Bảo Hiểm Nhóm 1
BÀI TIỂU LUẬN MÔN HỌC BẢO HIỂM
“ NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG
ĐẦU TƯ CỦA CÁC CÔNG TY BẢO HIỂM
VIỆT NAM ”
---o0o---
CHƯƠNG 1
GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ BẢO HIỂM VIỆT
NAM
1.1. THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM.
1.1.1. Những khó khăn của thị trường bảo hiểm Việt Nam.
Theo các chuyên gia tài chính, do năng lực tài chính yếu kém (chưa kể sự
hạn chế về chuyên môn và kinh nghiệm của một bộ phận nhân sự ở các DNBH)
nên phần lớn DNBH Việt Nam còn lệ thuộc quá nhiều vào hoạt động tái BH.
Điều đó thể hiện rất rõ trong nhiều khâu như đánh giá và quản lý rủi ro, tính phí
BH, thiết kế sản phẩm, tổ chức kênh phân phối, giám định và bồi thường tổn
thất...
Không những vậy, giữa các DNBH, hiện tượng cạnh tranh không lành
mạnh đã và đang diễn ra khá phổ biến, dưới nhiều hình thức khác nhau như:
giảm phí BH tới mức không được phép, mở rộng điều khoản BH không đúng
quy tắc và trả hoa hồng trực tiếp cho khách hàng, dùng áp lực để lôi kéo và ép
khách hàng tham gia BH.
Về phía khách hàng, hiện tượng trục lợi BH đang ngày càng tăng, phổ
biến là các trường hợp khai báo sai sự thật, giả mạo hồ sơ, giấy tờ, thậm chí tự
gây thương tích để đòi tiền BH.
Khi những nhược điểm trên chưa được khắc phục thì ngành BH lại tiếp
tục lao đao do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu hiện nay. Thực
trạng giảm sút đáng kể các hoạt động xuất khẩu của nước ta (nhất là vào các thị
Trang 1
Bảo Hiểm Nhóm 1
trường Mỹ, Nhật Bản và EU) đã khiến doanh thu phí BH của nghiệp vụ BH hàng
Trang 2
Bảo Hiểm Nhóm 1
Hiệp hội BH Việt Nam cũng phải chủ động nắm bắt thông tin liên quan,
đưa ra những khuyến cáo kịp thời đối với các DNBH và cơ quan quản lý Nhà
nước để hoạt động BH phát triển lành mạnh hơn.
Công ty Korea Life Việt Nam vừa triển khai dịch vụ “Nhắn tin liền. Bảo
hiểm ngay!” và trở thành công ty bảo hiểm nhân thọ đầu tiên tại Việt Nam ứng
dụng tiện ích nhắn tin qua điện thoại di động.
Với dịch vụ này, ngay sau khi nhận được hồ sơ yêu cầu bảo hiểm và
khoản phí bảo hiểm đầu tiên từ khách hàng, đại lý bảo hiểm sẽ gửi tin nhắn về
tổng đài dịch vụ của công ty. Toàn bộ chi tiết tin nhắn, thời gian gửi tin và người
gửi sẽ được dùng làm căn cứ để xác định thời điểm hiệu lực của bảo hiểm tạm
thời nên sẽ đảm bảo tính khách quan trong việc bồi thường.(Ng.Quang).
1.2. BẢO HIỂM VIỆT NAM CÓ NHIỀU TIỀM NĂNG CẦN KHAI
THÁC.
Năm 2006, thị trường bảo hiểm Việt Nam đã có bước phát triển khá hơn
so với năm 2005. Số lượng công ty bảo hiểm tăng lên 37 doanh nghiệp bao gồm
cả doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Doanh
thu phí bảo hiểm của toàn thị trường đạt 1,82% GDP, tăng trưởng 14% so với
năm 2005. Đây là dấu hiệu tốt, cho thấy thị trường bảo hiểm Việt Nam sẽ tiếp
tục phát triển trong thời gian tới.
