ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
PHẠM VIT ANH GIẢI PHP NÂNG CAO HIU QUẢ HOẠT ĐNG
ĐU TƢ TẠI TỔNG CÔNG TY BẢO HIỂM BẢO VIT
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60.43.01 LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
Nguời hƣớng dẫn khoa học: TS. Trần Minh Yến
THÁI NGUYÊN - 2012
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Đề tài “ Giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư tại Tổng
Công ty Bảo Hiểm Bảo Việt ” là đề tài nghiên cứu của riêng tôi. Được đưa ra trên
khoa học và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu, hoàn thành luận văn này.
Tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn đến lã nh đạ o và các đ ồng nghiệp tại Tổ ng
Công ty Bả o Hiể m Bả o Việ t đã giúp đ ỡ tôi thu thập thông tin, số liệu trong suốt
quá trình thực hiện nghiên cứu luận văn.
Xin chân thành cảm ơn tất các bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ
nhiệt tình và đóng góp nhiều ý kiến quý báu để tôi hoàn thành luận văn này.
Do thời gian nghiên cứu có hạn, luận văn của tôi chắc hẳn không thể tránh
khỏi
những sơ suất, thiếu sót, tôi rất mong nhận đuợc sự đóng góp của các thầy cô
giáo cùng toàn thể bạn đọc
.
Xin trân trọng cảm ơn!
H Nội, ngy 30 tháng 05 năm 2012
Tác giả Phạm Việt Anh
iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC BẢNG BIỂU vi
DANH MỤC SƠ ĐỒ vii
PHN MỞ ĐU 1
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài 1
2.2.4. Phương pháp lịch sử và phương pháp lôgíc 49
2.3. Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 53
CHƢƠNG 3 THỰC TRẠNG ĐU TƢ VÀ HIU QUẢ HOẠT ĐNG ĐU
TƢ TẠI TỔNG CÔNG TY BẢO HIỂM BẢO VIT 54
3.1. Tổng quan về hoạt động sản xuất kinh doanh của Bảo Hiểm Bảo Việt 54
3.1.1. Lịch sử ra đời hình thành và phát triển của Tổng công ty bảo hiểm Bảo Việt 54
3.1.2. Cơ cấu tổ chức và quản lý hoạt động kinh doanh của BHBV 56
3.1.3. Kết quả hoạt động kinh doanh của BHBV giai đoạn 2007 - 2011 59
3.2. Thực trạng hoạt động đầu tư tại Bảo Hiểm Bảo Việt 63
3.2.1. Công tác tổ chức hoạt động đầu tư tại BHBV 63
3.2.2. Nguồn vốn đầu tư của BHBV 71
3.2.3. Các lĩnh vực và hạn mức đầu tư 72
3.2.4. Kết quả hoạt động đầu tư của BHBV trong giai đoạn 2007 - 2011 73
3.3. Đánh giá thực trạng hiệu quả hoạt động đầu tư của BHBV 76
3.3.1. Những thành tựu đạt được 76
3.3.2. Những hạn chế 80
CHƢƠNG 4. GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NÂNG CAO HIU QUẢ HOẠT ĐNG
ĐU TƢ CỦA BẢO HIỂM BẢO VIT 85
4.1. Mục tiêu chiến lược phát triển của Bảo Việt và BH SBảo Việt đến năm 2015 . 85
4.2. Các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động đầu tư của Bảo Hiểm Bảo Việt 88
4.2.1. Hoàn thiện cơ cấu tổ chức hoạt động đầu tư 88
4.2.2. Xây dựng danh mục đầu tư hợp lý 88
4.2.3. Áp dụng công nghệ tiên tiến trong hoạt động kinh doanh, quản lý và đầu tư,
khai thác triệt để công nghệ quản lý hiện đại 90
4.2.4. Có các chính sách ưu đãi thu hút nhân tài 90
