nghệ thuật trần thuật trong tiểu thuyết ai đã ăn hết những cây sing-a ngày ấy - Pdf 24

1
I. MỞ ĐẦU
1. Mục đích và ý nghĩa đề tài
Hiện nay, Hàn Quốc được biết đến là một quốc gia phát triển mạnh mẽ về
khoa học và công nghệ. Văn hóa Hàn Quốc đã trở thành một hiện tượng với sự lên
ngôi của nhiều lĩnh vực như: Điện ảnh, âm nhạc, thời trang, lễ hội, ẩm thực, nghệ
thuật làm đẹp… Nổi bật là nền văn học có lịch sử lâu đời từ hơn hai ngàn năm nay,
văn học Hàn Quốc thế kỉ XX cũng là một phần trong truyền thống và lịch sử đó.
Văn học giai đoạn này được hình thành giữa những biến đổi to lớn của dòng chảy
xã hội cận đại nên có những điểm rất khác biệt trên nhiều phương diện so với văn
học thời kì trước đó. Văn chương Hàn Quốc ngày nay càng chiếm lĩnh thị trường
sách dịch ở nhiều nước, trong đó có Việt Nam.
Ở Việt Nam, văn học Hàn Quốc đã thực sự là cây cầu nối liền hai nền văn
hóa Việt – Hàn. Những tác phẩm văn học Hàn Quốc ngày càng được giới thiệu
nhiều và có tính hệ thống. Tác phẩm của các nhà văn, nhà thơ như Lee Sang, Lee
Gwang-su, Kim Dong-in, Shin Kyung Sook được đông đảo bạn đọc tìm đến và
được giới nghiên cứu đánh giá cao.
Một trong những cây bút nữ tên tuổi đến từ Hàn Quốc đang được yêu thích
và trở nên gần gũi với bạn đọc Việt Nam là nhà văn Park wan – suh. Từ lâu, Park
wan – suh đã nổi tiếng ở Hàn Quốc và trên thế giới. Bắt đầu sự nghiệp văn học khá
muộn ở tuổi 40, nhưng bà đã để lại một khối lượng tác phẩm lớn với gần 20 tiểu
thuyết, hơn 150 truyện ngắn và nhiều tùy bút. Park wan – suh (1931 – 2010), sinh ra
tại huyện Gaepung, thuộc tỉnh Gyeonggi-do. Tốt nghiệp trường trung học nữ
Sookmuyng, từng nhập học tại khoa Văn trường Đại học Seoul năm 1950, song bà
lại không thể tiếp tục sự nghiệp học hành, bởi đó cũng chính là thời gian cuộc chiến
tranh hai miền Nam – Bắc bùng nổ. Với tiểu thuyết Cây trụi lá, bà đã đạt được giải
thưởng đầu tiên của mình do tạp chí Phụ nữ Đông Á trao tặng, bà chính thức đăng
đàn và liên tiếp nhận thêm 9 giải thưởng danh giá khác. Cho đến 80 tuổi, bà vẫn là
một cây bút cự phách, vẫn chứng tỏ được độ sung sức và dẻo dai của một cây bút
tài năng với nhiều tác phẩm có giá trị.
2

3
2. Lịch sử vấn đề
Thế kỉ vừa qua Hàn Quốc phải trải qua liên tiếp các biến cố, thử thách và nỗi
đau như thời kì thực dân, cận đại hóa, đất nước chia cắt, chiến tranh cải cách. Song
đây là thời kì mà dân tộc Hàn đã hun đúc được nguồn năng lượng mạnh mẽ để khắc
phục những thử thách đó. Văn học Hàn Quốc giai đoạn này đã sản sinh ra rất nhiều
nhà văn, nhà thơ và tác phẩm văn học xuất sắc. Một trong những cái tên được nhắc
đến là nhà văn Park wan-suh với tác phẩm Ai đã ăn hết những cây sing-a ngày ấy?.
Nội dung câu chuyện cho thấy một cách sinh động nhất cuộc sống của dân tộc Hàn
Quốc cũng như cảm xúc chân thành của một cá nhân trải nghiệm nhiều mất mát,
đau thương trong chiến tranh. Thể hiện phong phú tâm tư tình cảm của người Hàn
Quốc cũng như những giá trị và cái đẹp mà họ khát khao vươn tới.
Có thể thấy gần đây, ở Việt Nam, việc vận dụng lý thuyết tự sự học vào
nghiên cứu tác phẩm văn học là khuynh hướng có tính thời sự. Những vấn đề về lí
thuyết tự sự học được hình thành một cách có hệ thống, đã trang bị cho người tiếp
nhận công cụ quan trọng để giải mã, thâm nhập vào tác phẩm trên nhiều bình diện
như vấn đề người kể chuyện, điểm nhìn trần thuật, kết cấu, giọng điệu và ngôn
ngữ… Trong tình hình đó, đi sâu vào tác phẩm văn học từ góc nhìn này không chỉ
giúp người nghiên cứu tìm hiểu sâu hơn về mặt lí thuyết mà còn khám phá những
giá trị mới mẻ, độc đáo của tác phẩm, cũng như là con đường thấy rõ phong cách và
cá tính sáng tạo của nhà văn.