Về giải pháp phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam: đối với cơ quan
quản lý nhà nước về bảo hiểm là Bộ Tài chính, Vụ Bảo hiểm, cần phải tiếp tục
hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật. Chính sách về bảo hiểm phải rõ
ràng, minh bạch, đảm bảo bình đẳng giữa các thành phần kinh tế. Ngoài ra, giữa
cơ quan quản lý nhà nước và doanh nghiệp phải thiết lập được mối quan hệ chặt
chẽ để cùng nhau nắm bắt thông tin. Đồng thời, tăng cường công tác giám sát,
cưỡng chế của cơ quan quản lý đối với hoạt động bảo hiểm. Cần phối hợp với
Hiệp hội Bảo hiểm thực thi những quy tắc đạo đức nghề nghiệp, đào tạo nguồn
nhân lực.
cung trên thị trường bảo hiểm, doanh nghiệp cần có thêm những sản phẩm mới.
Cơ quan quản lý sẽ không can thiệp sâu vào việc quản lý các sản phẩm của
doanh nghiệp, mà sẽ có cơ chế cho doanh nghiệp đăng ký sản phẩm. Còn chất
lượng sản phẩm thế nào thì phụ thuộc vào chính doanh nghiệp. Về cầu thì phụ
thuộc vào sự phát triển của nền kinh tế, thu nhập của người dân, nhận thức của
người dân.
Trang 4
Bảo Hiểm Nhóm 1
Để phát triển thị trường bảo hiểm, vấn đề cốt lõi là thể chế phải rõ ràng,
không chỉ ở văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến kinh doanh bảo hiểm mà
còn ở các văn bản liên quan, sự ứng xử của cơ quan quản lý nhà nước. Chính
phủ đã ban hành Nghị định 45 và 46 liên quan đến vấn đề này, sắp tới Bộ Tài
chính sẽ tiếp tục ban hành các thông tư hướng dẫn.
1.3. NGÀNH BẢO HIỂM VIỆT NAM.
1.3.1. Trên con đường phát triển.
Kể từ năm 1993, thời điểm Việt Nam bắt đầu mở cửa thị trường bảo hiểm
cho đến hết năm 2006, ngành bảo hiểm Việt Nam đã có một bước tiến rất dài.
Từ chỗ chỉ có duy nhất Bảo Việt, đến nay, trên thị trường Việt Nam đã có
hơn 30 doanh nghiệp bảo hiểm đang hoạt động ở tất cả các lĩnh vực bao gồm
bảo hiểm phi nhân thọ, bảo hiểm nhân thọ, tái bảo hiểm và môi giới bảo hiểm.
Đây là một sự phát triển vượt bậc.
Tuy nhiên, với chính sách mở cửa khác nhau nên thị trường bảo hiểm
Việt Nam được phân chia khá chênh lệch. Ở lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ, do
Việt Nam chưa mở cửa nên các doanh nghiệp bảo hiểm trong nước chiếm đến
95% thị phần, trong khi các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài chiếm đến
62,5% thị phần bảo hiểm nhân thọ.
Với hơn 800 sản phẩm các loại, nguồn thu chủ yếu của ngành là từ phí
bảo hiểm. Mức tăng trưởng doanh thu phí bảo hiểm của ngành từ 1993 đến 2004
là 38%/năm. Đóng góp của doanh thu phí bảo hiểm vào GDP cũng có tăng
trưởng đáng kể. Từ 0,37% năm 1993 tăng lên 2,13% vào cuối năm 2006. Tổng
mới tăng sự lựa chọn cho khách hàng và tăng doanh thu bảo hiểm toàn thị
trường. Thị trường bảo hiểm Việt Nam hiện có 30 doanh nghiệp bảo hiểm và
tám doanh nghiệp môi giới bảo hiểm hoạt động tạo ra ba phân đoạn thị trường:
Bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm phi nhân thọ và môi giới bảo hiểm, vừa hợp
tác vừa cạnh tranh gay gắt với nhau để phát triển.