4.2.5. Tăng cường hoạt động giám sát, kiểm tra và phân tích hiệu quả hoạt động đầu tư 91
4.3. Một số kiến nghị đối với cơ quan quản lý nhà nước 94
4.3.1. Hoàn thiện môi trường pháp lý liên quan tới hoạt động bảo hiểm 94
4.3.2. Hoàn thiện môi trường pháp lý và chính sách quản lý vĩ mô đối với các hoạt
động phụ trợ khác 95
Tập Đoàn 68
Bảng 3.5: Bảng cơ cấu danh mục đầu tư của Bảo Hiểm Bảo Việt tại Công Ty Quản
Lý Quỹ 70
Bảng 3.6: Cơ cấu lợi nhuận BHBV giai đoạn 2007 - 2011 73
Bảng 3.7: Tỷ trọng lợi nhuận các hoạt động của BHBV 73
Bảng 3.8: Nguồn vốn đầu tư cổ phiếu năm 2011 của BHBV 75
Bảng 3.9: Kết quả đầu tư của BHBV giai đoạn 2007 - 2011 76
Bảng 3.10 Nguồn vốn đầu tư của BHBV giai đoạn 2007-2011 77
Bảng 3.11: Giá trị đầu tư thực tế trở lại nền kinh tế giai đoạn 2007 - 2011 78
Bảng 3.12: Hiệu quả đầu tư của BHBV giai đoạn 2007-2011 78
Bảng 3.13: Tỷ trọng lợi nhuận từng loại hình của BHBV 79
Bảng 3.14: Tỷ suất lợi nhuận tính theo kỳ hạn đầu tư của BHBV 79
Bảng 3.15: Tỷ suất lợi nhuận đầu tư tài sản của BHBV 81
Bảng 3.16: Một số chỉ tiêu về lợi nhuận tại doanh nghiệp Bảo Hiểm 82
Biểu đồ 3.1: Thị phần doanh thu bảo hiểm gốc của BHBV giai đoạn 2007-2011 62
Biểu đồ 3.2: Tài sản doanh thu và lợi nhuận của BHBV 2007-2011 74
Biểu đồ 3.3: Tài sản, doanh thu và vốn ĐT trở lại nền kinh tế BHBV 2007-2011 75
Biểu đồ 3.4: Vốn giành cho hoạt động đầu tư và vốn bổ sung cho hoạt động đầu tư
của BHBV 2007-2011 77
vii
DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 3.1: Mô hình tổ chức bộ máy của Tập đoàn Bảo Việt 57
Sơ đồ 3.2: Mô hình tổ chức bộ máy của BHBV 58
Sơ đồ 3.3: Bộ máy tổ chức của BVF 70
hiểm Bảo Việt
cho bài luận văn của mình.
2. Mục đích nghiên cứu
Khi tiến hành nghiên cứu đề tài trên, mục đích nghiên cứu của luận văn là:
+ Hệ thống hóa và làm rõ các vấn đề lý luận về hoạt động đầu tư và hiệu quả
hoạt động đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm.
2
+ Phân tích và đánh giá đúng thực trạng hoạt động đầu tư và hiệu quả hoạt
động đầu tư tại Tổng công ty bảo hiểm Bảo Việt.
+ Đề xuất các giải pháp phù hợp để phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt
động đầu tư tại Tổng công ty bảo hiểm Bảo Việt.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu hiệu quả hoạt động đầu tư tại
TCT Bảo Hiểm Bảo Việt.
* Phạm vi nghiên cứu:
+ Phạm vi về không gian: Nghiên cứu hoạt động đầu tư tại Tổng công ty
Bảo hiểm Bảo Việt.
+ Phạm vi về thời gian: Nghiên cứu chủ yếu giai đoạn 2007- 2011.
4. Những đóng góp mới của luận văn
- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận về hoạt động đầu tư và hiệu quả hoạt
động đầu tư trong doanh nghiệp bảo hiểm, làm rõ các đặc trưng về nguồn vốn, về
hạn mức và lĩnh vực đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm cũng như các yếu tố ảnh
hưởng tới hiệu quả hoạt động đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm.
