đánh giá thực trạng thị trường bất động sản tại thành phố thái nguyên, tỉnh thái nguyên giai đoạn 2006-2010, đề xuất một số giải pháp phát triển - Pdf 24


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

Kiều Quang Khánh ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG BẤT ĐỘNG SẢN TẠI
THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN GIAI ĐOẠN
2006 - 2010, ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

KIỀU QUANG KHÁNH
Thái Nguyên – năm 2011
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

i LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng toàn bộ những nội dung và số liệu trong luận văn
này do tôi tự nghiên cứu, khảo sát và thực hiện.

Học viên thực hiện luận văn Kiều Quang Khánh

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

iii Mục lục
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các hình v
Danh mục các bảng vi
Phần I: MỞ ĐẦU . 1
1. Đặt vấn đề . 1
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài . 2
3. Ý nghĩa của đề tài 2
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu . 2
Phần II :TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU . 4
I . Tổng quan thị trƣờng bất động sản . 4
1.1. Các khái niệm 4
1.2. Đặc điểm thị trƣờng bất động sản 8
1.2.1. Tính cá biệt và khan hiếm . 8
1.2.2. Tính bền lâu . 9
1.2.3. Tính chịu sự ảnh hƣởng lẫn nhau . 9
1.2.4. Các tính chất khác . 10
1.4. Vai trò thị trƣờng bất động sản 10

4.2.1.Tài nguyên đất . 42
4.2.2.Tài nguyên rừng . 42
4.2.3. Tài nguyên khoáng sản . 43
4.3. Tình hình phát triển kinh tế, xã hội thành phố Thái Nguyên giai
đoạn 2006 - 2010 và triển vọng phát triển kinh tế. 43
4.3.1 Tình hình phát triển kinh tế, xã hội thành phố Thái Nguyên giai đoạn 2006
- 2010 . 43
4.3.2. Triển vọng phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020 . 44
4.4. Tình hình quản lý đất đai tại thành phố Thái Nguyên giai đoạn 2006 - 2010 46
4.4.1. Tình hình sử dụng đất thành phố Thái Nguyên . 46
4.4.2. Tình hình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (thị trƣờng sơ cấp) . 48
4 4.3. Tình hình giao đất ở tại thành phố Thái Nguyên giai đoạn 2006 - 2010 . 50
4.4.4. Tình hình đấu giá quyền sử dụng đất tại thành phố Thái Nguyên giai đoạn
2006 - 2010 . 51
4.5. Thực trạng thị trƣờng bất động sản Thành phố Thái Nguyên 52
4.5.1. Hiện trạng cung - cầu hàng hóa bất động sản . 52
4.5.2. Khối lƣợng giao dịch hàng hóa trên thị trƣờng bất động sản thành phố Thái
Nguyên (thị trƣờng thứ cấp) . 54
4.5.3. Mức biến động giá cả bất động sản tại thành phố Thái Nguyên giai đoạn
2006 - 2010 . 57
4.6. Thực trạng quản lý nhà nƣớc đối với thị trƣờng Bất động sản
trên địa bàn Thành phố Thái Nguyên 60
4.6.1. Hệ thống cơ quan quản lý thị trƣờng bất động sản ở thành phố Thái Nguyên . 60
4.6.2. Thực trạng quản lý nhà nƣớc đối với thị trƣờng đất đai ở Thành phố Thái
Nguyên . 65
4.7. Một số giải pháp chủ yếu cho sự phát triển thị trƣờng bất động
sản thành phố Thái Nguyên . 69
4.7.1. Có kế hoạch hợp lý và khoa học đối với nguồn cung đất đai cho thị
trƣờng bất động sản . 69
4.7.2. Giải pháp về quy hoạch sử dụng đất . 70

nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất của hộ gia đình, cá nhân tại
thành phố Thái Nguyên giai đoạn 2006 – 2010 55
Hình 4.3: Tình hình thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất tại thành phố Thái
Nguyên giai đoạn 2006 – 2010 57
Hình 4.4:Mức biến động giá đất theo khung giá UBND tỉnh ban hành
59
Hình 4.5.Mức độ chênh lệch trung bình giữa giá đất do UBND tỉnh
ban hành và giá đất trên thị trƣờng Thành phố Thái Nguyên giai
đoạn 2006 –2010 60