Nghệ thuật trần thuật được xem là một trong những vấn đề quan trọng và
phức tạp nhất của tự sự học. Theo nhà nghiện cứu Trần Đình Sử, tự sự học vốn là
một nhánh của thi pháp học hiện đại, hiểu theo nghĩa rộng, nghiên cứu cấu trúc của
văn bản tự sự và các vấn đề liên quan hoặc nói cách khác là nghiên cứu đặc điểm
nghệ thuật trần thuật và văn bản tự sự nhằm tìm một cách đọc.
Ở Việt Nam, đã có rất nhiều đề tài nghiên cứu về nghệ thuật trần thuật,
nhưng chỉ tập trung ở các tác giả Việt Nam hay những nền văn học lớn như Mỹ,
Nga, Trung Quốc, Nhật… Các công trình như “Nghệ thuật trần thuật trong tiểu
thuyết Tạ Duy Anh”, “Nghệ thuật trần thuật trong Báu vật của đời của Mạc Ngôn”,

5
hòa trộn từ mùi hương của cỏ cây, hoa rừng và phân xanh”. Đó là một trong những
đoạn miêu tả những hoài vọng ấu thơ đẹp nhất của tác giả trong cuốn Ai đã ăn hết
những cây sing-a ngày ấy?. Không ồn ào, hào nhoáng như điện ảnh hay âm nhạc, văn
chương Hàn Quốc, đặc biệt là dòng văn chương đương đại đến với độc giả Việt Nam
khá e dè. Sau vài cuốn nổi bật gần đây như Chơi Quiz – show, Hãy chăm sóc mẹ…
thì Ai đã ăn hết những cây sing-a ngày ấy? là một món lạ, vừa mang hơi hướng tự
truyện, vừa phảng phất nét lãng mạn hư cấu của văn chương. Bài viết Chiến tranh
làm con người khắc khoải nỗi đau của Thảo Yên có đoạn: “Park wan-suh đã viết “Ai
đã ăn hết những cây sing-a ngày ấy?” với cảm xúc chân thành của một người trải
nghiệm nhiều mất mát, đau thương trong chiến tranh để nói rằng: bất cứ cuộc chiến
nào cũng dẫn đến bi kịch, tang tóc… Hãy để hòa bình trên trái đất này!”
Trên các trang sách mạng cũng có những nhận xét về tác phẩm, như Ai đã ăn
hết những cây sing-a ngày ấy? là hồi ức của tác giả về một thời kì đau thương và
bất hạnh – từ thời kì đô hộ của Nhật Bản, cho đến những năm tháng diễn ra cuộc
đấu tranh giữa hai miền Nam Bắc – trên bán đảo Triều Tiên. Câu chuyện không
phải đọc bằng từ, bằng chữ mà là bằng cảm xúc.
Qua quá trình khảo sát lịch sử nghiên cứu về tiểu thuyết Ai đã ăn hết những
cây sing-a ngày ấy? của Park wan-suh tôi nhận thấy rằng chưa có công trình nào tập
trung về nghệ thuật trần thuật, phần làm nên thành công lớn của tác phẩm. Bởi vậy,
chúng tôi chọn đề tài “Nghệ thuật trần thuật trong tiểu thuyết Ai đã ăn hết những
cây sing-a ngày ấy? của Park wan-suh” góp thêm một cái nhìn đầy đủ hơn, tạo nền
tảng cho việc đi sâu khám phá vẻ đẹp tác phẩm từ góc độ nghệ thuật.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tác phẩm Ai đã ăn hết những cây sing-a
ngày ấy? của nhà văn Park wan-suh.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là bình diện của tự sự học về nghệ thuật trần
thuật, như điểm nhìn, người kể chuyện, không gian và thời gian nghệ thuật, ngôn
ngữ và giọng điệu.
6

sing-a ngày ấy?