- Đánh giá thực trạng hoạt động đầu tư và hiệu quả hoạt động đầu tư tại Tổng
công ty bảo hiểm Bảo Việt: các kết quả đã đạt được, các hạn chế và nguyên nhân.
- Trên cơ sở phân tích thực trạng, đề xuất giải pháp nhằm phát triển hoạt
động đầu tư và hiệu quả hoạt động đầu tư tại Tổng công ty bảo hiểm Bảo Việt trong
những năm tới.
nên một quỹ chung để từ đó thực hiện chi trả cho những trường hợp xảy ra rủi ro,
bất trắc đối với các thành viên tham gia.
Ban đầu Bảo hiểm ra đời một cách tự phát, một Nhóm người đứng ra thu phí
và nhận trách nhiệm thanh toán bồi thường cho những người tham gia bảo hiểm
trong trường hợp rủi ro, quy mô bảo hiểm nhỏ và cũng chỉ ở một số lĩnh vực hạn
hẹp. Cùng với quá trình phát triển, để đáp ứng các yêu cầu bảo hiểm ngày càng đa
dạng, với mức độ phức tạp ngày càng cao, đòi hỏi sự ra đời của các doanh nghiệp
bảo hiểm hoạt động chuyên nghiệp, trước hết dưới dạng các công ty cổ phần. Từ
chỗ là các tổ chức bảo hiểm nhỏ lẻ với sự tham gia của một số ít người nhận bảo
hiểm với hình thức cam kết thanh toán bồi thường, các nhà kinh doanh bảo hiểm
tiến tới kêu gọi mọi người góp vốn mua cổ phần của các doanh nghiệp bảo hiểm.
Khi đó, nguồn vốn huy động của các doanh nghiệp bảo hiểm lớn, khả năng đáp ứng
4
nhu cầu chi trả sẽ cao hơn, doanh nghiệp bảo hiểm cũng có điều kiện thực hiện các
hoạt động bảo hiểm một cách chuyên nghiệp hơn như thuê các chuyên gia để lựa
chọn các loại rủi ro có thể được bảo hiểm, thực hiện thống kê rủi ro và thiết lập biểu
phí bảo hiểm phù hợp.
Trên cơ sở thống kê rủi ro tổn thất đã xảy ra trong quá khứ cũng như trị giá
thiệt hại của chúng trong một thời gian dài và trên diện rộng, dựa trên quy luật số
lớn, các doanh nghiệp bảo hiểm sẽ xác định được tần suất của tổn thất và chi phí
trung bình trên một tổn thất, dự đoán những gì có tính quy luật có thể áp dụng trong
tương lai, từ đó xác định một biểu phí bảo hiểm hợp lý. Phí bảo hiểm phải đảm bảo
sự công bằng và phải phản ánh được mức độ nguy cơ rủi ro mà người được bảo
hiểm mang đến cho quỹ chung.
Một biểu phí bảo hiểm hợp lý và khả năng thanh toán bồi thường cao là điều
kiện quan trọng giúp các doanh nghiệp bảo hiểm thu hút thêm nhiều khách hàng
tham gia, và từ đó lại có tác động thúc đẩy trở lại làm tăng thêm quỹ bảo hiểm, mở
rộng phạm vi và lĩnh vực bảo hiểm, tạo khả năng giảm phí, tăng khả năng chi trả
cho khách hàng khi xảy ra rủi ro.
cấp đầy đủ, trung thực các thông tin liên quan đến hợp đồng bảo hiểm, thực hiện các
biện pháp đề phòng hạn chế tổn thất và thông báo kịp thời cho doanh nghiệp bảo
hiểm trong trường hợp xảy ra sự kiện bảo hiểm như trong hợp đồng.
Người được bảo hiểm có các quyền lợi tương ứng là được quyền yêu cầu
doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm hoặc bồi thường khi xảy ra sự kiện bảo
hiểm theo đúng quy định trong hợp đồng, quyền yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm
cung cấp các thông tin liên quan đến hợp đồng cũng như được quyền yêu cầu sửa
đổi, chấm dứt hợp đồng khi điều kiện bảo hiểm thay đổi.
