ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGUYỄN MẠNH HIẾU MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM
PHÁT TRIỂN DU LỊCH TÀU BIỂN Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 603401
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS Trần Minh Yến
THÁI NGUYÊN - 2012
i
Nguyễn Mạnh Hiếu
iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ viii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Tình hình nghiên cứu đề tài 2
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
5. Những đóng góp mới của luận văn 4
6. Bố cục của luận văn 4
Chƣơng 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN PHÁT TRIỂN DU LỊCH
TÀU BIỂN 5
1.1. Một số khái niệm về chung về du lịch và du lịch tàu biển 5
1.1.1. Khái niệm về du lịch 5
1.1.2. Khái niệm về du lịch tàu biển 7
1.1.3. Các yếu tố tác động tới sự phát triển của du lịch tàu biển 7
1.2. Kinh nghiệm phát triển du lịch tàu biển ở một số quốc gia và bài học kinh
nghiệm cho Việt Nam 9
1.2.1. Kinh nghiệm của Thái Lan 9
3.3.4. Thị trường nguồn của du lịch tàu biển 43
3.4. Thực trạng phát triển du lịch tàu biển ở Việt Nam 43
3.4.1. Số lượng khách du lịch tàu biển đến Việt Nam 43
3.4.2. Đặc điểm của hoạt động du lịch tàu biển tại Việt Nam 45
3.4.3. Phân tích tình hình du lịch tàu biển của Việt Nam dựa trên các nguyên
lý Marketing du lịch 47
3.4.4. Đánh giá những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của du lịch
tàu biển Việt Nam 55
Chƣơng 4. CÁC GIẢI PHÁP VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH TÀU BIỂN 60
4.1. Quan điểm - Phương hướng - Mục tiêu 60
4.1.1. Quan điểm phát triển 60
4.1.2. Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020 61
v
4.1.3. Mục tiêu phát triển du lịch tàu biển ở Việt Nam đến năm 2020 62
4.2. Các giải pháp để phát triển du lịch tàu biển ở Việt Nam 65
4.2.1. Giải pháp về thị trường 65
4.2.2. Giải pháp phát triển sản phẩm 72
4.2.3. Giải pháp liên quan đến giá 77
4.2.4 Giải pháp phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 78
4.2.5. Giải pháp đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng 79
4.2.6. Giải pháp về thể chế và chính sách 81
4.2.7. Giải pháp đẩy mạnh hợp tác quốc tế, chủ động hội nhập toàn cầu 83
4.3. Một số khuyến nghị 84
4.3.1. Đối với Chính phủ 84
4.3.2. Đối với Bộ Văn Hóa, Thể thao và Du lịch 86
4.3.3. Tăng cường phối hợp giữa các Bộ, Ngành, chính quyền địa phương đơn
giản hoá các thủ tục để tạo thuận lợi cho du lịch phát triển 87
LHQT
Lữ hành quốc tế
MICE
Du lịch khen thưởng, hội nghị, hội thảo, triển lãm
NLCT
Năng lực cạnh tranh
PATA
Hiệp hội lữ hành Châu Á Thái Bình Dương
PRESS TRIP
Tour làm quen dành cho báo chí
TCDL
Tổng Cục Du lịch
TNHH
Trách nhiệm hữu hạn
SCC
Trung tâm phục vụ tàu Biển Singapore
SWOT
Phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức
UNWTO
Tổ chức Du lịch thế giới
WTO
Tổ chức thương mại thế giới
WEF
Diễn đàn Kinh tế thế giới
WTTC
Hội đồng du lịch và lữ hành thế giới
XNC
Xuất nhập cảnh
Du lịch đang trở thành một ngành kinh tế quan trọng của nhiều nước
trên thế giới. Trong những năm gần đây, du lịch Việt Nam đã có những sự
phát triển vượt bậc cả về số lượng và chất lượng. Trong sự phát triển chung