Số lượng sản phẩm bảo hiểm ngày càng tăng, có hơn 700 sản phẩm bảo
hiểm phi nhân thọ, hơn 100 sản phẩm bảo hiểm nhân thọ để khách hàng lựa
chọn, phát triển nhanh kênh phân phối sản phẩm (tám công ty môi giới, 100
nghìn đại lý bảo hiểm nhân thọ, 50 nghìn đại lý bảo hiểm phi nhân thọ) tuyên
truyền giới thiệu doanh nghiệp bảo hiểm và sản phẩm bảo hiểm, đưa sản phẩm
bảo hiểm đến tận tay người tiêu dùng.
Trang 6
Bảo Hiểm Nhóm 1
Năng lực tài chính của các doanh nghiệp bảo hiểm được nâng lên rõ rệt:
90% số doanh nghiệp bảo hiểm có vốn chủ sở hữu cao gấp nhiều lần vốn pháp
định. Các quỹ dự phòng nghiệp vụ, tổng tài sản và đầu tư vào nền kinh tế tăng
nhanh, luôn bảo đảm khả năng thanh toán của các doanh nghiệp bảo hiểm.
Tạo ra được một số sản phẩm bảo hiểm bắt buộc như bảo hiểm bắt buộc
trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới, bảo hiểm bắt buộc người kinh doanh vận
tải thủy nội địa, bảo hiểm bắt buộc cháy nổ, bảo hiểm bắt buộc người Việt Nam
du lịch lữ hành quốc tế, bảo hiểm bắt buộc xây dựng lắp đặt, bảo hiểm bắt buộc
người sử dụng lao động trong hợp đồng xây dựng, bảo hiểm bắt buộc một số
ngành nghề đặc thù... của ngành bảo hiểm.
Theo cam kết mở cửa thị trường bảo hiểm Việt Nam, doanh nghiệp bảo
hiểm của nước ngoài được phép cung cấp vào Việt Nam các dịch vụ bảo hiểm
cho doanh nghiệp bảo hiểm có vốn nước ngoài và người nước ngoài tại Việt
Nam. Ngoài ra, họ còn được cung cấp dịch vụ tái bảo hiểm, vận tải quốc tế, môi
giới bảo hiểm, tư vấn, tính toán, đánh giá rủi ro và giải quyết bồi thường cho thị
trường bảo hiểm Việt Nam. Doanh nghiệp bảo hiểm 100% vốn nước ngoài
không được kinh doanh các dịch vụ bảo hiểm bắt buộc cho đến ngày 1-1-2008,
hiểm cùng với tinh giảm biên chế cán bộ bảo hiểm khai thác trực tiếp. Ðào tạo
phát triển nguồn nhân lực, có chế độ chính sách hợp lý để giữ được đội ngũ cán
bộ bảo hiểm chuyên nghiệp. Tạo ra nhiều dịch vụ gia tăng ngoài việc được bảo
hiểm như được khám, chữa bệnh tại cơ sở y tế và bác sĩ nổi tiếng theo giá ưu
đãi, được sửa chữa xe (không thuộc trách nhiệm bồi thường của bảo hiểm) tại cơ
sở uy tín và được giảm giá...
Làm được như vậy, doanh nghiệp bảo hiểm đang hoạt động tại Việt Nam
sẽ chứng minh rằng, việc mua bảo hiểm của các doanh nghiệp bảo hiểm tại Việt
Nam sẽ được phục vụ tốt hơn, bảo đảm quyền lợi tốt hơn so với mua bảo hiểm
của hãng bảo hiểm không có mặt tại Việt Nam. Ðiều này sẽ hướng sự lựa chọn
của khách hàng tới các doanh nghiệp bảo hiểm đang hoạt động tại Việt Nam.
1.3.2. Hoạt động đầu tư còn nhiều hạn chế.
Đến cuối năm 2006, tổng đầu tư của các doanh nghiệp bảo hiểm trở lại
nền kinh tế là 34.400 tỉ đồng, chiếm 4,07% GDP và cũng có tốc độ tăng đáng kể
nếu so với năm 2001, con số này chỉ là 1,06% GDP.