Theo Từ điển thuật ngữ văn học, trần thuật là “phương diện cơ bản của
phương thức tự sự, là việc giới thiệu, khái quát, thuyết minh, miêu tả đối với nhân
vật, sự kiện, hoàn cảnh, sự vật theo cách nhìn của một người trần thuật nhất định”
[15, tr. 307]. Đối với một tác phẩm văn học, trần thuật có vai trò rất lớn. Nó là biện
pháp nghệ thuật cơ bản nhất để tạo thành văn bản văn học. Trần thuật là phương
diện cấu trúc của tác phẩm tự sự. Trong tiểu thuyết, với tư cách là một phương diện
thi pháp học đặc trưng của thể loại, trần thuật tập trung vào một hoặc nhiều cá nhân
và triển khai trong không gian, thời gian nhất định. Trần thuật tồn tại với nội dung
trần thuật và hình thức trần thuật, trong đó người trần thuật được xem là là người
dẫn dắt cốt truyện phát triển và hướng tiếp nhận của độc giả. Đó là một người do
nhà văn tạo ra để thay mình thực hiện hành vi trần thuật. Theo Từ điển thuật ngữ
văn học thì “người trần thuật là hình thái của hình tượng tác giả trong tác phẩm văn
học nghệ thuật, là người mang tiếng nói, quan điểm tác giả trong tác phẩm văn
xuôi” [15, tr. 191].
Trong tác phẩm văn học, hình tượng người trần thuật hay người trần thuật và
người kể chuyện đều quy ước là một. Qua lịch sử của đời sống văn học, từ văn học
dân gian đến văn học viết, có thể khẳng định rằng nếu không có người kể chuyện
thì sẽ không bao giờ có tác phẩm văn học. Nhưng để xây dựng thành công một hệ
thống lý thuyết, mang tính khoa học thì chỉ đến những năm 60 – 70 của thế kỉ XX,
các khái niệm về người trần thuật mới được phổ biến đầu tiên ở phương Tây.
Cũng như nhiều khái niệm khác, khái niệm người trần thuật cho đến nay vẫn
chưa được các nhà lí luận văn học thống nhất hoàn toàn. Theo Pospelov thì người
người kể chuyện là “người môi giới giữa các hiện tượng được miêu tả và người
8
nghe (người đọc), là người chứng kiến và cắt nghĩa sự việc xảy ra”. Trong quan
niệm của W.Kayser, người kể chuyện là một khái niệm mang tính chất cực kì hình
thức: “Đó là một hình hài được sáng tạo ra, thuộc về toàn bộ chỉnh thể tác phẩm văn
học. Ở nghệ thuật kể, không bao giờ người kể là vị tác giả chưa nổi danh, nhưng là
cái vai mà tác giả bịa ra và chấp nhận” [39, tr. 196].

của tác phẩm. Tiểu thuyết Ai đã ăn hết những cây sing-a ngày ấy? được trần thuật ở
ngôi thứ nhất, người kể xưng tôi. Một điểm đặc biệt ở đây là tác giả kể lại câu
chuyện của chính mình, gia đình mình, dân tộc mình. Ở đây nhà văn trao vai trò
người kể chuyện cho nhân vật xưng “tôi” nên về cơ bản nhân vật xưng “tôi” mang
quan điểm chủ quan của tác giả. Tác giả xây dựng hình tượng người kể chuyện
xưng “tôi” và ủy thác cho nhân vật này vai trò người kể chuyện. Câu chuyện lúc
này được kể theo điểm nhìn và dòng ý thức của nhân vật “tôi”, điều này làm cho
người đọc có cảm giác như đang trực tiếp chứng kiến câu chuyện xảy ra với những
cảm xúc rất chân thành của nhân vật.
Là một tác phẩm tự thuật, yêu cầu của nó là trình bày một cách súc tích
những sự kiện đã xảy ra trong cuộc đời của nhà văn. Tự thuật là sự thông báo về
quá khứ, đòi hỏi người viết phải hết sức tôn trọng tính xác thực của các sự kiện. Tự
thuật xưng tôi trong văn bản tự sự chưa hẳn là thể loại tự truyện, nhưng tự truyện,
nhất thiết phải mang đặc điểm tự thuật. Tự truyện phải được kể ở ngôi thứ nhất, câu
chuyện được kể phải là chính nhân vật xưng tôi đã “nếm trải” và sự “nếm trải” của
của cái tôi tự thuật đó, phải trở thành trung tâm của việc tổ chức trần thuật. Như
vậy, cái tôi tự thuật trong thể loại tự truyện hàm chứa nhiều vai: người tự thuật đồng
thời là người trần thuật, người kể chuyện và cũng chính là tác giả kể lại câu chuyện
của chính mình.