của du lịch thì du lịch tàu biển là một trong những hình thức đang nổi lên như
một hiện tượng bởi sự vượt trội về quy mô nguồn khách cũng như chất lượng
phục vụ
Theo đánh giá của các tổ chức du lịch quốc tế, Việt Nam, hiện đang
được đánh giá là điểm đến an toàn nhất trong khu vực và là đất nước có nhiều
tiềm năng về du lịch. Việt Nam có vùng biển rộng trên 1 triệu km
2
lớn gấp 3
lần diện tích đất liền; nằm trong số 10 nước trên thế giới có chỉ số cao nhất về
chiều dài bờ biển với 3.260 km trên cả 3 hướng Đông, Nam và Tây Nam,
trung bình khoảng 100 km
2
đất liền có 1 km bờ biển (cao gấp 6 lần của thế
giới); với trên 30 cảng biển, 114 cửa sông, 47 vũng, vịnh và khoảng 3.000 đảo
lớn, nhỏ. Trên vùng biển nước ta có 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, có
khoảng 20 kiểu loại hệ sinh thái điển hình và trên 100 điểm khoáng sản đã
được phát hiện
Điều này tạo nên nét đặc trưng về cảnh quan thiên nhiên và
nguồn tài nguyên phong phú, đa dạng với trữ lượng và quy mô thuộc loại khá
lớn, cho phép phát triển nhiều lĩnh vực kinh tế biển quan trọng như: cảng
biển, thuỷ sản, dầu khí, khai khoáng và đặc biệt trong đó có lĩnh vực du lịch.
Việt Nam còn có hàng nghìn hòn đảo trong đó có nhiều hòn đảo nổi tiếng như
Cát Bà, Cù Lao Chàm, Côn Đảo, Phú Quốc, đồng thời với hàng trăm bãi biển
đẹp trải dọc từ Bắc vào Nam. Khoảng cách đến các điểm tham quan du lịch
chính của Việt Nam đều tương đối gần các cảng biển. Vì vậy, du khách có thể
dễ dàng tiếp cận các điểm tham quan và các di sản thế giới như Vịnh Hạ
trình và sách, báo, tạp chí như:
- Tổng cục Du lịch (2005), Chương trình hành động quốc gia về du lịch
Việt Nam;
3
- Viện nghiên cứu phát triển Du lịch (2006), Chiến lược phát triển du
lịch biển Việt Nam đến năm 2020, Tổng cục Du lịch.
- Tổng cục Du lịch (2007, 2008), Du lịch Việt Nam, tạp chí Du lịch
Việt Nam và Báo du lịch các số;
- Tổng cục Du lịch (2007), Hội Nghị tàu biển Quốc tế Việt Nam lần thứ
nhất. Tài liệu Hội thảo khoa học
- Tổng cục Du lịch (2008), số liệu báo cáo thống kê du lịch website:
http://www.vietnamtourism.gov.vn;
- Tổng cục Du lịch (2008), Thực trạng giải pháp nâng cao năng lực
cạnh tranh trong lĩnh vực lữ hành quốc tế của Việt Nam;
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu:
Phân tích và đánh giá thực trạng và tiềm năng phát triển du lịch tàu
biển ở Việt Nam hiên nay, từ đó đề xuất các giải pháp và đưa ra khuyến nghị
nhằm đẩy mạnh phát triển du lịch tàu biển ở Việt Nam trong những năm tới.
* Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Làm rõ một số vấn đề cơ bản về lý luận và thực tiễn của du lịch tàu biển.
- Phân tích đánh giá thực trạng hoạt động du lịch tàu biển ở Việt Nam
trong giai đoạn từ năm 2001 đến nay.
- Đề xuất các giải pháp chủ yếu để phát triển du lịch tàu biển ở Việt
Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tƣợng nghiên cứu:
5
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN PHÁT TRIỂN
DU LỊCH TÀU BIỂN
1.1. Một số khái niệm về chung về du lịch và du lịch tàu biển
1.1.1. Khái niệm về du lịch
Để tìm hiểu về du lịch tàu biển, trước hết ta đi từ một khái niệm bao
trùm mà du lịch tàu biển là một bộ phận của nó, đó là khái niệm về du lịch.
Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, du lịch được ghi nhận như một
sở thích, một hoạt động nghỉ ngơi tích cực của con người. Quá trình phát triển
của du lịch góp phần phản ánh tính chất và trình độ phát triển của lực lượng
sản xuất, mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất ở các hình
thái kinh tế - xã hội khác nhau mà con người đã trải qua. Thời kỳ đầu xã hội
nguyên thuỷ, con người cũng có sự di chuyển từ nơi này tới nơi khác nhưng
hoạt động di chuyển đó do những nguyên nhân như: di chuyển đến một nơi
khác phù hợp hơn để sinh sống, tránh xa các xung đợt xã hội, đến những nơi
không có thiên tai, bão lụt… trên phạm vi toàn thế giới, hoạt động đi ra ngoài
với mục đích du lịch bắt đầu được xuất hiện đó là khi ngành thủ công nghiệp
tách hẳn khỏi ngành trồng trọt và chăn nuôi, ngành thương nghiệp xuất hiện,
quan hệ hàng hoá tiền tệ hình thành và phát triển du lịch có điều kiện phát
triển gắn liền với cuộc cách mạng giao thông trên thế giới. Đầu máy hơi nước
được sử dụng rộng rãi trong các ngành đường sắt, đường bộ, đường thuỷ
hoá - xã hội. Thực tiễn ở nhiều nước trên thế giới đã chứng minh rằng hoạt
động du lịch không chỉ đem lại lợi ích kinh tế mà còn cả lợi ích chính trị, văn
hoá, xã hội. Du lịch có nhiều đặc thù, gồm nhiều thành phần tham gia: hoạt
động tổ chức lưu trú, ăn uống, hoạt động vận chuyển khách, hoạt động lữ
hành trong đó hoạt động vận chuyển khách đóng vai trò hết sức quan trọng,
thúc đẩy việc hình thành các chủng loại cầu du lịch, trong đó có loại hình vận
chuyển bằng tàu biển.
7
1.1.2. Khái niệm về du lịch tàu biển
Du lịch tàu biển là loại hình du lịch cao cấp và khách du lịch tàu biển là
đối tượng khách có mức thanh toán cao nhất so với các loại hình khách du
lịch nếu phân loại theo phương tiện di chuyển. Vào những năm 80 của thế kỷ
XX, du lịch tàu biển mới phát triển trở lại và mục đích chính của các con tàu
không phải là sự “chuyên chở” mà là cung cấp cho du khách các chương trình
du lịch, các dịch vụ du lịch, nghỉ dưỡng, các tiện nghi đẳng cấp vượt trội hơn
cả các dịch vụ du lịch cao cấp nhất trên bờ.
Các con tàu thế hệ mới ngoài công nghệ đóng tàu hiện đại, còn được
trang bị tất cả các tiện nghi đạt tiêu chuẩn cao nhất tương đương với các
khách sạn hạng sang trên bờ như: các loại nhà hàng, quầy Bar, casino, thư
viện, bể bơi, sân bóng chuyền, tennis, sân tập golf, phòng tập thể dục, rạp
chiếu phim….
Các du thuyền thường được coi như các khách sạn nổi tiện nghi và
chuyến đi biển của du khách không còn là một chuyến đi biển thông thường
mà là một kỳ nghỉ trăng mật, kỷ niệm ngày cưới hay một dịp giao du. Tàu
thay vì thực hiện một hành trình dài liên tục sẽ dừng đỗ tại rất nhiều nơi trên
đường đi. Các điểm dừng (port of call) đó có thể là những nơi tương đối gần,
như vùng biển Caribe, Vịnh Mexico và Alaska, đến những vùng đất xa xôi
cạnh việc thư giãn, hưởng thụ.
