TPNL trung đại và TPNL hiện đại.
4.2. Trên cơ sở nhận diện những đặc điểm cơ bản của TPNL trung đại và
TPNL hiện đại, chúng tôi muốn tìm ra một phương thức hoạt động có hiệu
quả trong việc dạy học TPNL trung đại trong sự so sánh với TPNL hiện đại
nhằm giúp HS nhận thức sâu sắc về:
- Đặc trưng của thể loại nghị luận
- Sự kế thừa, phát huy, sự khác biệt trong tư duy nghị luận của từng thời đại.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Tìm hiểu vấn đề dạy học TPNL dưới góc nhìn lí luận.
5.2. Khảo sát thực tiễn việc dạy của giáo viên và khả năng cảm thụ của học
sinh đối với TPNL ở trường phổ thông hiện nay.
5.3. Đề xuất hướng dạy học TPNL trung đại trong sự so sánh với TPNL
hiện đại.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
6
5.4. Tiến hành thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng tính khả thi của đề tài.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu mà đề tài đặt ra, trong quá trình thực
2.4. Định hướng dạy học tác phẩm “Đại cáo bình Ngô” trong sự so sánh với
tác phẩm “Tuyên ngôn Độc lập" do luận văn đề xuất
Chƣơng 3. Thực nghiệm sƣ phạm
3.1. Thiết kế thể nghiệm dạy học tác phẩm “Đại cáo bình Ngô” trong sự so
sánh với tác phẩm “Tuyên ngôn Độc lập”.
3.2. Dạy thực nghiệm tác phẩm “Đại cáo bình Ngô” trong sự so sánh với tác
phẩm “Tuyên ngôn Độc lập”.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
8
PHẦN NỘI DUNG
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Đặc trưng cơ bản của văn nghị luận
Từ xa xưa văn nghị luận đã có một vị trí quan trọng trong đời sống xã
hội cũng như trong đời sống văn học. Trong thời kì xã hội phong kiến, văn
nghị luận đã có đóng góp lớn cho nền văn học dân tộc. Cùng với sự phát triển
của xã hội và thời đại, văn nghị luận ngày càng có được vị trí quan trọng
trong nền văn học nước nhà. Khác với các thể loại thơ, truyện, kịch, văn nghị
luận mang trong mình những đặc trưng riêng biệt. Để hiểu rõ những đặc trưng
cơ bản của văn nghị luận trước hết chúng ta điểm qua một số khái niệm về
văn nghị luận nói chung.
Trong cuốn “Từ điển Tiếng Việt” đã định nghĩa về văn nghị luận như
sau: “Nghị luận là bàn bạc và đánh giá cho rõ một vấn đề nào đó. Văn nghị
luận là thể văn dùng lí lẽ phân tích và giải quyết vấn đề” [39- tr.678]
Bên cạnh đó ta thấy nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn
là loại văn chương nghị sự, luận chứng, phân tích lí lẽ. Nó là tên gọi chung
của một thể loại văn vận dụng các hình thức tư duy lô gic như khái niệm,
phán đoán, suy lí và thông qua việc nêu sự thực, trình bày lí lẽ, phân biệt
đúng sai để tiến hành phân tích luận chứng khoa học đối với khách quan và
quy luật bản chất của sự vật, từ đó nhằm biểu đạt tư tưởng, chủ trương ý kiến,
quan điểm của tác giả"
Tác giả Bảo Quyến trong cuốn "Rèn kĩ năng làm văn nghị luận" cũng
viết về đặc trưng cơ bản của văn nghị luận như sau: "Khác với văn miêu tả,
kể chuyện nhằm tái hiện con người và cuộc sống bằng ngôn ngữ, chủ yếu
khơi gợi, tác động vào cảm xúc, tư tưởng của người đọc (người nghe), văn
nghị luận thiên về trình bày lí lẽ để giải thích, chứng minh, phân tích, bình
luận về một vấn đề nào đó nhằm tác động vào trí tuệ, lí trí của người đọc.
Nó là kết quả của tư duy lô gic. Do đó nó phải tuân thủ những quy tắc chặt
chẽ trong quá trình thực hiện. Tuy nhiên nó cũng không loại trừ hai loại
văn trên. Ngôn ngữ của văn nghị luận là ngôn ngữ mang phong cách nghị
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
10
luận. Nó chú trọng đặc biệt đến sự chính xác, chặt chẽ vì mục đích của
diễn đạt đến việc nhận thức chân lí. Tuy nhiên ngôn ngữ của văn nghị luận
cũng cần có sự hấp dẫn, lôi cuốn bằng các từ ngữ hình tượng có biểu cảm,
bằng cách diễn đạt linh hoạt chứ không chấp nhận sự khô khan, đơn điệu nhất
là khi đối tượng nghị luận là một vấn đề văn học, một tác phẩm văn học".