Tự truyện là một thể loại tự sự sớm hình thành và phát triển trên thế giới gắn
với tên tuổi những nhà văn lớn như Rútxô với Tự thú; L.Tônxôi với Thời thơ ấu,
Thời thiếu niên, Thời thanh niên; M. Gorky với Thời thơ ấu, Kiếm sống, Những
trường đại học của tôi… Hình tượng người trần thuật trong các tự truyện diễn ra
linh hoạt, khi thì bản thân nhà văn tự kể về mình, khi thì thông qua nhân vật trung
10
tâm trong truyện quan sát, suy nghĩ, hành động với nhiều mối quan hệ phức tạp. Cái
làm nên bức chân dung tự họa rõ nét nhất trong tác phẩm tự truyện là diễn biến của
thế giới nội tâm nhân vật qua ngôn ngữ người kể chuyện. Những câu chuyện nhà
văn tự kể về mình là cơ hội để thu hút độc giả, do đó tiếp nhận hình tượng nghệ
thuật trong tự truyện là sự tiếp thu những điều sâu kín nhất, trung thực nhất, gần gũi

tộc Hàn, với ý nghĩ muốn con gái trở thành “thiếu nữ tân thời năng động”. Trên con
đường đến Seoul, nhân vật tôi không khỏi ngạc nhiên trước vẻ tráng lệ của Songdo
mà lần đầu tiên được thấy. Tâm trạng của cô được diễn tả với một vẻ thích thú, vừa
thấy sợ hãi, cảm giác vừa muốn tiếp tục theo mẹ đến vùng đất mới đầy thần kì, nửa
muốn quay về với ông bà nội. Trong vai cái tôi tự thuật, tác giả đã bộc lộ những
cảm xúc đầy chân thật, để rồi người đọc có thể hình dung ra được tác giả trong câu
chuyện mình kể. Khi con tàu bắt đầu lăn bánh thì chính là lúc tâm trạng cô vỡ òa,
nhìn thấy cảnh bà nội lủi thủi bên ngoài cửa sổ khiến cô day dứt, khó chịu, nước
mắt trào ra lăn dài trên má.
Rồi “tôi” cũng đến Seoul, nhưng là sống bên ngoài thành, mẹ đăng kí cho cô
học ở một trường nội thành. Rồi mẹ còn cấm cô chơi với những đứa trẻ trong xóm
với ý nghĩ: “Con là con nhà dòng dõi, chới với lũ trẻ không được dạy dỗ tử tế trong
xóm này thì chỉ có nhiễm thói hư tật xấu thôi. Đừng có ra ngoài chơi” [36, tr. 77].
Nhưng với suy nghĩ của một đứa trẻ mới lên tám thì cô bé luôn luôn tò mò về
những gì diễn ra xung quanh mình. Xung quanh nơi cô ở, toàn những người lao
động vất vả: thợ hàn, khuôn vác, sửa ống khói… với tính hiếu động của mình, cô đã
trốn mẹ ra ngoài chơi với bọn trẻ trong xóm.
Tiếp tục câu chuyện về kể cuộc đời mình đó là những lúc cô đến trường, cô
cảm thấy bất hạnh khi không kết bạn được với những đứa trẻ ở Seoul, không thể
đến gần cô giáo được. Những lúc thấy cô đơn Wan-suh lại nhớ về quê nhà, ngọn núi
phía sau nhà có nhiều thứ có thể ăn được, bứt lá thài lài làm sáo thổi, lượm da rắn
về nhà cất trong tủ vì tin rằng sẽ giàu có. Một hôm khi đi qua ngọn đồi trên đường
đi học, thấy bọn con trai bẻ lấy cành hoa keo và cho vào miệng ăn ngon lành, cô bắt
chước làm theo. Nhưng cái vị hoa keo ấy tanh lờm và lờ lợ. Nó làm cô nhớ đến
12
những cây sing-a ở quê, là một loại cây thuộc họ rau răm, có tên khoa học là
Aconogonum Polymornhum. Đây là loại cây thân thảo, sống lâu năm, thường mọc
ở sườn núi. Thân cây cao khoảng một mét, cành vươn thẳng, nở hoa màu trắng từ
tháng sáu đến tháng tám, ngọn non và có vị chua nên trẻ con Hàn Quốc rất thích ăn.
Nhưng dù cố gắng tìm mãi thì vẫn không thấy ngọn sing-a nào. Với cái tôi tự thuật,

cô phải lận đận đi xin cấp thẻ thị dân vì bị tố cáo là gia đình cộng sản. Cả nhà đi sơ
tán vì mục tác chiến, băng qua cầu sông Hàn, họ lại trở về với phường Huyeonjeo-
dong, nơi mà người kể chuyện đã từng bảo rằng là địa chỉ duy nhất không bao giờ
quên.
Có thể nói rằng bằng cái tôi tự thuật, Park Wan-suh đã bày tỏ lòng mình một
cách chân thực và rõ ràng, người đọc như đang nhập tâm vào câu chuyện với những
cử chỉ và hành động chân thực, cuộc đời cô gái cứ hiện lên mồn một. Park wan-suh
đã dùng cái tôi tự thuật để bày tỏ toàn bộ cuộc đời mình. Người kể chuyện trong thể
loại tự truyện-nhân vật xưng tôi có khả năng quan sát mọi biến cố trong câu chuyện
khai thác mọi chiều sâu tâm lí của nhân vật một cách tối ưu nhất. Với cái tôi tự
thuật thì người kể chuyện mới có thể nói lên những giấc mơ sâu kín trong tâm hồn
mình một cách dễ dàng nhất.