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

vi
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 4.1.Tình hình sử dụng đất qua các năm 2006 đến năm 2010 47
Bảng 4.2.Tình hình cấp giấy chứng nhận một số loại đất ở thành phố
Thái Nguyên 49
Bảng 4.3.Tình hình giao đất thực hiện quy hoạch các khu dân cƣ,
khu đô thị mới và các khu tái định cƣ tại thành phố Thái Nguyên
giai đoạn 2006 - 2010. 50
Bảng 4.4.Kết quả đấu giá quyền sử dụng đƣợc thể hiện qua biểu sau:
51
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1
Phần I: MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Cùng với thị trƣờng vốn, thị trƣờng lao động, thị trƣờng bất động sản là

- Thị trƣờng bất động sản dƣới sự quản lý và điều chỉnh của Nhà nƣớc sẽ
phát triển lành mạnh, hiện tƣợng kinh doanh ngầm đƣợc xoá bỏ.
- Nhà ở và đất ở là lĩnh vực quan trọng chứa đựng các yếu tố kinh tế – xã
hội, chính trị, do vậy quản lý và phát triển đúng mức thị trƣờng bất động sản sẽ
kéo theo nhiều yếu tố khác nhƣ: sử dụng đất đúng mục đích tránh lãng phí đất,
tạo đƣợc chỗ ở cho nhân dân, đảm bảo chính sách quy hoạch của Nhà nƣớc…
Xuất phát từ thực tiễn, tôi thực hiện đề tài: “Đánh giá thực trạng thị
trƣờng bất động sản tại thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên giai
đoạn 2005 - 2010, đề xuất một số giải pháp phát triển” nhằm tìm hiểu thực
trạng và đề xuất các giải pháp tăng cƣờng quản lý hỗ trợ cho việc phát triển thị
trƣờng bất động sản địa phƣơng.
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
- Đánh giá thực trạng thị trƣờng bất động sản tại thành phố Thái Nguyên
giai đoạn 2006 - 2010.
- Đƣa ra một số giải pháp để quản lý và phát triển thị trƣờng bất động sản
của thành phố Thái Nguyên.
3. Ý nghĩa của đề tài
Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần phản ánh thực trạng và đề xuất
các giải pháp tăng cƣờng quản lý thị trƣờng bất động sản, góp phần thực hiện
chủ trƣơng phát triển thị trƣờng bất động sản Thành phố Thái Nguyên.
Việc nghiên cứu đề tài giúp học viên có chuyên môn về quản lý thị trƣờng
bất động sản, đồng thời rèn luyện khả năng nghiên cứu, viết một báo cáo khoa
học, góp phần nâng cao trình độ chuyên môn, phục vụ tốt cho công tác sau này.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Thị trƣờng bất động sản là thị trƣờng rộng lớn (bao gồm nhà ở, đất đai,
các tài sản khác )
Do giới hạn về thời gian và phạm vi nghiên cứu của một luận văn thạc sỹ,
đề tài này chỉ tập trung nghiên cứu thị trƣờng bất động sản là nhà ở và đất đai

