MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 3
B. NỘI DUNG 3
I. Giới thiệu về khu dự trưc sinh quyển thế giới 3
1.1. Khái niệm 3
1.2. Các tiêu chí để trở thành khu dự trữ sinh quyển thế giới 4
1.3. Chức năng của khu dự trữ sinh quyển thế giới 4
1.4. Đặc trưng 5
II. Các khu dự trữ sinh quyển thế giới ở Việt Nam 6
2.1. Khu dự trữ sinh quyển Cần Giới 6
2.1.1. Vị trí địa lý 6
2.1.2. Sự hình thành 7
2.1.3. Hệ sinh thái 7
2.1.4. Các vùng của khu dự quyển 10
2.1.5. Du lịch sinh thái 12
2.2. Khu dự trữ sinh quyển Châu thổ sông Hồng 13
2.2.1. Tổng quan 13
2.2.2. Hệ sinh tháí 14
2.2.3. Các vùng của khu dự quyển 16
2.2.4. Tiềm năng du lịch 17
2.3. Khu dự trữ sinh quyển miền tây Nghệ An 18
2.3.1. Tổng quan 18
2.3.2. Đa dạng sinh học 19
2.4. Khu dự trữ sinh quyển quần đảo Các Bà 20
2.4.1. Tổng quan 20
2.4.2. Đa dạng sinh học 21
1
2.4.3. Các vùng trong khu dữ trữ sinh quyển 24
2.4.4. Phát triển các loại hình du lịch 25
2.5. Khu dự trữ sinh quyển Cù Lao Chàm 26
2.5.1. Tổng quan 26
Và ở nước ta đã xây dụng được một số khu dự trữ sinh quyển đã được
UNESCO công nhận
B. NỘI DUNG
I. Giới thiệu về khu dự trưc sinh quyển thế giới
1.1. Khái niệm
3
Khu dự trữ sinh quyển thế giới là một danh hiệu do UNESCO trao tặng cho
các khu bảo tồn thiên nhiên có hệ động thực vật độc đáo, phong phú đa dạng. Theo
định nghĩa của UNESCO, Khu dự trữ sinh quyển thế giới là những khu vực hệ sinh
thái bờ biển hoặc trên cạn giúp thúc đẩy các giải pháp điều hòa việc bảo tồn sự đa
dạng sinh học với việc phát triển bền vững khu vực đó có giá trị nổi bật, được quốc
tế công nhận
Khu dự trữ sinh quyển được tổ chức thành 3 vùng:
- Vùng lõi: nhằm bảo tồn lâu dài đa dạng loài, các cảnh quan, hệ sinh thái.
- Vùng đệm: nằm bao quanh hoặc tiếp giáp vùng lõi. Ở đây, có thể tiến hành
các hoạt động kinh tế, nghiên cứu, giáo dục và giải trí nhưng không ảnh hưởng đến
vùng lõi.
- Vùng chuyển tiếp: nằm ở ngoài cùng. Tại đây, các hoạt động kinh tế vẫn
duy trì bình thường trên cơ sở phát triển bền vững nguồn lợi tài nguyên thiên nhiên
mà khu dự trữ sinh quyển đem lại.
1.2. Các tiêu chí để trở thành khu dự trữ sinh quyển thế giới
Gồm 7 tiêu chí:
- Khu vực đề cử có đại diện đa dạng các hệ sinh thái của những khu vực địa lý
sinh vật chính, bao gồm cả những giai đoạn phát triển có sự tác động của con người.
- Khu vực đề cử có giá trị bảo tồn đa dạng sinh học cao.
- Khu dự trữ sinh quyển đó có thể thực hiện phát triển theo hướng bền vững
tại khu vực.
- Khu dự trữ sinh quyển có diện tích thích hợp để đáp ứng được ba chức
năng của khu dự trữ sinh quyển.
- Khu vực đó có đủ những vùng thích hợp.
• Các khu dự trữ sinh quyển thế giới được điều phối bởi Ủy ban MAB của
UNESCO trong khi các khu bảo vệ (PA) được điều phối bởi IUCN.
Danh sách các khu dự trữ sinh quyển thế giới tại Việt Nam
Miền Bắc Khu dự trữ sinh quyển Châu thổ sông Hồng
Khu dự trữ sinh quyển Cát Bà
Miền Trung Khu dự trữ miền tây Nghệ An
Khu dự trữ sinh quyển Cù Lao Chàm
5
Miền Nam Khu dự trữ sinh quyển Cần Giờ
Khu dự trữ sinh quyển Cát Tiên
Khu dự trữ sinh quyển Mũi Cà Mau
Khu dự trũ ven biển và biển đảo Kiên Giang
II. Các khu dự trữ sinh quyển thế giới ở Việt Nam
2.1. Khu dự trữ sinh quyển Cần Giới
Khu dự trữ sinh quyển Cần Giờ còn gọi là Rừng Sác là một quần thể gồm
các loài động, thực vật rừng trên cạn và thuỷ sinh, được hình thành trên vùng châu
thổ rộng lớn của các cửa sông Đồng Nai, Sài gòn và Vàm Cỏ Đông, Vàm Cỏ Tây.
UNESCO đã công nhận đây là khu dự trữ sinh quyển thế giới với hệ động thực vật
đa dạng độc đáo điển hình của vùng ngập mặn. Nơi đây được công nhận là một khu
du lịch trọng điểm quốc gia Việt Nam.