Cái tôi tự thuật còn được thể hiện ở việc miêu tả cảm giác tò mò mãnh
liệt trong cô khi ngủ chung với cô chú mình. “Đèn vừa phụt tắt, tôi trùm chăn kín
đầu, giả bộ như đã ngủ rồi, thế nhưng mọi giác quan của tôi đều căng ra. Không còn
nghi ngờ gì nữa, tôi đang chờ đợi để lần đầu tiên trong đời được chứng kiến chuyện
gì xảy ra giữa một người đàn ông và một người đàn bà” [36, tr. 255].
Người kể chuyện trong tác phẩm đã thật sự bày tỏ nỗi lòng của mình một
cách thành thật nhất, lần đầu tiên trong đời, cái cảm giác làm cô không thể nào kiềm
chế được, cái ham muốn ấy bị dồn nén và đẩy lên đến đỉnh điểm trong cõi tiềm thức
của nhân vật xưng tôi.
Như vậy, với việc lựa chọn phương thức trần thuật ngôi thứ nhất với cái tôi
đóng vai người kể chuyện là một thao tác nghệ thuật rất thành công trong việc hé
mở bức màn nội tâm của nhân vật. Có thể thấy hình tượng người kể chuyện xưng
14
“tôi”, tự thuật lại câu chuyện của mình, những biến cố trong cuộc đời, tất cả điều
được tái hiện một cách chân thật qua hình tượng cô bé Wan-suh từ lúc nhỏ cho đến
khi trưởng thành và những lúc đất nước có chiến tranh, tất cả hiện lên xung quanh
nhân vật “tôi”, những sự việc được kể lại với những gì mình đã trải qua, đã chứng
nghiệm, mang tính chủ quan của người kể chuyện, nghĩa là nhân vật không tách rời

ông trở nên cam chịu và tìm ra một thú vui nho nhỏ là gom những đứa trẻ lại và dạy
chữ cho chúng.
Rồi ông bị trúng gió lần hai, bầu không khí trong nhà trở nên u ám. Vì được
kể dưới góc nhìn của của nhân vật tôi, khi kể về câu chuyện của người khác nó
mang tính khách quan của người kể chuyện về nhân vật được kể. Khi nói về ông nội
thì có nhận xét:
Nói ra thì hơi xấu hổ, nhưng ông nội chỉ biết tỏ vẻ ta đây thuộc tầng lớp
lưỡng ban, chứ chẳng ý thức được cái gọi là tinh thần tự hào dân tộc hay ý thức thời
đại gì đó. Việc làm ra vẽ lưỡng ban của ông thật ra chỉ là sự xem thường các lưỡng
ban cấp thấp hơn. Còn về trách nhiệm của một lưỡng ban, đó chỉ đơn giản là sự bảo
thủ đối với việc hôn sự của con cái. Ông chỉ chấp nhận làm thông gia với gia đình
lưỡng ban môn đăng hộ đối với nhà chúng tôi. Dù xem trọng hay xem thường người
khác, câu kết luận ngắn gọn của ông vẫn là: Nòi nào giống nấy, cốt cách không thể
lẫn được [36, tr. 47].
Những kỉ niệm cùng ông nội rất nhiều, như có những khi người đưa thư đến
đưa thư rồi nghỉ ở thềm phòng khách, cô lại chạy nhanh xuống nhà dưới đánh tiếng
để người bếp chuẩn bị thứ gì đó để đãi khách. Đó cũng chính là sự giao ước không
lời giữa cô và ông. Mỗi lần như thế ông lại âu yếm: Chó con, đúng là thấu rõ cái dạ
của ông. “Ấy vậy mà tôi lại thấy ghét kinh khủng cái lúc ông nội đưa cho mảnh
khăn đã nắm lại giống như hột dẻ luộc hay mẫu bánh bột mì gì đó. Chiếc khăn dùng
để thấm nước canh nên lúc nào cũng ướt nhoẹt và còn bốc cả một thứ mùi chua
lòm” [36, tr. 43]. Đó là những cảm xúc không thể nào giấu diếm của một cô bé có
một tình cảm đặc biệt đối với ông mình.
16
Ông nội mất sau lần trúng gió thứ ba, nhưng Wan-suh đã không nhỏ một giọt
nước mắt nào trong đám tang ông nội. Dù không khóc nhưng kí ức về ông, Wan-
suh đều nhớ rất rõ cho đến khi trưởng thành, cô cho rằng điều này không thuộc về
trí nhớ mà do vấn đề tình cảm. Sợi dây thừng treo lơ lửng trên xà nhà mà ông nội đã
dùng để trèo lên trèo xuống lúc còn sống vẫn còn giữ ở đó. Để rồi mỗi lần về quê,
hình ảnh chiếc dây đập vào mắt cô làm cô có cảm giác đau đớn. Cô thường bám lấy

được đi học, sống đầy đủ. Nhưng đôi khi qua góc nhìn của cô bé Park wan-suh thì
đôi lúc cô thấy mẹ cực đoan khi không cho chơi cùng những đứa bạn trong xóm.