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

nét đặc thù riêng thể hiện ở quan điểm phân loại và tiêu chí phân loại, tạo ra cái
gọi là “khu vực giáp ranh giữa hai khái niệm bất động sản và động sản”.
Hầu hết các nƣớc đều coi bất động sản là đất đai và những tài sản có liên
quan đến đất đai, không tách rời với đất đai, đƣợc xác định bởi vị trí địa lý của
đất (Pháp, Nhật, Đức…), nhƣng có nƣớc (Nga) quy định cụ thể bất động sản là
“mảnh đất” chứ không phải là đất đai nói chung.
Tuy nhiên có nƣớc lại có quan niệm khác về những tài sản “ gắn liền” với
những đất đai đƣợc coi là bất động sản. Điều 520 Luật dân sự Pháp quy định
những “mùa màng chƣa gặt, trái cây chƣa bứt khỏi cây là bất động sản, nếu bứt
khỏi cây đƣợc coi là động sản. Tƣơng tự, quy định này cũng đƣợc thể hiện ở
Luật dân sự Nhật Bản, Luật dân sự Bắc Kỳ và Sài Gòn cũ. Trong khi đó điều
100 Luật dân sự Thái Lan quy định: “Bất động sản là đất đai và những vật gắn
liền với đất đai hoặc hợp thành một hệ thống nhất với đất đai và các tài sản gắn
với việc sở hữu đất”. Luật dân sự Đức đƣa ra khái niệm bất động sản bao gồm
đất đai và các tài sản gắn liền với đất. [5]
Theo Mc Kenzie and Betts. 1996.trang 3: “Bất động sản bao gồm đất đai và
những tài sản không di dời được được quy định bởi pháp luật”.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
5
Hiện nay có nhiều quan niệm khác nhau về bất động sản, có thể có ba khái
niệm nhƣ sau:
Khái niệm 1: Bất động sản là đất, cùng với nhà và các phƣơng tiện khác
trên đất
Đây là khái niệm chƣa đủ bởi không quy định rõ các phƣơng tiện trên đất
nhƣ thế nào thì đƣợc coi là bất động sản.
Khái niệm 2: Bất động sản là
1, Đất
2, Nhà và các công trình khác xây trên đất
Khái niệm này khác các khái niệm trên ở chỗ: coi những vật không di dời

sản phẩm đầu vào có ý nghĩa quan trọng đối với việc phát triển sản xuất kinh
doanh nhƣ thị trƣờng vốn thị trƣờng lao động đặc biệt là thị trƣờng bất động sản
lại mới chỉ trong giai đoạn ban đầu hình thành và phát triển.
Có thể thấy rằng bản thân thị trƣờng bất động sản không tự dƣng mà có, nó
phụ thuộc vào yếu tố khi nào bất động sản đƣợc coi là hàng hoá, đƣợc trao đổi,
mua, bán, cho thuê, chuyển nhƣợng v.v… Nói chung là hoạt động kinh doanh
bất động sản.
Hiện nay quan niệm về thị trƣờng bất động sản cũng đang đựơc tranh luận
và nổi lên một số ý kiến nhƣ sau:
Khái niệm 1: Thị trƣờng bất động sản là thị trƣờng của hoạt động mua bán,
trao đổi, cho thuê, thế chấp, chuyển nhƣợng quyển sử dụng bất động sản theo
quy luật của thị trƣờng có sự quản lý của Nhà nƣớc.
Khái niệm 2: Thị trƣờng bất động sản là tổng hoà các giao dịch dân sự về
Bất động sản tại một địa bàn nhất định, trong thời gian nhất định.
Khái niệm 3: Thị trƣờng bất động sản là tổ chức các quyền có liên quan
đến đất sao cho chúng có thể trao đổi giá trị giữa các cá nhân hoặc thực thể. Các
quyền này độc lập với các đặc tính vật chất mà thƣờng đƣợc gọi là đất.
Định nghĩa thứ ba này nghiêng về thị trƣờng bất động sản là một mô hình,
một tổ chức để các quyền có liên quan đến đất đƣợc thực hiện một cách độc lập.
Tuy rằng tính khách quan của thị trƣờng Bất động sản là quan hệ giao dịch mua
bán bất động sản theo quy luật đặc thù của thị trƣờng giá trị nhƣng về chủ quan
là sự giao dịch đó phải đƣợc tổ chức theo một ý đồ nhất định. [7] Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
7
Có thể mô tả thị trƣờng bất động sản theo mô hình sau:

- Độc quyền
- Lợi nhuận
- ………
Quy
luật
đặc
thù
BĐS
Quy
luật
giá
trị
Lợi
ích
kin
h tế
Ngƣời
sở
hữu
Ngƣời
sử
dụng
Ngƣời
mua
Ngƣời
bán
Giá
đất
Quan hệ quốc tế
hội nhập

tƣ, kiến trúc sƣ đều quan tâm đến tính dị biệt hoặc để tạo sự hấp dẫn đối với
khách hàng hoặc thoả mãn sở thích cá nhân v.v
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
9
1.2.2. Tính bền lâu
Do đất đai là tài sản do thiên nhiên ban tặng, một loại tài nguyên đƣợc
xem nhƣ không thể bị huỷ hoại, trừ khi có thiên tai, xói lở, vùi lấp. Đồng thời,
các vật kiến trúc và công trình xây dựng trên đất sau khi xây dựng hoặc sau một
thời gian sử dụng đƣợc cải tạo nâng cấp có thể tồn tại hàng trăm năm hoặc lâu
hơn nữa. Vì vậy, tính bền lâu của bất động sản là chỉ tuổi thọ của vật kiến trúc
và công trình xây dựng.
Cần phân biệt “tuổi thọ vật lý” và “tuổi thọ kinh tế” của Bất động sản. Tuổi
thọ kinh tế chấm dứt trong điều kiện thị trƣờng và trạng thái hoạt động bình
thƣờng mà chi phí sử dụng bất động sản lại ngang bằng với lợi ích thu đƣợc từ
bất động sản đó. Tuổi thọ vật lý dài hơn tuổi thọ kinh tế khá nhiều vì nó chấm
dứt khi các kết cấu chịu lực chủ yếu của vật kiến trúc và công trình xây dựng bị
lão hoá và hƣ hỏng, không thể tiếp tục an toàn cho việc sử dụng. Trong trƣờng
hợp đó, nếu xét thấy tiến hành cải tạo, nâng cấp bất động sản thu đƣợc lợi ích
lớn hơn là phá đi và xây dựng mới thì có thể kéo dài tuổi thọ vật lý để “chứa”
đƣợc mấy lần tuổi thọ kinh tế. Thực tế, các nƣớc trên thế giới đã chứng minh
tuổi thọ kinh tế của Bất động sản có liên quan đến tính chất sử dụng của bất
động sản đó. Nói chung, tuổi thọ kinh tế của nhà ở, khách sạn, nhà hát là trên 40
năm; của tuổi thọ kinh tế nhà xƣởng công nghiệp, nhà ở phổ thông là trên 45
năm v.v Chính vì tính chất lâu bền của hàng hoá bất động sản là do đất đai
không bị mất đi, không bị thanh lý sau một quá trình sử dụng, lại có thể sử dụng
vào nhiều mục đích khác nhau nên hàng hoá bất động sản rất phong phú và đa
dạng, không bao giờ cạn.

Một là: Góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển.
- Là cầu nối giữa sản xuất và tiêu dùng bất động sản thực hiện quá trình
phát triển sản xuất.
- Là nơi thực hiện sự chuyển hóa vốn từ hình thái hiện vật sang hình thái
giá trị và từ hình thái giá trị sang hình thái hiện vật. Ta có thể thấy rằng trên thị
trƣờng bất động sản ngƣời bán và ngƣời mua có thể trao đổi với nhau qua vật
ngang giá chung mà hai bên lựa chọn đó là: vàng, ngoại tệ, nội tệ…khi thực hiện
việc trao đổi này hình thái hiện vật của bất động sản đƣợc chuyển hóa sang hình
thái tiền tệ và ngƣợc lại .

