nghiên cứu thực trạng sản xuất và một số giải pháp nâng cao năng suất, chất lượng lúa tại huyện giao thủy - tỉnh nam định - Pdf 24

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI

ĐAN ANH QUÂN
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG SẢN XUẤT VÀ MỘT SỐ
GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG SUẤT, CHẤT LƯỢNG LÚA
TẠI HUYỆN GIAO THỦY - TỈNH NAM ĐỊNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
HÀ NỘI – 2011
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI

ĐAN ANH QUÂN
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG SẢN XUẤT VÀ MỘT SỐ
GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG SUẤT, CHẤT LƯỢNG LÚA
TẠI HUYỆN GIAO THỦY - TỈNH NAM ĐỊNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành: Trồng trọt
Mã số: 60 62 01
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. PHẠM TIẾN DŨNG
HÀ NỘI – 2011
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là
trung thực và chưa hề sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã
được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ
nguồn gốc.
Tác giả luận văn
Đan Anh Quân
- i -
LỜI CẢM ƠN

PHẦN III: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 34
PHẦN IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 43
PHẦN V: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 101
TÀI LIỆU THAM KHẢO 103
- iii -
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BT 7
CCCC
NHH
NSLT
NSTT
NNHC
OM
TGST
VSV
VSV ĐCN
VSV BĐ
VK
VKTSHK
VKTSYK
Bắc thơm số 7
Chiều cao cuối cùng
Nhánh hữu hiệu
Năng suất lý thuyết
Năng suất thực thu
Nông nghiệp hữu cơ
Hàm lượng chất hữu cơ tổng số
Thời gian sinh trưởng
Vi sinh vật
Vi sinh vật đa chức năng

- v -
Bảng 4.19. Ảnh hưởng của liều lượng phân hữu cơ vi sinh và phân đạm đến
động thái tăng trưởng chiều cao cây 84
Bảng 4.20. Ảnh hưởng của liều lượng phân hữu cơ vi sinh và phân đạm đến
động thái đẻ nhánh của cây lúa 86
Bảng 4.21. Ảnh hưởng của liều lượng phân hữu cơ vi sinh và phân đạm đến
khả năng tích lũy chất khô 89
Bảng 4.22. Sâu bệnh hại chính và khả năng chống đổ 91
Bảng 4.23. Ảnh hưởng của liều lượng phân hữu cơ vi sinh và phân đạm đến
năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất 93
Bảng 2.24. Ảnh hưởng của phân hữu cơ vi sinh đến chất lượng gạo giống
BT7 96
Bảng 4.25. Hạch toán hiệu quả kinh tế đối với các công thức 98
- vi -
PHẦN I: MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Cây lúa (Oryza sativa L) là cây lương thực quan trọng đối với đời sống
con người, bởi cây lúa là nguồn cung cấp lương thực chính cho hàng triệu
người dân sống trên hành tinh. Ngoài sản phẩm chính là gạo, các sản phẩm
phụ như rơm rạ, vỏ trấu cũng góp phần quan trọng vào chăn nuôi và một số
lĩnh vực khác của đời sống xã hội. Việc dân số trên thế giới ngày càng tăng,
chất lượng cuộc sống ngày càng được nâng cao thì việc tăng sản lượng lương
thực cũng như chất lượng lúa gạo càng trở nên cấp thiết.
Trong những năm gần đây nền nông nghiệp nước ta có những bước
tiến bộ phát triển vượt bậc, từ một nước còn thiếu thốn về lương thực nay đã
trở thành nước xuất khẩu gạo đứng hàng thứ 2 trên thế giới. Trong thời kỳ
quá độ hiện nay, để theo kịp nhịp độ phát triển chung của các nước trong khu
vực và trên thế giới, cũng như tạo bước tiến cao hơn trên con đường xây dựng và
phát triển đất nước, Việt Nam phải bằng mọi cách thúc đẩy sự phát triển của nền
kinh tế quốc dân không có con đường nào khác là phải thúc đẩy sự phát triển