Những ngày nghỉ hè, mẹ đưa hai anh em về quê, đó là những lúc mẹ hãnh
diện nhất vì quyết định đưa hai con lên Seoul ăn học là đúng. Mẹ luôn ao ước có
được căn nhà ở Seoul, những lúc đi xem nhà, mẹ thường xuyên diện những bộ cánh
đẹp nhất và nét mặt cũng thể hiện sự giàu có. Rồi cô lại nghĩ về mẹ rằng: “Có lẽ do
mẹ tôi e ngại những Bokteokbang (người mua giới nhà đất) sẽ nhìn ra chân tướng
của mình, bởi lúc đó mẹ chưa có tiền, mới chỉ đi xem để lấy kinh nghiệm mà thôi”
[36, tr. 144]. Rồi mấy ngày sau nhờ sự liều lĩnh một cách ngông cuồng của mẹ mà
mẹ mua được căn nhà sáu buồng trên đỉnh phường Hyeonjeo-dong.
Khi đất nước xảy ra chiến tranh, mẹ càng lo lắng hơn cho những đứa con của
mình, khi nhận được giấy báo nhập ngũ của anh, mẹ đã rất lo lắng. Khi tình trạng
lương thực khó khăn, mẹ liều lĩnh về quê giấu gạo vào trong bọc quần, còn giắt cả
vào bụng để đem lên cho những đứa con của mình. Khi anh muốn cưới vợ, mẹ đã
nhượng bộ anh tôi, chấp nhận đi xem mặt cô gái anh chọn. Hình ảnh mẹ hiện lên
trong lời kể chuyện của nhân vật tôi thật có nhiều sắc thái, lúc là một người mẹ
cứng rắn, đôi lúc cực đoan, nhưng đôi khi lại rất hiền hậu nhân từ, kèm theo đó là
những nhận xét khách quan của nhân vật, đứng từ góc độ của người kể chuyện xưng
tôi, nói lên những gì mình thấy và cảm nhận được về người khác.
Người anh cũng được nhắc đến nhiều trong lời kể của nhân vật tôi. Từ nhỏ
anh đã được gửi đi học ở Seoul. Khi cô bị điểm thấp, chính nhờ sự khéo léo của anh
mà đã an ủi được lòng tự trọng bị tổn thương của mẹ. Anh bảo hai môn văn toán
18
điểm 9 được rồi, nên những môn còn lại kém một tý cũng không sao. Mẹ đã rất hài
lòng với cách xem điểm số của anh tôi. Không những thế mẹ còn lập tức tán dương
những đứa kém về hát, thể dục, mỹ thuật,… là những đứa học giỏi. Anh là một
người rất trầm tính, vậy mà khi mẹ và em gái bị gia đình người bán tạp hóa đến gây
sự cũng nhảy vào bảo vệ, xô đẩy họ, vì vậy bị họ bảo là đứa mất dạy, lúc đó mẹ đã
rất buồn.
Anh vừa là cháu trưởng lại vừa là đứa cháu trai duy nhất trong nhà. Khi

như là các chú, các thím, những người xung quanh. Không chỉ là chứng nhân đối
với những gì xảy ra của những người quanh mình mà người kể chuyện còn là chứng
nhân của những biến cố xảy ra đối với dân tộc mình. Bằng những gì mình đã chứng
kiến và trải nghiệm nhân vật tôi như viết lên những trang sử của dân tộc.
Những sự kiện lịch sử, chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, Nhật Bản liên
tiếp thắng trận ở Nam Thái Bình Dương. Khi cô thi vào trương trung học nữ
Sukmeong là thời điểm bước vào giai đoạn cuối thời kì Nhật Bản thống trị. Ngày 15
tháng 8, quân Nhật Bản thua trận, đất nước được giải phóng. Giữa lúc đó, lính Mỹ
và Liên Xô đã tràn vào Triều Tiên, lấy vĩ tuyến 38 làm ranh giới phân chia vùng
tiếp quản. Tháng 5 năm 1950, chiến tranh Nam – Bắc Hàn diễn ra. Tình hình đất
nước thay đổi chóng mặt, quân Bắc Hàn tràn qua vĩ tuyến 18, không lâu sau chiếm
được Seoul. Cuối cùng quân Nam Hàn cũng giành được thắng lợi nhờ sự giúp đỡ
của Liên Hiệp Quốc. Sống trong thời kì đất nước có nhiều biến động, người kể
chuyện bằng cái nhìn khách quan của mình đã kể lại những gì mình đã chứng kiến,
những sự kiện đưa ra giúp người đọc cảm nhận được những gì đã xảy ra trong quá
khứ. Với cái “tôi” trần thuật, làm gia tăng tính chân thật cho câu chuyện được kể.