Về phía mình, doanh nghiệp bảo hiểm có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ bồi
thường hoặc trả tiền bảo hiểm cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo
hiểm theo đúng mức trách nhiệm và thời hạn quy định. Doanh nghiệp bảo hiểm
cũng có nghĩa vụ giải thích cho bên mua bảo hiểm về các điều kiện, điều khoản bảo
hiểm, quyền và nghĩa vụ của bên mua bảo hiểm.
Đồng thời, doanh nghiệp bảo hiểm có quyền thu phí bảo hiểm theo như thoả
thuận trong hợp đồng, quyền yêu cầu bên mua bảo hiểm thực hiện các biện pháp đề
phòng hạn chế tổn thất theo quy định của pháp luật, yêu cầu bên mua bảo hiểm
6
cung cấp trung thực, đầy đủ các thông tin có liên quan đến việc giao kết và thực
hiện hợp đồng bảo hiểm. Doanh nghiệp bảo hiểm được quyền đơn phương chấm
dứt hợp đồng bảo hiểm trong trường hợp bên mua bảo hiểm không cung cấp thông
tin đầy đủ, trung thực, hoặc đóng phí không đúng hạn, không thực hiện nghiêm túc
các biện pháp đề phòng hạn chế tổn thất theo quy định. Doanh nghiệp bảo hiểm
cũng có quyền thay mặt người được bảo hiểm yêu cầu người thứ ba bồi hoàn số tiền
bảo hiểm mà doanh nghiệp đã bồi thường cho người được bảo hiểm do lỗi của
người thứ ba gây ra đối với tài sản và trách nhiệm dân sự.
Như vậy, qua hoạt động ký kết hợp đồng bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm
sẽ thu được một khoản phí bảo hiểm, là nguồn thu quan trọng nhất đối với doanh
nghiệp bảo hiểm, tạo nên quỹ bảo hiểm ngày càng lớn. Phí bảo hiểm thu được càng
lớn chứng tỏ doanh nghiệp bảo hiểm càng có uy tín, các hợp đồng bảo hiểm đa
Trong bảo hiểm phi nhân thọ lại chia thành các nghiệp vụ bảo hiểm cụ thể sau:
+ Bảo hiểm tài sản: là loại bảo hiểm có đối tượng bảo hiểm là các loại tài sản
của công ty, gia đình, tổ chức.
+ Bảo hiểm hàng hoá vận chuyển: là loại bảo hiểm có đối tượng bảo hiểm là
các loại hàng hoá trong quá trình vận chuyển.
+ Bảo hiểm nông nghiệp: thực hiện bảo hiểm cho những tổn thất do thiên tai,
tai nạn bất nhờ gây ra mất mùa, thiệt hại mùa màng hoặc súc vật chết.
+ Bảo hiểm trách nhiệm: bảo hiểm trách nhiệm bồi thường dân sự của người
được bảo hiểm như trách nhiệm dân sự chủ xe ô tô, xe gắn máy, chủ tàu, trách
nhiệm của người sử dụng lao động,
+ Bảo hiểm tai nạn con người: thực hiện bảo hiểm cho tính mạng và thân thể
con người trong những trường hợp gặp tai nạn bất ngờ.
+ Bảo hiểm bệnh tật, sức khoẻ: là loại hình bảo hiểm chi trả tiền bảo hiểm
khi người được bảo hiểm đi khám bệnh, nằm viện, phẫu thuật, tiền bảo hiểm thường
được tính theo chi phí thực tế hoặc theo tỷ lệ phẫu thuật.