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
11
- Khi thị trƣờng bất động sản bị ngƣng trệ làm cho vốn chậm lƣu thông ảnh
hƣởng đến tái sản xuất của chu kì tiếp theo. Ngƣợc lại khi thị trƣờng bất động
sản thông suốt đó là một thuận lợi cho việc lƣu thông vốn trên thị trƣờng. Do đó
quá trình tái sản xuất sẽ thuận lợi kéo theo hoạt động sản xuất hiệu quả hơn.
Hai là: Thị trƣờng bất động sản góp phần huy động vốn cho đầu tƣ phát triển.
- Thị trƣờng bất động sản góp phần phát triển sức sản xuất đồng thời cũng
là quá trình tăng vốn cho đầu tƣ cho phát triển đặc biệt là vốn cố định.
- Khi thị trƣờng bất động sản phát triển tốc độ chu chuyển của đồng vốn
nhanh hơn thực chất là việc tăng thêm vốn. Vốn chu chuyển theo công thức
hàng - tiền - hàng hay tiền - hàng - tiền qua mỗi vòng quay của vốn giá trị của
vốn tăng lên và do đó nguồn lực vốn tăng lên tốc độ quay vòng vốn càng nhanh
thì nguồn vốn tăng lên càng nhanh.
- Các giao dịch thế chấp bất động sản góp vốn liên doanh bằng bất động
sản thực chất là những giao dịch làm tăng thêm vốn cho đầu tƣ phát triển.
Ba là: Phát triển thị trƣờng bất động sản góp phần tăng ngân sách cho
nhà nƣớc.
Khi thị trƣờng bất động sản tăng lƣợng hàng hóa giao dịch, mở rộng phạm
vi giao dịch. Cả hai hƣớng đó đều góp phần tăng thu ngân sách cho nhà nứơc

Bảy là: Thị trƣờng bất động sản góp phần đổi mới chính sách trong đó có
chính sách đất đai và chính sách về bất động sản.
Thông qua hoạt động và phát triển của thị trƣờng bất động sản, Nhà nƣớc
tiếp tục đổi mới, bổ sung hoàn thiện chính sách đất đai. Vì chỉ có thông qua thị
trƣờng bất động sản các giao dịch dân sự về đất đai mới đƣợc thực hiện và chính
ở thị trƣờng, thông qua thị trƣờng sẽ bộc lộ những điểm không phù hợp thực tiễn
của chính sách đất đai, bộc lộ sự không phù hợp trong quản lý đất đai [18].
1.5. Sự vận động của thị trƣờng bất động sản
1.5.1. Cung về bất động sản
* Khái niệm về cung bất động sản
Cung bất động sản trên thị trường là một lượng bất động sản sẵn sàng đưa
ra trao đổi trên thị trường tại một thời điểm nào đó với một mức giá giới hạn

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
13
nhất định. Cung không phải là toàn bộ quỹ bất động sản có thể có mà là lượng
bất động sản có thể và sẵn sàng tham gia giao dịch mua bán trên thị trường [7].
* Để các nguồn bất động sản trở thành nguồn cung bất động sản trên
thị trƣờng cần có sự hội tụ của các điều kiện sau:
- Quỹ bất động sản hiện có phải đạt đƣợc các tiêu chuẩn và yêu cầu của thị
trƣờng hiện thời.
- Ngƣời chủ sở hữu quỹ bất động sản không có mục đích để sử dụng cho
nhu cầu tiêu dùng của mình mà có nhu cầu bán.
- Giá cả để thực hiện quyền chuyển giao tài sản phải phù hợp với khả năng
thanh toán và chấp nhận của thị trƣờng.
- Phải có thị trƣờng bất động sản xuất hiện và quỹ bất động sản đó tham gia
vào giao dịch trên thị trƣờng là đƣợc thừa nhận.
- Cung bất động sản là cung về một loại hàng hoá đặc biệt, giữa các loại đất
đai, sự thay đổi về cung loại đất đai này có thể làm thay đổi về cung của loại đất
đai khác [7].