Như vậy, với người kể chuyện ở ngôi thứ nhất xưng “tôi” kể lại câu chuyện
của những con người quanh “tôi” mà ở đó “tôi” không phải là nhân vật trung tâm,
cũng như khả năng bày tỏ tâm lí, cảm xúc của từng nhân vật hoặc những sự kiện ở
bên trong tâm “tôi” đều không kiểm soát được. Những cảm xúc mà người kể
20
chuyện “tôi” có được khi nhờ vào sự đồng cảm, sự chia sẻ tấm lòng yêu thương mà
“tôi” trao cho mọi người.
Lựa chọn phương thức trần thuật ngôi thứ nhất với cái “tôi” đóng vai người
kể chuyện là một thao tác nghệ thuật rất thành công của nhà văn Park wan-suh trong
việc hé mở bức màn nội tâm của các nhân vật. Khi lựa chọn hình thức tự truyện
bằng hai cách, cái tôi tự thuật và cái tôi chứng nhân là điểm đột phá mang tính sáng
tạo của nhà văn. Người trần thuật trong Ai đã ăn hết những cây sing-a ngày ấy?
cũng đồng thời là nhân vật trong câu chuyện. Người đọc đối diện với các nhân vật
không chỉ thông qua hành động, mà còn được chứng kiến họ trong những suy tư,

hợp giữa người kể và người đọc hàm ẩn” [38, tr. 96].
Điểm nhìn trong tác phẩm văn học phong phú đa dạng với nhiều kiểu loại
khác nhau như: Điểm nhìn toàn tri, điểm nhìn ngôi thứ nhất, điểm nhìn ngôi thứ ba,
điểm nhìn thời gian, điểm nhìn bên trong, điểm nhìn bên ngoài…Trong Dẫn luận
thi pháp học, Giáo sư Trần Đình Sử cho rằng điểm nhìn có các loại như: điểm nhìn
của người trần thuật, tác giả hay của nhân vật trữ tình và của nhân vật trong tác
phẩm tự sự; điểm nhìn không gian – thời gian; điểm nhìn đánh giá tư tưởng cảm
xúc; điểm nhìn bên trong, bên ngoài; điểm nhìn ngôn ngữ, quán ngữ. tuy có nhiều ý
kiến khác nhau, nhưng điều nêu bật vai trò và chức năng quan trọng của điểm nhìn
trong văn bản nghệ thuật. Những điểm nhìn này được thể hiện ở nhiều góc độ và
xuyên suốt chiều dài tác phẩm.
Tiểu thuyết là một hình thức kể chuyện đặc biệt. Truyện do tác giả viết ra
nhưng được trần thuật từ một hoặc nhiều điểm nhìn khác nhau. Điểm nhìn trần thuật
trong chỉnh thể nghệ thuật của tác phẩm trở thành một yếu tố tạo thành hình thức
cho truyện. Điểm nhìn trần thuật được chia từ nhiều tiêu chí: chủ thể, khách thể,
không gian, thời gian, bên ngoài hay bên trong, ngôn ngữ… Dựa vào các tiêu chí đó
ta thấy tiểu thuyết Ai đã ăn hết những cây sing-a ngày ấy? được trần thuật theo
điểm nhìn ngôi thứ nhất, trong đó có các điểm nhìn là: điểm nhìn bên trong và điểm
nhìn bên ngoài.
22
1.2.1. Điểm nhìn bên trong
Hình thức trần thuật từ ngôi thứ nhất với điểm nhìn bên trong là một dạng
trần thuật phổ biến của tiểu thuyết đương đại. Điểm nhìn bên trong có ba dạng tiêu
biểu: điểm nhìn cố định (một nhân vật kể hết mọi chuyện không chia sẻ vai kể cho
bất kì ai); điểm nhìn bất định (vai kể được chia cho các nhân vật trong truyện với
những câu chuyện của riêng mình) và điểm nhìn đa bội (cùng một sự việc nhưng
được thuật lại với nhiều vai kể). “ Điểm nhìn bên trong biểu hiện bằng hình thức tự
quan sát của nhân vật “tôi”, bằng tự thú nhận, hoặc bằng hình thức người trần thuật
dựa vào giác quan, tâm hồn nhân vật để biểu hiện cảm nhận về thế giới” [37, tr.
153]. Như vậy điểm nhìn bên trong cho phép trần thuật qua lăng kính của một tâm

âm thanh của thế giới yên bình và êm ả đang vỡ tan trong lồng ngực, một thứ cảm
xúc hồi hộp của bản năng khi đứng trước ngã ba đường, phải lựa chọn cuộc sống
thích nghi và đấu tranh để sinh tồn” [36, tr. 54].