Trong mỗi loại hình nghiệp vụ bảo hiểm trên, các doanh nghiệp bảo hiểm có
thể nghiên cứu, xây dựng nên những sản phẩm bảo hiểm khác nhau phục vụ nhu
cầu của khách hàng, từ đó tăng nguồn thu từ phí bảo hiểm cho doanh nghiệp.
b) Ký các hợp đồng tái bảo hiểm
Khi khai thác các nghiệp vụ bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải đảm bảo
8
nguyên tắc phân tán, phân chia rủi ro. Theo đó, doanh nghiệp bảo hiểm cần bảo
hiểm cho nhiều loại rủi ro đa dạng, nhiều đối tượng khác nhau và trên phạm vi rộng
lớn để phân tán rủi ro. Số người tham gia bảo hiểm càng nhiều, mức độ tổn thất
được phân tán càng rộng. Đồng thời để giảm bớt trách nhiệm bảo hiểm, doanh
nghiệp bảo hiểm cần sử dụng các kỹ thuật tái bảo hiểm để phân chia rủi ro giữa
nhiều doanh nghiệp bảo hiểm khác nhau, tránh tập trung rủi ro quá mức. Nếu không
khi xảy ra tổn thất lớn ngoài khả năng tài chính của mình, có thể dẫn tới tình trạng
không thể thực hiện được trách nhiệm bồi thường, gây thiệt hại cho quyền lợi của
điều kiện, Nhà nước quy định vốn pháp định tương đối lớn (theo TT 156/TT-BTC
ngày 20/12/2007 của Bộ Tài chính hướng dẫn vốn pháp định đối với doanh nghiệp
bảo hiểm Phi nhân thọ để hoạt động kinh doanh đầy đủ các loại hình bảo hiểm là
300 tỷ đồng), do vậy nguồn vốn đầu tư này rất quan trọng.
Qua việc thực hiện các nghiệp vụ bảo hiểm, tái bảo hiểm, đại lý, doanh
nghiệp bảo hiểm có được các khoản thu từ phí bảo hiểm gốc, phí nhận tái bảo hiểm,
hoa hồng nhượng tái bảo hiểm và phí đại lý.
Đặc thù của hoạt động kinh doanh bảo hiểm là quy trình ngược tức là phí bảo
hiểm thu trước còn trách nhiệm giao kết hợp đồng được thực hiện sau, do vậy doanh
nghiệp bảo hiểm có một nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi khá lớn có thể sử dụng để đầu
tư trong một khoảng thời gian nhất định từ lúc thu phí bảo hiểm đến lúc thực hiện
nghĩa vụ thanh toán với khách hàng. Đấy chính là điều kiện tiền đề cho doanh
nghiệp bảo hiểm thực hiện hoạt động đầu tư.
Một doanh nghiệp bảo hiểm có thể thực hiện đầu tư vào các lĩnh vực đa dạng
như trái phiếu, cổ phiếu, đầu tư bất động sản, cho vay, góp vốn liên doanh theo
quy định của pháp luật.
Giữa các hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm có mối quan hệ chặt chẽ với
nhau. Kinh doanh bảo hiểm gốc phát triển là cơ sở cho hoạt động kinh doanh tái bảo
hiểm. Ngược lại tái bảo hiểm sẽ đảm bảo an toàn, hiệu quả cho hoạt động kinh
doanh bảo hiểm gốc qua việc chuyển nhượng bớt một phần trách nhiệm đã nhận bảo
hiểm cho doanh nghiệp khác, đồng thời làm tăng năng lực chấp nhận dịch vụ bảo
hiểm gốc của doanh nghiệp bảo hiểm.
Hoạt động kinh doanh bảo hiểm, tái bảo hiểm, đại lý sẽ tạo các nguồn thu
quan trọng làm hình thành nên nguồn vốn nhàn rỗi để doanh nghiệp bảo hiểm đem
đi đầu tư. Đến lượt mình, hoạt động đầu tư sẽ lại có vai trò thúc đẩy ngược trở lại
đối với các hoạt động kinh doanh bảo hiểm, tái bảo hiểm thông qua sự tác động đến
10
hiệu quả kinh doanh, tạo khả năng giảm phí bảo hiểm, thu hút thêm khách hàng
cũng như nâng cao uy tín của doanh nghiệp.