sẽ đƣợc mở rộng thêm.
Chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Cung về bất động sản phụ thuộc rất lớn vào chính sách của Nhà nƣớc về
các chế độ quản lý đất đai và nhà ở, về chính sách sử dụng đất và các khoản đầu
tƣ cho phát triển bất động sản.
Trƣớc hết là các chế độ quy định về quyền sở hữu và quyền sử dụng về bất
động sản. Những nguồn đất đai và nhà ở có thể sử dụng cho phát triển các công
trình dân dụng nhƣng không đƣợc hợp thức hoá về các quyền sở hữu và sử dụng
không thể tham gia vào nguồn cung của thị trƣờng bất động sản hợp pháp và
không đƣợc tính vào nguồn cung chính thức về bất động sản.
Chính sách của Nhà nƣớc đối với phát triển và cải thiện nguồn cung về bất
động sản không phải là những hỗ trợ về giá đầu vào của nguyên vật liệu xây
dựng, không phải là sự kiểm soát bằng các quy định về các quan hệ giao dịch
trên thị trƣờng mà thông qua các hành động thực tế từ quy hoạch, thể chế hoá
các quan hệ về bất động sản đến việc đầu tƣ phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
15
Các khu vực sản xuất và cung nhà ở
Ngƣời ta có thể chia các hoạt động sản xuất và cung cấp nhà ở thành 3 khu
vực: khu vực công cộng; khu vực doanh nghiệp tƣ nhân và khu vực gia đình hay
khu vực không chính thức.
+ Khu vực công cộng: Khu vực công cộng hay khu vực Nhà nƣớc là các
hoạt động xây dựng phát triển nhà ở do Nhà nƣớc hoặc các cơ quan, doanh
nghiệp Nhà nƣớc đầu tƣ xây dựng bằng nguồn vốn ngân sách hoặc coi nhƣ vốn
ngân sách và các quỹ nhà ở khác thuộc sở hữu Nhà nƣớc.
+ Khu vực doanh nghiệp tư nhân: Khu vực phát triển nhà ở tƣ nhân là
những hoạt động phát triển nhà ở không bằng nguồn vốn ngân sách Nhà nƣớc,
do các tổ chức, các công ty hoặc cá nhân thực hiện và tuân thủ theo các quy tắc

Quy luật chung của cung là lƣợng cung hàng hoá tăng lên khi giá cả hàng
hoá đó tăng lên.

Hình 1.2. Mức cung thay đổi khi giá thay đổi
Nhƣ vậy, trong những phạm vi và hoàn cảnh nhất định cung về bất động
sản là một hàm co giãn đối với giá cả.
*Sự dịch chuyển đường cung bt động sản
Khi không có những thay đổi về các tác nhân của cung về bất động sản thì
lƣợng cung sẽ vận động trên đƣờng cung định trƣớc. Vì cầu nhà ở có độ co giãn
cao đối với giá cả nên đƣờng cầu thƣờng có độ dốc nhỏ. Vì vậy, trong khi cung
thay đổi theo đƣờng cung có độ dốc lớn thì chỉ cần một sự thay nhỏ về lƣợng
cung sẽ dẫn đến sự thay đổi đáng kể về mức giá cả.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
17

Hình 1.3. Sự dịch chuyển cung bất động sản
Những tác nhân làm dịch chuyển đƣờng cung nhiều nhất phải kể đến các
chính sách của Chính phủ về vấn đề bất động sản. Những chính sách có liên
quan đến quản lý tập trung chế độ xây dựng nhà ở nhƣ cấp phép xây dựng, các
quy định về tiêu chuẩn hoá xây dựng nhà ở và đất ở v.v… thƣờng làm cho
đƣờng cung dịch chuyển về bên trái. Ngƣợc lại, việc mở rộng quy hoạch và
chuyển đổi mục đích sử dụng đất sẽ làm đƣờng cung dịch chuyển về bên phải.
1.5.2. Cầu về bất động sản
Khái niệm về cầu trong thị trƣờng bất động sản
Cầu về bất động sản là lƣợng bất động sản mà ngƣời tiêu dùng sẵn sàng
chấp nhận và có khả năng thanh toán để nhận đƣợc lƣợng bất động sản đó trên
thị trƣờng.
Yêu cầu của ngƣời tiêu dùng trên thị trƣờng đƣợc hình thành từ nhu cầu
tiêu dùng về nông sản phẩm, qua một quá trình phát triển nhƣ sau:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status