Điểm nhìn bên trong còn thể hiện những cảm xúc, cách nghĩ của nhân vật
“tôi” khi tiếp xúc với những người xung quanh mình, gắn với nội tâm chủ quan của
nhân vật. Trong làng, mẹ là người phụ nữ thuộc vào hàng biết chữ ít nhiều nên đôi
lúc có người nhờ mẹ viết thư hộ.
Mẹ tỏ ra hơn người vì biết đọc và viết được ngạn văn, song thực tế, hiểu biết
của mẹ về chữ Hàn thực ra lại vô cùng ngây ngô, ngây ngô đến độ mông muội.
Sejong Đại Đế là người tạo ra chữ Hàn, điều đó thì mẹ biết. Nhưng theo mẹ, cái
việc tạo ra chữ Hàn ấy lại là do trong lúc đi vệ sinh, Ngài nhìn qua khung cửa và đã
chợt nảy ra sáng kiến sáng tạo ra chữ Hàn [36, tr. 39].
Khi đến nhà họ hàng ở phường Sajik-dong nhận giấy báo thi đậu của cô,
nghe câu chuyện giữa mẹ và người giúp việc, nhân vật tự bộc lộ một tâm trạng rất
buồn: “Tôi hối hận vì giá như mình làm sai thêm một câu nữa thì có khi bây giờ đã
không trở thành gánh nặng vất vả cho mẹ, nhưng không thể quay lại được nữa rồi”
[36, tr. 76].
24
Nỗi cô đơn của nhân vật tôi cũng được bộc lộ khi ở Seoul và đó cũng là sự
bế tắc của con người trước cuộc đời. Ở trong xóm mẹ không cho ra ngoài chơi, cô
đã phải thốt lên với bản thân rằng:
Thà rằng mẹ lấy dây thừng mà trói ngoéo cổ chân tôi vào cái cột nhà còn
hơn. Rốt cuộc, chẳng hiểu mẹ muốn tôi phải thế nào? Mẹ đang muốn tôi phải hành
xử như đang không có mặt ở đây. Mẹ không chịu hiểu một điều rằng điều đó khó
khăn thế nào với một đứa trẻ tám tuổi, vốn luôn luôn cảm thấy bị bó hẹp trong cái
thôn Parkjoek chật chội, nên lúc nào cũng tung tăng chạy nhảy khắp nơi như một
chú ngựa non dạn dĩ [36, tr. 64].
Ngay cả không gian chơi trốn tìm cũng không có, rồi cô cùng đứa trẻ trong
xóm vẽ lên tường người khác bằng bút chì. Đứa bạn bỗng nảy ra một đề nghị lạ
lùng:

khác nào như với loài thú vật; cô giáo người Nhật với ánh mắt vừa tỏ vẻ vừa khinh
miệt lẫn thương hại, nhìn một người không biết một chữ tiếng Nhật như mẹ tôi như
nhìn một kẻ man di lúc đến nhà, vân vân và vân vân vân… [36, tr. 150]
Như vậy, qua điểm nhìn bên trong, người kể chuyện thâm nhập vào đời sống
nội tâm nhân vật, phân tích mổ xẻ hoặc để nhân vật tự bộc lộ tình cảm của mình. Ở
đây, nhân vật “tôi” tự bộc lộ tâm trạng của mình một cách chân thật, sâu sắc và tinh
tế. Do đó, điểm nhìn bên trong là cách khai thác tốt nhất để nhân vật tự nói lên bằng
tiếng nói, bằng âm sắc của chính mình thông qua độc thoại nội tâm. Ở đó nhân vật
tồn tại với cuộc sống nội tâm phức tạp, cô đơn, bí ẩn.
1.2.2. Điểm nhìn bên ngoài
Khác với điểm nhìn bên trong, điểm nhìn bên ngoài là vị trí quan sát có tính
khách quan của người trần thuật. Đó là điểm nhìn đặt ở người dẫn dắt hoặc giới
thiệu về câu chuyện. Người trần thuật đứng ở một vị trí nào đó trong không gian,
thời gian bao quát mọi diễn biến của câu chuyện và thuật lại câu chuyện. Trong Ai
đã ăn hết những cây sing-a ngày ấy?, Park wan-suh đã trao quyền cho nhân vật
chính xưng “tôi” làm nhiệm vụ dẫn dắt và kể lại toàn bộ câu chuyện.

Trích đoạn Ngôn ngữ người kể chuyện Ngôn ngữ nhân vật Ngôn ngữ lịch sử, văn hóa Giọng điệu khách quan, lạnh lùng Giọng điệu trữ tình, triết lý
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status