của nhiều cá nhân nhằm bù đắp hậu quả thiệt hại do những sự kiện ngẫu nhiên tác
động đến con người hoặc tài sản. Đặc thù riêng của hoạt động kinh doanh bảo hiểm
là “sự đảo ngược của chu kỳ sản xuất kinh doanh”. Việc tiêu thụ sản phẩm dựa trên
quy trình: phí bảo hiểm (tiền bán sản phẩm bảo hiểm) được thu trước, còn cam kết
bồi thường, trả tiền bảo hiểm (giá trị sử dụng của sản phẩm) chỉ được thực hiện sau
khi mua một khoảng thời gian nhất định nào đó. Như vậy, từ phí bảo hiểm, các
DNBH có trong tay một quỹ tài chính rất lớn. Nhưng quỹ này sẽ không được sử
dụng để bồi thường, chi trả hết ngay nên DNBH có thể sử dụng lượng “tiền nhàn
rỗi” này để đầu tư lại nền kinh tế. Ngoài ra để đảm bảo quyền lợi cho khách hàng
tham gia bảo hiểm, các DNBH thường có vốn chủ sở hữu khá lớn để đáp ứng yêu
cầu về vốn pháp định cũng như về quỹ dự trữ bắt buộc và tự nguyện. Nhưng do là
ngành kinh doanh sản phẩm dịch vụ, các DNBH gần như không cần sử dụng hoặc
sử dụng nhưng rất ít vốn này để mua sắm “ nguyên vật liệu”, “ nhà xưởng” và các
chi phí đầu vào khác để tiến hành kinh doanh. Các DNBH hoàn toàn có thể sử dụng
phần vốn còn lại để đầu tư trở lại nền kinh tế. Việc sử dụng vốn nhàn rỗi đầu tư trở
lại nền kinh tế của các DNBH thường được thực hiện thông qua thị trường tài chính
như: đầu tư cổ phiếu, trái phiếu, gửi tiền ngân hàng.
Như vậy, bên cạnh hoạt động kinh doanh bảo hiểm gốc, hoạt động kinh
doanh của DNBH còn bao gồm cả hoạt động đầu tư. Theo quan điểm của tác giả
luận văn, hoạt động đầu tư của DNBH là hành động chi dùng vốn nhàn rỗi từ
vốn chủ sở hữu, từ các quỹ dự phòng nghiệp vụ và phí bảo hiểm thu được nhằm
mục đích thu lợi nhuận trong tương lai cho doanh nghiệp. Do vậy, công ty bảo
hiểm có thể sử dụng các nguồn vốn sau để đầu tư:
- Nguồn vốn nhàn rỗi từ dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm: đây là tổng dự phòng
nghiệp vụ bảo hiểm trừ đi các khoản tiền mà Công ty bảo hiểm dùng để bồi thường
bảo hiểm thường xuyên trong kỳ. Dự phòng nghiệp vụ là khoản dự trữ liên quan
đến từng nghiệp vụ bảo hiểm, được trích lập và hạch toán vào chi phí kinh doanh
nhằm mục đích thanh toán các trách nhiệm đã được xác định trước và phát sinh từ
hợp đồng bảo hiểm đã được ký kết.
- Vốn chủ sở hữu: Vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp bảo hiểm bao gồm vốn
1.2.2.2. Vai trò của hoạt động đầu tư trong doanh nghiệp bảo hiểm
Về bản chất, hoạt động bảo hiểm có tính chất hoàn trả (thanh toán tiền bồi
13
thường hoặc trả tiền bảo hiểm cho khách hàng). Đặc điểm hoạt động kinh doanh
bảo hiểm tạo cho doanh nghiệp bảo hiểm một nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi từ lúc
thu phí bảo hiểm đến khi thực hiện nghĩa vụ thanh toán với khách hàng. Doanh
nghiệp bảo hiểm có thể sử dụng nguồn vốn đó đầu tư kiếm lời.