Trong số những tác giả quan tâm và bàn bạc về những đặc trưng cơ bản
văn nghị luận, tác giả Hoàng Hữu Bội phân tích và chỉ ra văn nghị luận có ba
đặc trưng cơ bản sau:
1. Văn nghị luận "là thể văn dùng lí lẽ phân tích, giải quyết vấn đề" (Từ
điển Tiếng Việt). Ở đây người viết trình bày những hiểu biết, suy nghĩ, quan
điểm, thái độ cách giải quyết của mình về vấn đề nào đó thuộc các lĩnh vực:
Luận là trình bày suy nghĩ, quan điểm về một vấn đề đã định, có thể là
vấn đề được nêu ra cho người viết như một câu hỏi cần giải đáp, làm sáng
tỏ. Luận là bàn về sự đúng sai, phải trái, khẳng định điều này, bác bỏ điều
khác để người ta nhận ra chân lí, đồng tình với mình, chia sẻ quan điểm và
niềm tin của mình. Sức mạnh của luận là ở tầm tư tưởng, trí tuệ của người
viết, ở tính chặt chẽ, mạch lạc của suy nghĩ và trình bày, ở sự thuyết phục của
lập luận.
Tác phẩm luận có đặc điểm riêng, thoả mãn nhu cầu của con người về
mặt nhận thức và thẩm mĩ. Nó hoàn toàn khác với thơ truyện và kí. Luận có
tính chất văn học có hai thể đáng chú ý là văn chính luận và phê bình văn
học." [16- tr.104]
Như vậy theo nhà lí luận Nguyễn Văn Hạnh, văn chính luận là thể
văn cơ bản của văn nghị luận nói chung. Văn chính luận mang trong mình
những đặc trưng cơ bản nhất, tiêu biểu nhất của văn nghị luận. Vì thế
cuốn "Từ điển thuật ngữ văn học" cũng chỉ ra rằng: "Văn chính luận là
thể văn nghị luận viết về những vấn đề thời sự nóng bỏng thuộc nhiều
lĩnh vực đời sống khác nhau: chính trị, triết học, kinh tế, văn hoá Mục
đích của văn chính luận là bàn bạc, thảo luận, phê phán hay truyền bá
một tư tưởng, một quan điểm nào đó, nhằm phục vụ trực tiếp cho lợi ích
của một tầng lớp, một giai cấp nhất định. Chính vì thế tác phẩm chính
luận bao giờ cũng thể hiện một khuynh hướng tư tưởng, lập trường công
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
12
dân rõ ràng, tình cảm sục sôi, luận chiến quyết liệt và tính khuynh hướng
công khai là những dấu hiệu quan trọng của phong cách chính luận. Đặc
trưng cơ bản của văn chính luận là tính chất luận thuyết. Khác với văn
nghệ thuật văn chính luận thuyết phục người đọc chủ yếu bằng lập luận,
lí lẽ. Văn chính luận đôi khi cũng tái hiện đời, miêu tả tính cách, số phận
biệt. Ở mỗi thời đại văn nghị luận lại có những đặc điểm riêng.
1.1.2.1. Đặc điểm của văn nghị luận trung đại
Chúng ta nhận thấy luận là trình bày một quan điểm, một tư tưởng, một
chủ trương nào đó về chính trị, triết học, đạo đức Như vậy, văn nghị luận
bao giờ cũng thể hiện một lập trường, tư tưởng cụ thể. Một tác phẩm nghị
luận muốn thuyết phục được người đọc, người nghe thì lập trường tư tưởng
thể hiện trong đó phải phù hợp với xu thế của thời đại và đương nhiên chịu
sự chi phối của tư tưởng thời đại.
Trong thời kì xã hội phong kiến, môi trường sản sinh ra văn học trung đại,
tư tưởng chính trị được nêu cao và xuyên suốt là tư tưởng trung quân. (Theo
quan điểm của Nho gia: trung quân là ái quốc). Đạo Nho - một đạo được du
nhập từ Trung Quốc có ảnh hưởng rất lớn đến Việt Nam và trở thành đạo chính
thống trong một thời gian dài, đã luôn giáo dục con người cần tôn trọng những
mối ràng buộc của xã hội trong đó có đạo quân - thần. Vua là đức chí tôn, con
trời (thiên tử) nên vua là người cai quản đất nước và ý vua là ý trời. Ngay từ thế
kỉ XI Lí Thường Kiệt trong bài thơ Nam quốc sơn hà, một tác phẩm xưa nay vẫn
coi là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của nước ta đã khẳng định:
"Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư"
(Sông núi nước Nam vua Nam ở
Rành rành định phận ở sách trời)
Mọi người trong đất nước, dưới quyền cai trị của vua phải tuân thủ tuyệt
đối theo lệnh vua. Vì thế tư tưởng trung quân đã ăn sâu, bám rễ vào tư tưởng
của con người thời đại. Trong khi đó văn học xưa nay vẫn phản ánh tâm tư
tình cảm của con người thời đại. Do chịu ảnh hưởng của tư tưởng thời đại,
văn học trung đại dù được thể hiện dưới hình thức nào (Thơ, truyện, kí hay
văn nghị luận ) cũng nhằm trình bày và thuyết phục người đọc hướng tới tư
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
15
thời kì này phát triển mau lẹ. Đội ngũ nhà văn đông đảo, được trang bị bởi
một hệ tư tưởng mới đã cho ra đời nhiều tác phẩm văn học mới, thể hiện tư
tưởng thời đại mới trong đó không loại trừ văn nghị luận. Một trong những
tác phẩm nghị luận ra đời trong giai đoạn lịch sử mới gây được tiếng vang lớn
và có giá trị sâu sắc hơn cả là "Tuyên ngôn Độc lập" của Hồ Chí Minh.