địa phương quan tâm.
Xuất phát từ những thực trạng đó, được sự đồng ý của Viện Đào tạo sau
đại học - Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, Bộ môn Hệ thống nông nghiệp,
dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Phạm Tiến Dũng, chúng tôi tiến hành thực
hiện đề tài: “Nghiên cứu thực trạng sản xuất và một số giải pháp nâng cao
năng suất, chất lượng lúa tại huyện Giao Thủy - tỉnh Nam Định”.
- 2 -
1.2. Mục đích và yêu cầu của đề tài
1.2.1. Mục đích
Thông qua kết quả nghiên cứu thực trạng của đề tài, đánh giá được
những thuận lợi và khó khăn tác động đến sản xuất lúa của huyện. Từ đó, đưa
ra các giải pháp nhằm nâng cao năng suất, chất lượng lúa góp phần phát triển
sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá nhằm tăng thu nhập và
nâng cao đời sống cho người dân.
1.2.2. Yêu cầu
- Đánh giá được những thuận lợi - khó khăn của điều kiện tự nhiên và
kinh tế - xã hội chi phối sản xuất lúa.
- Đánh giá thực trạng sử dụng đất nông nghiệp và đất trồng lúa; bộ
giống, năng suất và điều kiện thâm canh; hiệu quả kinh tế của việc sản xuất luá.
- Xác định ảnh hưởng của liều lượng phân hữu cơ và phân đạm tới
năng suất, chất lượng lúa.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả sản
xuất lúa.
1.3. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
1.3.1. Ý nghĩa khoa học
- Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở khoa học để phát triển sản xuất
nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa.
- Việc thử nghiệm một số biện pháp kỹ thuật trên giống lúa Bắc thơm số
7 là một trong những cơ sở quan trọng góp phần xác định biện pháp kỹ thuật
thâm canh phù hợp để nâng cao hiệu quả sản xuất lúa tại huyện Giao Thủy.

thống nông nghiệp là sự kết hợp nghiên cứu phát triển kỹ thuật nông nghiệp vi
- 4 -
mô ở mức độ nông trại với nghiên cứu chính sách phát triển vĩ mô ở mức độ
vùng, quốc gia và thế giới. Sự phát triển nông trại là cơ sở, nền tảng cho sự phát
triển nông nghiệp vùng và quốc gia. Song sự phát triển đó lại phụ thuộc và bị chi
phối bởi các yếu tố ở các hệ thống cao hơn như: Vùng, quốc gia và thế giới.
Nhất là trong sản xuất nông nghiệp mang tính hàng hoá cao như hiện nay [4].
Hệ thống trồng trọt là hệ thống con và là trung tâm của hệ thống canh tác,
cấu trúc của nó quyết định sự hoạt động của các hệ phụ khác như chăn nuôi, chế
biến, ngành nghề. Nghiên cứu hệ thống trồng trọt là một vấn đề phức tạp vì nó
liên quan đến các yếu tố môi trường như đất đai, khí hậu, sâu bệnh, mức đầu tư
phân bón, trình độ khoa học nông nghiệp và vấn đề hiệu ứng hệ thống của hệ
thống cây trồng. Tuy nhiên, tất cả nghiên cứu trên đều nhằm mục đích sử dụng
có hiệu quả đất đai và nâng cao năng suất cây trồng [33].
Hệ thống canh tác (Farming systems) là một hệ thống độc lập, ổn định
của những bố trí sản xuất giữa các hoạt động sản xuất của nông hộ do người
nông dân quản lý, trong mối tương tác với các điều kiện môi trường tự nhiên,
kinh tế và xã hội phù hợp với mục đích, nhu cầu và tiềm năng của nông dân [4].
Vị trí của hệ thống trồng trọt, hệ thống cây trồng trong hệ thống nông
nghiệp được biểu hiện qua sơ đồ sau [25]:
Sơ đồ thành phần của hệ thống nông nghiệp
- 5 -
Hệ thống nông nghiệp
Hệ thống chăn nuôi Hệ thống trồng trọt Hệ thống chế biến
Hệ thống cây trồng
Môi trường, điều
kiện tự nhiên,
kinh tế - xã hội
Cây trồng và
các biện pháp