Có thể nói, đầu tư là hoạt động có tầm quan trọng đặc biệt đối với sự tồn tại
và phát triển của doanh nghiệp bảo hiểm.
- Thu nhập từ hoạt động đầu tư là một nguồn quan trọng tạo lợi nhuận cho
doanh nghiệp bảo hiểm. Hoạt động đầu tư ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng cạnh
tranh của doanh nghiệp bảo hiểm.
Bên cạnh chính sách dịch vụ (thường là mối quan tâm hàng đầu ở các khách
hàng truyền thống) thì chính sách phí lại đóng vai trò quan trọng trong việc thu hút
các khách hàng mới. Một trong những điều kiện quan trọng để có khả năng thực
hiện giảm phí để thu hút khách hàng là doanh nghiệp phải có những biện pháp đầu
tư hợp lý để tăng cường hiệu quả sử dụng vốn.
- Thông qua hoạt động đầu tư, doanh nghiệp bảo hiểm cũng có thể xây dựng,
thắt chặt thêm các mối quan hệ với các khách hàng, từ đó, góp phần mở rộng quy
mô hoạt động của doanh nghiệp. Ví dụ như qua việc cho một tổ chức nào đó vay
tiền, hoặc góp vốn vào một doanh nghiệp, doanh nghiệp bảo hiểm sẽ có thể thực
hiện khai thác bảo hiểm tại các doanh nghiệp, tổ chức đó. Qua đó lại làm tăng quy
mô phí bảo hiểm cũng như quy mô nguồn vốn có thể đầu tư.
- Hoạt động đầu tư cũng giúp các doanh nghiệp bù đắp sự mất giá của đồng
tiền, bảo toàn quỹ tài chính bảo hiểm trước rủi ro lạm phát.
1.2.2.3. Loại hình đầu tư chủ yếu trong doanh nghiệp bảo hiểm
Tại các Công ty bảo hiểm, hoạt động chính là kinh doanh bảo hiểm. Song
trên thực tế, hoạt động đầu tư mới là hoạt động đem lại lợi nhuận chủ yếu của công
ty. Do vậy, mối quan tâm hàng đầu của các các Công ty bảo hiểm là hoạt động đầu
Đây là hình thức đầu tư đơn giản, có mức độ an toàn vốn cao. Tính thanh
khoản của các khoản đầu tư này lớn. Đây là hình thức đầu tư chủ yếu ở các Công ty
bảo hiểm nơi chưa có thị trường vốn phát triển như Việt Nam. Hình thức đầu tư này
chịu tác động lớn của lạm phát, lãi suất và là hình thức đầu tư có tỷ suất sinh lời
thấp hơn các loại hình đầu tư khác. Doanh nghiệp bảo hiểm có thể mở các tài khoản
thanh toán không kỳ hạn và các tài khoản tiền gửi có kỳ hạn ở các tổ chức tín dụng
15
để hưởng lãi suất theo như thoả thuận. Ngoài ra, các ngân hàng thương mại thường
chỉ thực hiện huy động vốn bằng tiền gửi với thời hạn ngắn (thường không quá 12
tháng) nên không phù hợp với tính chất dài hạn của nguồn vốn bảo hiểm nhân thọ.
b. Đầu tư chứng khoán
Là hình thức đầu tư thông qua việc mua và nắm giữ các loại trái phiếu, cổ
phiếu của các doanh nghiệp nhằm mục đích hưởng lãi từ việc tăng giá chứng khoán
hoặc cổ tức. Đầu tư trái phiếu có tính an toàn cao và lãi suất ổn định. Lãi từ đầu tư
cổ phiếu cao hơn nhưng đi kèm với các rủi ro có thể gặp phải trong đầu tư. Chứng
khoán mà doanh nghiệp bảo hiểm thực hiện đầu tư thường bao gồm trái phiếu
Chính phủ, cổ phiếu các loại, trái phiếu doanh nghiệp, chứng chỉ quỹ đầu tư.