- Chính sách và pháp luật: là một trong những yếu tố quan trọng để tạo
môi trường thuận lợi và khuyến khích khách du lịch quốc tế, đồng thời bảo
vệ quyền lợi hợp pháp đối với khách đến du lịch. Do vậy cần thiết nhà nước
phải có những chính sách khuyến khích, hỗ trợ và tạo mọi điều kiện thuận lợi
cho khách du lịch như miễn thị thực đơn phương và song phương, đơn giản
hoá thủ tục cấp phép hoạt động cho các doanh nghiệp lữ hành…
- Quảng bá và xúc tiến du lịch: là một trong những nhân tố ngày càng
trở lên quan trọng khi đất nước đang trong quá trình hội nhập sâu vào nền
kinh tế thế giới. Việc quảng bá hình ảnh của một đất nước và xúc tiến du lịch
9
bằng nhiều kênh và nhiều hình thức khách nhau có tác động rất lớn trong việc
thúc đẩy ngành du lịch nói chung và du lịch tàu biển nói riêng phát triển.
- Môi trường: Để nâng cao sức cạnh tranh trong du lịch, yếu tố môi
trường cũng cần được quan tâm đúng mức. Khách du lịch quốc tế luôn mong
muốn đến một nơi có môi trường sạch sẽ, trong lành để nghỉ ngơi, thư giãn.
Chính vì vậy, muốn hoạt động kinh doanh du lịch tàu biển tốt, cần phải có
những chính sách bảo vệ môi trường hợp lý. Những nhận xét của khách về
chất lượng môi trường cũng là những yếu tố thúc đẩy Chính phủ, các doanh
nghiệp, tổ chức, cá nhân có liên quan quan tâm hơn tới môi trường. Môi
trường đảm bảo thì lượng khách du lịch tàu biển sẽ phát triển và ngược lại,
hoạt động này phát triển sẽ góp phần làm môi trường trong sạch hơn.
1.2. Kinh nghiệm phát triển du lịch tàu biển ở một số quốc gia và bài học
kinh nghiệm cho Việt Nam
1.2.1. Kinh nghiệm của Thái Lan
Trong những năm gần đây, Thái Lan luôn giữ được vị trí dẫn đầu trong
khối ASEAN về thu hút khách du lịch quốc tế. Trong lĩnh vực du lịch nói
- Tổ chức các sự kiện mang tính quốc tế để thu hút khách du lịch quốc
tế như Lễ kỷ niệm 220 năm thủ đô Băng Cốc, Lễ hội Amazing Shopping
Street tại Băng Cốc, Lễ hội Songkran và Loy Krathong, Tết cổ truyền Trung
Hoa và các sự kiện thể thao quốc tế trên khắp đất nước.
- Mở chiến dịch quảng bá những điểm du lịch mới trên khắp các vùng
của đất nước như chương trình “Thiên đường vui chơi” của 3 tỉnh gần Băng
Cốc, chương trình “Đông Bắc huyền thoại” của các tỉnh vùng Đông Bắc. Thái
Lan cũng tập trung tuyên truyền các sản phẩm du lịch bằng hình thức tàu biển
mới để thu hút khách du lịch quốc tế.
Năm 2004, trong chiến lược nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia,
Thái Lan đã coi phát động chiến dịch xúc tiến lữ hành quốc tế là một trong 10
nội dung chính. Nội dung cụ thể của xúc tiến đó là:
11
- Xúc tiến du lịch quốc tế của Thái Lan với việc nhấn mạnh những yếu
tố hấp dẫn mới, triển khai các hoạt động du lịch mới nhằm tăng chỉ tiêu và
kéo dài thời gian lưu trú của khách du lịch quốc tế.
- Nâng cao chất lượng các điểm du lịch, đặc biệt là các điểm du lịch
quốc gia. Liên kết du lịch quốc tế với các nước láng giềng như Việt Nam,
Lào, Campuchia… để tăng cường hợp tác kinh tế và du lịch trong khu vực
đồng thời duy trì Thái Lan như là một trung tâm du lịch tàu biển của khu vực.