nghiên cứu.
- 6 -
- Các dữ liệu thứ cấp: Bao gồm các số liệu khí tượng, kinh tế, xã hội…
qua đây các nhà trồng trọt có thể đánh giá tiềm năng về mặt sinh học hoặc kỹ
thuật trồng trọt thích hợp cho một cơ cấu cây trồng.
- Quan sát tìm hiểu điểm: Là cuộc đi khảo sát nông thôn để tìm hiểu về
hệ thống trồng trọt, chăn nuôi, kinh tế - xã hội, qua đấy thẩm định địa điểm có
phù hợp với yêu cầu nghiên cứu hay không.
+ Phương pháp dùng phiếu điều tra
- Phiếu điều tra là một tập câu hỏi in sẵn dùng để thu thập những dữ
liệu có tính chất số lượng về tình trạng sản xuất của nông dân.
- Thảo câu hỏi: Ngôn ngữ dùng trong câu hỏi phải thật đơn giản và dễ
hiểu để người được phỏng vấn có thể trả lời một cách tin cậy và chính xác.
Những câu hỏi về kỹ thuật canh tác phải liên quan đến nơi nông dân nông vụ
canh tác.
- Những thông tin cần thu thập: Hệ thống sản xuất và việc tiêu thụ sản
phẩm, lịch sản xuất và lịch cung cấp lương thực, đất đai, lao động, kỹ thuật
trồng trọt…
Như vậy, bằng các phương pháp nghiên cứu của hệ thống sẽ giúp đánh
giá chính xác Thực trạng của vùng nghiên cứu, trên cơ sở đó đưa ra những
giải pháp phát triển vùng nghiên cứu một cách thích hợp và hiệu quả.
2.1.2. Xu thế phát triển nền nông nghiệp hữu cơ
Trên thế giới, xu hướng phát triển nông nghiệp hữu cơ (NNHC) đã có
từ lâu nhưng mạnh nhất bắt đầu từ năm 1990 của thế kỷ trước với lý do: Thực
phẩm canh tác theo NNHC ngon hơn; không có dư lượng phân bón, thuốc bảo
vệ thực vật, hóa học; không làm ô nhiễm môi trường.
Có rất nhiều ý kiến của các nhà nông nghiệp, các chủ công ty hóa chất
cho rằng việc sản xuất thâm canh với sự đầu tư của phân bón, thuốc trừ sâu,
chất diệt cỏ hóa học là một mục đích duy nhất cung cấp lương thực thực phẩm
- 7 -

cứ canh tác như vậy thì đất sẽ thiếu nguồn hữu cơ và là nguyên nhân chính
dẫn đến đất bị bạc màu và môi trường bị ô nhiễm. Nên cần phải trả lại cho đất
nguồn hữu cơ mà cây đã lấy đi bằng cách xử lý nguồn nguyên liệu này bằng
chế phẩm vi sinh làm phân bón hữu cơ vi sinh.
Trong sản xuất nông nghiệp, phân bón có vai trò quyết định cả về chất
lượng và sản lượng thu hoạch. Ở nước ta, tình trạng sử dụng phân bón còn
chưa hợp lý, đa số người dân chưa biết sử dụng bón phân hóa học kết hợp với
phân hữu cơ vi sinh. Nhưng qua thời gian dài sử dụng phân hóa học mà không
bón phân hữu cơ vi sinh đã làm cạn kiệt nguồn hữu cơ và vi sinh vật trong đất
dẫn đến đất bị trai cứng; khả năng hấp thụ dinh dưỡng, khả năng tạo chất dinh
dưỡng và giữ nước kém. Không những thế mà giá thành phân bón hóa học
ngày càng tăng. Trong khi đó, phân hữu cơ vi sinh có rất nhiều ưu điểm: Cải
tạo đất tốt, làm tăng dinh dưỡng trong đất, giúp đất giữ dinh dưỡng và giữ
nước tốt, nâng cao chất lượng và sản lượng cây trồng, giúp cây chống chịu
bệnh tốt, giá thành thấp. Vì vậy, cần phải kết hợp bón phân hữu cơ vi sinh để
cải tạo lại đất trồng.
Phân hữu cơ vi sinh là sản phẩm tạo ra thông qua quá trình lên men vi
sinh vật, qua đó các hợp chất giàu xenluloza được phân hủy trở thành mùn.
Phân bón hữu cơ vi sinh đã được nghiên cứu từ nhiều năm nay có ý nghĩa
trong việc bảo vệ môi trường và xây dựng nền nông nghiệp bền vững. Các kết
quả nghiên cứu trong và ngoài nước cho thấy việc sử dụng phân hữu cơ vi
sinh có thể cung cấp cho đất và cây trồng từ 30 - 60 kg N/ha/năm hoặc giảm
1/2 - 1/3 lượng lân vô cơ nhờ các vi sinh vật phân giải phốt phát. Ngoài ra,
thông qua hoạt động sống của vi sinh vật cây trồng nâng cao được khả năng
trao đổi chất, khả năng chống chịu sâu bệnh và qua đó góp phần nâng cao
năng suất, chất lượng nông sản [34].
- 9 -
Từ lâu phân ủ đã được nông dân hầu hết các nước trên thế giới sử dụng
phục vụ cho sản xuất nông - lâm nghiệp nhằm cung cấp chất dinh dưỡng cho
cây trồng và tạo độ phì cho đất. Phân ủ có 3 loại phổ biến hiện nay:

không ngừng tăng từ 38,67 tạ/ha năm 2000 lên 40,4 tạ/ha năm 2005. Dẫn tới
tổng sản lượng lúa trên thế giới tăng từ 598,5 triệu tấn năm 2000 lên 614,5
triệu tấn năm 2005.
Trong 25 nước sản xuất chủ yếu thì 17 nước thuộc khu vực Châu Á
chiếm 91% diện tích, trong đó Trung Quốc và Ấn Độ là hai nước có sản
lượng lúa chiếm 55% tổng sản lượng lúa trên thế giới [30].
Đầu năm 2008, Thế giới đối đầu với cuộc khủng hoảng lương thực, giá
gạo xuất khẩu đạt mức kỷ lục 1060 – 1100 USD/tấn. Giá lương thực, thực phẩm
tăng đe dọa 100 triệu người. Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này:
Sự gia tăng dân số thế giới, cùng lúc gây áp lực đến một loạt các tài nguyên: Đất,
nước, dầu mỏ. Cộng với một số nước trên thế giới như Phillipin chuyển dịch
trong sản xuất nông nghiệp từ lương thực sang nhiên liệu sinh học. Đến cuối
tháng 5, đầu tháng 6/2008, giá gạo giảm mạnh còn 860 - 900 USD/tấn do dự báo
sản lượng ngũ cốc ở châu Á nơi cung cấp lương thực lớn tăng.
Châu Á là địa bàn cung cấp lúa gạo lớn nhất của thế giới với 609 triệu
tấn, tuy có giảm hơn năm trước 15 triệu tấn do sự sụt giảm sản lượng của Ấn
Độ vì ảnh hưởng của những cơn mưa mùa bất thường, bắt đầu là hạn hán,
lượng mưa thấp hơn mức trung bình và sau đó là mưa xối xả và lũ lụt. Năm
2009 sản lượng của nước này đạt 128 triệu tấn thóc giảm tới 21 triệu tấn
(tương đương 14%) so với năm 2008. Mức cung ở một số nước cũng thấp
hơn như Bănglađét, Đài Loan, Irắc, Nhật Bản, Nêpan, Pakistan, Philipin và
Sri Lanka. Ngược lại, bức tranh sản lượng tại các nước như Trung Quốc lục
- 11 -
địa, Afghanistan, Campuchia, Hàn Quốc, Indonesia, Iran, Lào, Myanmar,
Triều Tiên, Thái Lan và Việt Nam có phần sáng sủa hơn, chủ yếu nhờ thu
nhập từ sản xuất lúa gạo năm nay cao hơn so với những cây trồng khác nên
khuyến khích nông dân mở rộng diện tích.
Trong khi đó nguồn cung tại châu Phi bị tác động không tốt của yếu tố
thời tiết cũng như sự cắt giảm diện tích gieo trồng của Ai Cập khiến cho sản
lượng thu hoạch năm 2009 giảm khoảng 3% xuống còn 24,6 triệu tấn. Hạn