Trái phiếu: là chứng chỉ nhận nợ do người đi vay phát hành cam kết thanh
toán theo kỳ hạn nhất định cho người nắm giữ trái phiếu một khoản lãi nhất định.
Các doanh nghiệp hoặc các Chính phủ phát hành trái phiếu như một phương pháp
huy động vốn. Ví dụ các chính quyền địa phương thường phát hành trái phiếu để tài
trợ cho các dự án lớn như xây dựng trường học hoặc hệ thống giao thông công cộng.
Trái phiếu được coi là công cụ đầu tư dài hạn tạo ra nguồn thu nhập ổn định
cho doanh nghiệp bảo hiểm thông qua việc được hưởng tiền lãi định kỳ và nhận lại
số tiền gốc theo mệnh giá vào lúc đáo hạn. Đầu tư vào trái phiếu Chính phủ có mức
độ rủi ro thấp và tạo ra độ chắc chắn cao hơn về tỷ suất lợi nhuận. Những công cụ
đầu tư tạo ra nguồn thu nhập ổn định giống như trái phiếu với thời hạn và dòng tiền
phù hợp với các trách nhiệm bảo hiểm trong tương lai rất phù hợp với mục tiêu của
doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ trong việc đạt được mức lợi nhuận giả định được
các phân đoạn thị trường trái phiếu làm tăng hoặc giảm giá trị.
Mặc dù vậy, các doanh nghiệp bảo hiểm vẫn phải đối mặt với rủi ro khi thực
hiện đầu tư vào trái phiếu. Đó là:
- Giá trái phiếu thường biến động và chịu tác động rất lớn của lãi suất trên thị
trường. Do tỷ lệ lãi vay đã được ấn định trước còn lãi suất lại thường xuyên thay đổi
nên sẽ ảnh hưởng đến giá trái phiếu. Trong trường hợp doanh nghiệp đầu tư trái
phiếu bằng nguồn vốn ngắn hạn thì khi lãi suất tăng sẽ làm giá trái phiếu giảm, khi
đó nhà đầu tư khó có thể thu hồi được vốn và thu được lợi nhuận trong thời gian
ngắn. Rủi ro này thường có ảnh hưởng lớn đến các loại trái phiếu có kỳ hạn dài.
- Rủi ro vì nợ, còn được gọi là rủi ro tín dụng, là rủi ro mà nhà phát hành trái
17
phiếu không có khả năng thanh toán các khoản gốc và lãi đúng kỳ hạn khi họ gặp
khó khăn về tài chính.
- Trái phiếu không có khả năng chống lại tác động của lạm phát. Khi lạm
phát tăng cao có thể làm cho thu nhập thực nhận từ trái phiếu sau khi điều chỉnh bởi
lạm phát là âm.
- Ngoài ra, thu nhập từ trái phiếu vẫn phải chịu thuế thu nhập.
Cổ phiếu: Cổ phiếu được thể hiện dưới dạng hình thức chứng chỉ, bót toán
ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu
đối với một phần vốn của tổ chức phát hành.
- Khi đầu tư cổ phiếu, nhà đầu tư kỳ vọng đến hai khoản thu nhập chính đó là cổ
tức và thu nhập từ chênh lệch giá. Khả năng chuyển nhượng của cổ phiếu cho phép nhà
đầu tư có thể bán một phần hoặc toàn bộ số cổ phần mình sở hữu khi cần thiết để đáp
ứng nhu cầu về vốn tại một thời điểm nhất định. Thu nhập từ cổ phiếu không bị đánh
thuế thu nhập vì cổ tức được chia từ phần lợi nhuận sau thuế của Công ty cổ phần.
- Những đặc tính của dòng tiền tạo ra từ việc đầu tư vào cổ phiếu phổ thông
có mức biến động cao hơn nhiều và do vậy có nhiều rủi ro hơn so với các đặc tính
của dòng tiền tạo ra từ việc đầu tư vào trái phiếu. Đặc tính của dòng tiền của cổ
phiếu phổ thông được quyết định bởi việc chi trả cổ tức hàng năm (thường không