- Nâng cao chất lượng dịch vụ với việc nhấn mạnh tới sự an toàn cho
khách du lịch quốc tế, ngăn ngừa tai nạn, bảo vệ khách, tạo điều kiện cho
khách nhập cảnh thuận tiện, tăng cường năng lực cho đội ngũ nhân viên trong
ngành du lịch đạt tiêu chuẩn quốc tế.
Với những thành công trong thời gian qua, mới đây, Tạp chí The
Travel News của Na Uy đã trao tặng Thái Lan giải thưởng “Quốc gia du lịch
tốt nhất 2006”. Tạp chí The New Luxury Travel của Úc đã công bố “Danh
Những điều đó càng khẳng định rằng du lịch Thái Lan thể hiện rõ sự
chuyên nghiệp, họ không bị động trước khủng hoảng chính trị, không chỉ đợt
biểu tình vừa qua, mà còn có sáng kiến để lôi kéo khách du lịch quay trở lại.
Sự thành công về mặt hình ảnh của ngành du lịch Thái Lan đã giúp cho quốc
gia này không chỉ là một vương quốc năng động, hiện đại, vui vẻ, giải trí
đúng chất du lịch, mà ý thức bảo tồn và phát triển du lịch của người dân Thái
rất cao. Năm 2009 với một loạt sự kiện tiêu cực xảy ra đối với đất nước chùa
Tháp này, WEF vẫn nâng bậc cho năng lực cạnh tranh về du lịch và lữ hành
lên thứ 39, tăng 3 bậc so với năm 2008. Đáng chú ý là các chỉ số về mức độ
ưu tiên cho du lịch (xếp thứ 22/133), mức độ cạnh tranh về giá (xếp thứ 19),
mức độ quan tâm của các nguồn lực cho du lịch và lữ hành (xếp thứ 22) [65].
1.2.2. Kinh nghiệm của Trung Quốc
Sau nhiều năm phát triển, du lịch Trung Quốc đã nhanh chóng vươn lên
đứng thứ 5 thế giới về thu hút khách du lịch. Năm 1978, ở thời điểm tiến hành
cải cách mở cửa, thu nhập ngoại tệ từ du lịch của Trung Quốc mới ở mức 26,3
triệu USD, đến năm 2008, con số này đã tăng lên 41,484 tỷ USD với
13
24.325.337 lượt khách quốc tế. Tổ chức Du lịch thế giới dự báo, đến năm
2020, thu nhập ngoại tệ từ du lịch Trung Quốc có thể đạt 63,5 tỷ USD, chiếm
8% GDP cả nước [40].
Cùng với thời gian và các bước đi nhằm cải thiện chất lượng các dịch
vụ giải trí, quy hoạch lại các vùng du lịch, quần thể du lịch, mở rộng quan hệ
đối ngoại trên nhiều mặt kinh tế, văn hoá… và hoàn thiện hệ thống tài chính,
cũng như cơ sở hạ tầng, ngành du lịch Trung Quốc đã có những bước tiến bộ
vượt bậc, đang ngày càng chứng tỏ là ngành kinh tế mũi nhọn trong nền kinh
tế quốc dân của đất nước này và có khả năng cạnh tranh cao về nhiều chỉ số
đối với các nước trong khu vực và trên thế giới. Những thành tựu mà du lịch
trình độ quản lý để có được tầm nhìn xa, ứng phó kịp thời với những biến
chuyển của thị trường…
- Đẩy mạnh và tăng cường xây dựng thương hiệu cho sản phẩm du lịch
Trung Quốc và quảng bá điểm đến. Trong những năm qua, du lịch Trung
Quốc đã áp dụng biện pháp xây dựng thương hiệu khá thành công, tranh thủ
tổ chức các sự kiện văn hoá, thể thao, du lịch quốc tế lớn như lễ hội hoa thế
giới Kôn Minh, cuộc thi Hoa hậu thế giới vào các năm 2003, 2005, 2007 tại
đảo Hải Nam, Olympic Bắc Kinh 2008… Trung Quốc cũng đã đẩy mạnh khai
thác lợi thế cạnh tranh với các nước trong khu vực để thu hút khách du lịch
nghỉ biển và đã thu được những kết quả nhất định. Để khuyến khích cạnh
tranh lành mạnh giữa các thành phố, những năm gần đây, bảng xếp hạng các
thành phố du lịch tiêu biểu cũng rất được quan tâm. Năm 2006, các thành phố
du lịch tiêu biểu của Trung Quốc đã được Tổ chức Du lịch thế giới công nhận.