Theo FAO, tiêu thụ gạo thế giới (làm lương thực, thức ăn chăn nuôi
và các mục đích sử dụng khác) đạt 454 triệu tấn năm 2010, tăng 8 triệu tấn
so với năm 2009. Lượng lúa gạo chủ yếu dùng làm lương thực vào khoảng
389 triệu tấn so với 383 triệu tấn của năm 2009. Tuy nhiên, mức tăng này
vừa đủ đáp ứng nhu cầu về lương thực do tốc độ tăng dân số của thế giới và
vì thế sẽ giữ vững mức bình quân tiêu thụ đầu người khoảng 57,3
kg/người/năm.
2.2.2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ lúa gạo ở Việt Nam
* Tình hình sản xuất
Nghề trồng lúa ở Việt Nam có lịch sử lâu đời nhất so với nghề trồng lúa
ở các nước châu Á. Theo các tài liệu khảo cổ ở Trung Quốc, Ấn Độ, Việt
Nam Cây lúa đã có mặt từ 3000 - 2000 năm trước công nguyên. Tổ tiên
chúng ta đã thuần hóa cây lúa dại thành cây lúa trồng và đã phát triển nghề
trồng lúa đạt được những tiến bộ như ngày nay [5], [8].
Việt Nam có khí hậu và đất đai tương đối thuận lợi cho ngành trồng
lúa. Trong 4 thập niên vừa qua, diện tích, năng suất và sản lượng lúa của Việt
Nam tăng khá nhanh. Diện tích trồng lúa tăng từ 4,805 triệu ha trong 1966 -
1970 lên 7,447 triệu ha trong 2001 - 2005. Năng suất bình quân từ 1,87 tấn/ha
- 13 -
trong những năm 1966 - 1970 lên 2,98 tấn/ha trong 1986 - 1990, sản lượng lúa
đạt mức bình quân 34,7 triệu tấn trong giai đoạn 2001 - 2005 [42].
Trước năm 1945, diện tích trồng lúa ở 2 vùng đồng bằng Bắc bộ và
Nam bộ là 1,8 triệu và 2,7 triệu ha với năng suất bình quân 13 tạ/ha và sản
lượng thóc tương ứng 2,4 - 3,0 triệu tấn. Trong thời gian này chủ yếu là các
giống lúa cũ, ở miền Bắc sử dụng các giống lúa cao cây, ít chịu thâm canh, dễ
đổ, năng suất thấp.
Từ năm 1963 - 1965, ở những vùng chuyên canh lúa do diện tích nhiều,
thường có một số diện tích cấy chậm, bị muộn thời vụ. Nhờ tiến bộ kỹ thuật
đã đưa vào một số giống lúa xuân thấp cây, ngắn ngày nên đảm bảo được thời
vụ. Chuyển vụ chiêm thành vụ xuân, chuyển từ xuân sớm thành xuân chính