Trang 8
Bảo Hiểm Nhóm 1
Đầu tư chủ yếu của các doanh nghiệp bảo hiểm là trái phiếu chính phủ,
tiền gửi ngân hàng. Phần còn lại là góp vốn liên doanh, đầu tư chứng khoán và
đầu tư trực tiếp vào các cơ sở hạ tầng, phát triển sản xuất kinh doanh và phục vụ
đời sống.
Tổ chức hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp bảo hiểm chưa thể hiện
tính chuyên nghiệp. Hiện nay, mới chỉ có 3 doanh nghiệp bảo hiểm thành lập
công ty quản lý quỹ và 2 doanh nghiệp bảo hiểm được niêm yết trên thị trường
chứng khoán. Điều này làm giảm khả năng huy động vốn của các doanh nghiệp
bảo hiểm.
Các doanh nghiệp bảo hiểm hiện vẫn chưa thể cho vay vốn trực tiếp hoặc
mạnh dạn đầu tư vào các lĩnh vực bất động sản, cổ phiếu vì thiếu vắng các quy
định cụ thể từ các cơ quan chức năng. Do vậy, hiệu quả đầu tư của các doanh
nghiệp bảo hiểm vẫn chưa cao.
những vấn đề liên quan tới doanh nghiệp nước ngoài như: báo cáo kế toán,
thưởng thu phí, thưởng không khiếu nại hay giảm phí cho những đối tượng
nhiều năm tham gia bảo hiểm…
Ở nước ngoài khi bảo hiểm vài năm mà không có tổn thất thì người ta
thường nghĩ tới thưởng cho những doanh nghiệp này, vì họ tạo ra lợi ích, nên họ
được phép thưởng. Còn ở Việt Nam hiện nay, theo Thông tư số 155
Thách thức lớn nhất hiện nay chính là công nghệ thông tin. Bởi để phát
triển mạnh lĩnh vực bảo hiểm, chúng ta cần phải có một hệ thống công nghệ
thông tin hoàn chỉnh phục vụ cho quá trình khai thác và quản lý nội địa.
Nếu có hệ thống công nghệ thông tin hiện đại và hoàn chỉnh, nó sẽ hỗ trợ
được rất nhiều cho các DN về mặt thời gian, độ chính xác trong việc tra cứu
khách hàng, đối tượng bảo hiểm hay công tác hạch toán kế toán, đặc biệt là khâu
bồi thường: các DN không phải đối chiếu, tìm giấy chứng nhận bảo hiểm, giấy
thông báo tai nạn, giấy đăng kiểm... gì cả, mà chỉ cần bật máy ra là có hết. Còn
nếu làm thủ công thì mất hàng giờ để soi từng chữ, trong khi máy tính chỉ mất 2-
3 phút. Do đó, công nghệ thông tin vẫn là thách thức lớn nhất đối với hoạt động
dịch vụ bảo hiểm hiện nay.
1.4.2. Môi trường kinh doanh Bảo hiểm Việt Nam hiện nay.
Có thể nói, môi trường kinh doanh bảo hiểm ở Việt Nam có tiềm năng rất
lớn và rất nhiều khoản chưa khai thác được, như: toàn bộ thị trường nông
nghiệp, nông thôn, thị trường tư nhân… nhà ở và tài sản cá nhân cũng chưa
Trang 10
Bảo Hiểm Nhóm 1
được khai thác hết. Đặc biệt là, toàn bộ công trình của các tổ chức, cơ quan
chính quyền địa phương hoạt động bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước đều
chưa được khai thác vì chưa có ngân sách cấp để tham gia bảo hiểm, nên khi xảy
ra tổn thất vẫn phải sử dụng ngân sách để giải quyết những thiệt hại. Ngoài ra,
hàng năm chúng ta thu hút một lượng vốn lớn từ ODA, FDI và vốn đầu tư toàn
xã hội… Như vậy, đầu tư càng phát triển thì nhu cầu bảo hiểm càng cao.
Tuy tiềm năng lớn nhưng cạnh tranh cũng rất gay gắt. Trên thực tế, không