Trung Quốc đã thiết lập hệ thống giám sát và bảo vệ môi trường, thúc đẩy sự
phát triển bền vững của ngành du lịch nói chung và du lịch tàu biển nói riêng.
Trong những năm qua, thị trường Trung Quốc đã phát triển với một số
tàu chạy tuyến Hạ Long - Đảo Hải Nam nhưng phải đến đầu năm 2006, lượng
khách du lịch tàu biển Trung Quốc mới chiếm một vị trí quan trọng trong tổng
số khách du lịch tàu biển đến Việt Nam. Năm 2006 có khoảng 80.000 lượt
khách Trung Quốc, chiếm 35,7%, năm 2007, ước tính có khoảng 100.000 lượt
15
khách tàu biển Trung Quốc, chiếm khoảng 44% tổng số khách du lịch tàu
biển. Cùng với đó chú trọng hơn cho phát triển du lịch quốc tế bị động, thay
vì chỉ tập trung khai thác thị trường nội địa rộng lớn, tạo sức cạnh tranh mạnh
mẽ trong thu hút khách du lịch quốc tế từ các trung tâm du lịch khác trên thế
giới, đặc biệt là từ các quốc gia trong khu vực.
- Tạo những thế mạnh mới trong cạnh tranh thay vì chỉ khai thác những
khách quốc tê, vượt qua các quốc gia phát triển du lịch quốc tế lâu năm.
1.2.3. Bài học kinh nghiệm từ Việt Nam
Từ kinh nghiệm của Thái Lan, Trung Quốc, có thể rút ra một số bài học
kinh nghiệm về phát triển hoạt động du lịch tàu biển tại Việt Nam đó là:
- Xây dựng chiến lược phát triển và kế hoạch cho từng thời kỳ: Để thu
hút khách du lịch quốc tế một cách hiệu quả, cần thiết phải xây dựng chiến
lược cạnh tranh quốc gia, từ đó lập kế hoạch và chương trình cho từng thời
kỳ, phù hợp với yêu cầu phát triển du lịch quốc tế, tránh tình trạng phát triển ồ
ạt, không tập trung, phân tán nguồn lực và phá vỡ tính cân bằng trong phát
triển du lịch. Việc xây dựng chiến lược phát triển du lịch quốc gia cần căn cứ
vào các điều kiện về tự nhiên, vị trí địa lý và các điều kiện khác có liên quan.
Có chiến lược đào tạo nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong dài
hạn để có những con người đầy đủ kiến thức và trình độ để đưa ngành du lịch
Việt Nam đi lên. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng, nhu cầu và xu
hướng đi du lịch quốc tế ngày càng đa dạng và luôn thay đổi, vì thế đối với
các quốc gia muốn tập trung vào phát triển thu hút khách du lịch tàu biển
quốc tế như Việt Nam cần phải sớm xây dựng chiến lược phát triển và có các
kế hoạch, chương trình cụ thể trong từng giai đoạn nhằm nâng cao năng lực
cạnh tranh, tăng cường thu hút khách du lịch quốc tế, đẩy cao vị thế của du
lịch Việt Nam trên trường quốc tế.
- Xây dựng thương hiệu và quảng bá du lịch: Để thu hút ngày càng
nhiều khách du lịch quốc tế, phát triển hoạt động lữ hành quốc tế, du lịch tàu
biển, các quốc gia trong khu vực đều phải coi trọng việc xây dựng thương
hiệu và quảng bá du lịch nước mình thông qua biểu tượng (logo), khẩu hiệu,