0,1 tạ/ha) cũng là yếu tố dẫn đến tăng sản lượng. Diện tích lúa thu đông tăng
mạnh so cùng kỳ do nước lũ về muộn, mực nước ở các sông thấp nên phần
lớn diện tích hè thu sớm sau khi thu hoạch đều có thể gieo sạ. Hầu hết các
địa phương có lúa hè thu và thu đông đều được hưởng điều kiện thời tiết
tương đối thuận lợi, tình hình sâu bệnh diễn biến ít phức tạp, ngoại trừ các
tỉnh miền Trung gặp nhiều khó khăn do thiếu nước không cấy hết được diện
tích, giữa vụ bị khô hạn, đến gần thời điểm thu hoạch hai cơn bão liên tiếp
xẩy ra dẫn đến năng suất lúa hè thu toàn vùng chỉ đạt 38,5 tạ/ha; giảm
6,1 tạ/ha (- 13,7%) so với vụ trước.
Lúa mùa: Diện tích gieo trồng lúa mùa đạt 1991,6 nghìn ha; giảm 26,3
nghìn ha (- 1,3%), chủ yếu do thiếu nước canh tác nên các địa phương miền
Bắc đã phải chuyển đổi những chân ruộng cao sang trồng các loại cây rau,
màu; năng suất lúa mùa đạt 46,1 tạ/ha; tăng 1,3 tạ/ha (+ 2,8%), trong đó
năng suất lúa mùa các tỉnh Bắc Trung Bộ chỉ bằng 95,3% so với năm trước
- 15 -
(- 2,1 tạ/ha) do bão lũ đã làm mất trắng gần như toàn bộ lúa mùa của hai tỉnh
Hà Tĩnh và Quảng Bình. Tuy nhiên năng suất chung cả nước vẫn tăng mạnh
do lúa mùa của các tỉnh miền Nam được mùa lớn, năng suất đạt 42,2 tạ/ha;
tăng 2,5 tạ/ha (+ 6,2%). Sản lượng lúa mùa đạt 9,17 triệu tấn; tăng 132,9
nghìn tấn (+ 1,5%), tăng đáng kể tại các tỉnh miền Nam với sản lượng đạt 3,4
triệu tấn; tăng 112,4 nghìn tấn (+ 3,4%).
* Xuất khẩu
Vào đầu thập niên 1990, đa số gạo xuất khẩu thuộc loại 15% hoặc 25%
tấm nên giá gạo xuất khẩu luôn thấp. Do giá lúa gạo trong nước và thế giới
giảm sút, Chính phủ đã điều hành giảm bớt diện tích đất trồng lúa và chuyển
đổi 200.000 ha đất kém phì nhiêu cho các nhu cầu sử dụng khác: Trồng cây
ăn quả, nuôi tôm, chăn bò Trong kế hoạch phát triển nông nghiệp 2000 -
2010, Nhà nước nhấn mạnh vào việc phát triển các giống lúa có chất lượng
cao để phục vụ xuất khẩu và tiêu dùng.
Nhờ chủ động được nguồn cung trong nước và cơ hội thuận lợi từ thị

thứ hai là CuBa cũng tăng trưởng mạnh gấp 1,6 lần về lượng và gần 2 lần
về
giá trị. Ngược lại, thị trường tiêu thụ truyền thống là Philippin lại sụt giảm
chỉ
bằng 6% cả lượng và giá trị so với 3 tháng đầu năm
ngoái (nguồn Trung
tâm Tin học và Thống kê – Bộ Nông nghiệp và PTNT).
2.3. Tình hình nghiên cứu phân hữu cơ vi sinh trên thế giới và Việt Nam
2.3.1. Tình hình nghiên cứu phân hữu cơ vi sinh trên thế giới
Từ xa xưa, năm 372 - 287 trước công nguyên, nhà triết học cổ Hy Lạp
(theo Phrastes) trong tập "Những quan sát về cây cối" đã coi cây họ đậu như
vật bồi bổ lại sức lực cho đất. Nhận xét này đã được nhiều người cổ La Mã
quan tâm. Vào những năm 30 trước công nguyên, họ đã đề nghị luân canh
giữa cây hòa thảo với cây họ đậu [26].
Năm 1886 Hellrigel và Uynfac đã tìm ra cơ chế của quá trình cố định
nitơ phân tử; năm 1895 - 1900 Anh, Mỹ, Balan và Nga bắt đầu sản xuất chế
phẩm vi sinh vật cố định nitơ phân tử; năm 1907 ở Mỹ người ta gọi chế phẩm
vi sinh vật này là những chỉ nitơ; năm 1900 - 1914 nhiều nước trên thế giới
sản xuất chế phẩm vi sinh vật: Canada, Tân Tây Lan, Áo. Theo Fred và cộng
sự, thì trong thời gian này có 10 nhà máy xí nghiệp sản xuất chế phẩm vi sinh
vật cố định nitơ phân tử, trong đó có 9 xí nghiệp ở châu Âu và 1 xí nghiệp ở
Tân Tây Lan. Từ năm 1964 vấn đề cố định nitơ phân tử được coi là một trong
hai vấn đề quan trọng nhất của chương trình sinh học quốc tế (IBP) [27].
Protoxop và cộng sự (1955) qua nhiều năm nghiên cứu và thí nghiệm
đã đưa đến kết luận: Vi khuẩn nốt sần cho hiệu quả cao nhất ở những vùng
- 17 -


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status