"Tuyên ngôn Độc lập"- tác phẩm được đánh giá là tác phẩm nghị luận mẫu
mực của mọi thời đại đã thể hiện rất rõ tư tưởng dân chủ, tư tưởng nhân dân
mà ở phần sau của luận văn chúng ta sẽ có dịp bàn đến rộng hơn
Nói một cách khái quát, nếu nghị luận trung đại tập trung phản ánh tư
tưởng trung quân - ái quốc thì nghị luận hiện đại lại tập trung phản ánh tư
tưởng dân chủ, tư tưởng nhân dân. Như Bác đã từng nói "yêu nước là yêu dân".
Tác phẩm nghị luận hiện đại cũng thể hiện khá rõ thi pháp hiện đại. Dẫn
chứng được đưa ra làm căn cứ, cơ sở cho lập luận thường là dẫn chứng cụ thể,
xác thực, rõ ràng tạo tiền đề cho những lập luận chặt chẽ, đanh thép, hùng hồn
Ngôn ngữ trong văn nghị luận hiện đại rất gần gũi, sử dụng nhiều từ toàn
dân. Vì vậy nhiều lớp từ chính trị trong văn nghị luận hiện đại đã thẩm thấu
vào trong ngôn ngữ hàng ngày của người dân Việt
Dù ở thời đại nào, TPNL muốn có giá trị hay không đều phụ thuộc vào
tầm tư tưởng, tầm trí tuệ của người viết. Một TPNL sâu sắc phải thể hiện rõ
một tư tưởng lớn, sự nhạy bén, sắc sảo về trí tuệ, sự mạch lạc và giàu tính
thuyết phục của lập luận. Đặc biệt tác phẩm ấy phải là kết tinh tất cả tài năng
và tâm hồn của người viết. Do vậy, đây cũng chính là điểm cơ bản làm nên
nét riêng của từng tác phẩm và phong cách riêng của từng tác giả viết văn
nghị luận.
Dựa vào ý kiến của các nhà nghiên cứu về đặc trưng của văn nghị luận,
chúng tôi đã mạnh dạn so sánh văn nghị luận trung đại và văn nghị luận hiện
- HS đọc phần Tiểu dẫn trong SGK
- GV hỏi: Nêu hoàn cảnh ra đời của tác phẩm?
- HS dựa vào SGK trả lời.
- GV chốt lại:
+ Mùa đông năm 1427 cuộc kháng chiến chống giặc Minh hoàn toàn
thắng lợi
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
17
+ Năm 1428, Lê Lợi lên ngôi hoàng đế lập ra triều Hậu Lê, sai Nguyễn
Trãi viết Bình Ngô đại cáo bố cáo cho toàn dân được biết nước Việt đã giành
được độc lập, non sông trở lại thái bình,
2. Nhan đề
- GV hỏi: Hiểu biết của em về nhan đề tác phẩm?
- HS trả lời
- GV gợi mở:
+ Chữ Hán: Bình Ngô đại cáo, dịch ra tiếng Việt là Đại cáo bình Ngô
+ Giải nghĩa: từ Đại cáo (bài cáo lớn), bình (dẹp yên), Ngô (giặc Minh)
=> Ý nghĩa nhan đề: Bài cáo lớn ban bố về việc dẹp yên giặc Ngô.
3. Thể loại cáo
- GV hỏi: Nêu khái niệm và đặc trưng cơ bản của thể cáo?
- HS quan sát SGK trả lời.
- GV chốt :
+ Khái niệm: Là thể văn nghị luận có từ thời cổ ở Trung Quốc, thường
được vua chúa hoặc thủ lĩnh dùng để trình bày một chủ trương, một sự
nghiệp, tuyên ngôn một sự kiện để mọi người cùng biết.
+ Đặc trưng: Viết bằng văn xuôi hay văn vần, phần nhiều là văn biền
ngẫu. Lời lẽ đanh thép, lí luận sắc bén, kết cấu chặt chẽ, mạch lạc.
II. Đọc - Hiểu văn bản