Tên chính thức: Khu dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn Cần Giờ, TP Hồ Chí
Minh
Tên ngắn gọn: Khu dự trữ sinh quyển Cần Giờ
Ngày được UNESCO công nhận : 21/01/2000
2.1.1. Vị trí địa lý
Khu dự trữ sinh quyển rừng mặn Cần Giờ được hình thành ở hạ lưu hệ
thống sông Đồng Nai – Sài Gòn nằm ở cửa ngõ Đông Nam Thành phố Hồ Chí
Minh Tọa độ: 10°22’ – 10°40’ độ vĩ Bắc và 106°46’ – 107°01’ kinh độ Đông.
Cách trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh khoảng 40 km, khu dự trữ sinh
quyển Cần Giờ giáp tỉnh Đồng Nai ở phía Bắc, giáp biển Đông ở phía Nam, giáp
Đồng Nai, cùng với ảnh hưởng của biển kế cận và các đợt thủy triều mà hệ thực vật
7
nơi đây rất phong phú với trên 150 loài thực vật, trở thành nguồn cung cấp thức ăn
và nơi trú ngụ cho rất nhiều loài thủy sinh, cá và các động vật có xương sống khác.
* Hệ thực vật:
Trước ngày 30/4/1975, rừng ngập mặn Cần Giờ có 40.000 ha; tán rừng dày,
với cây rừng cao trên 25 m, đường kính 25-40 cm, Đước đôi (Rhizophora
apiculata) là loài chiếm ưu thế, cùng với các quần xã khác như Bần đắng
(Sonneratia alba), Mắm trắng (Avicennia alba), Đưng (R. mucronata), Vẹt
(Bruguiera spp.), Xu (Xylocarpus spp), Cóc (Lumnitzera spp.), Chà là (Phoenix
paludosa). Giá (Excoecaria agallocha) v.v Ngoài rừng ngập mặn, khu vực huyện
Cần Giờ còn có các vùng đồi đất đỏ bazan như Giồng Chùa. Giồng Ao v.v có các
loại cây cỏ, cây bụi và các loài cây tái sinh tự nhiên thuộc rừng mưa ẩm, nhiệt đới.
Từ năm 1964 đến 1970, đế quốc Mỹ đã dùng chất độc hoá học rải dọc theo
trục sông Lòng Tàu sâu vào rừng mỗi bên vài trăm mét. Các đợt rải được tiến hành
nhiều lần bằng máy bay làm rừng ngập mặn Cần Giờ bị huỷ diệt hoàn toàn, hầu hết
các loại cây rụng lá và chết. Các loài cây như Đước, Đưng gần như biến mất. Một
số ít cây Dà (Ceriops spp), Giá (Excoecaria agallocha) ven bờ kênh rạch tái sinh
theo từng cụm nhỏ, nơi đất ngập triều có Mắm, trên đất cao có Chà là nước
(Phoenix paludosa) và các loài Ráng đại (Acrostichum aureum), Dây mủ
(Gymnanthera mitida), Cóc kèn (Derris trifoliata), Chùm lé (Azima sarmentosa),
Lức (Pluchea indica), Chùm gọng (Clerodendrum inerme)…
Hình 2: Cây đước
Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng 30/4/1975, rừng ngập mặn Cần
Giờ thuộc địa phận huyện Duyên Hải, tỉnh Đồng Nai. Đến năm 1978, huyện Duyên
Hải được giao lại cho thành phố Hồ Chí Minh với tổng diện tích toàn huyện lúc đó
là 71.361 ha, trong đó diện tích rừng ngập mặn và đất lâm nghiệp là 34.468 ha. Lâm
8
trường Duyên Hải lúc đó trực thuộc Ty Lâm nghiệp thành phố Hồ Chí Minh được
thành lập vào năm 1978. Để bắt đầu công tác trồng rừng, trụ mầm Đước phải mua
hoang dã, đặc biệt là chim nước;
- Bảo tồn hệ thống thuỷ vực, các bãi bồi dọc bờ sông và ven biển nơi kiếm ăn
và sinh đẻ của các loài động vật vùng triều;
- Tiến hành một số công trình nghiên cứu khoa học về sức bền hệ sinh thái và
du lịch sinh thái có giới hạn.
10
b) Vùng đệm (37.339 ha)
Với chức năng phục hồi các hệ sinh thái, vùng đệm có vai trò quan trọng
trong bảo tồn vùng lõi. Các hoạt động du lịch sinh thái, thăm quan và nghiên cứu có
thể triển khai ở Khu căn cứ địa kháng chiến, đặc khu Rừng Sác, thăm vườn chim,
vườn cò, vườn dơi sẽ góp phần nâng cao thu nhập cho người dân, nâng cao ý thức
và hiểu biết giá trị của công tác bảo tồn góp phần làm giảm sức ép lên vùng lõi của
khu dự trữ sinh quyển. Mặt khác, vùng đệm còn tạo không gian cho thú hoang dã
như khỉ, rái cá, kỳ đà … kiếm ăn. Khi các khu vực này trở nên ổn định, có thể bổ
sung vào vùng lõi nếu cần thiết, đồng thời tạo cảnh quan tự nhiên và hoạt động văn
hoá phục vụ cho du lịch sinh thái. Ngoài ra, các mô hình lâm ngư kết hợp thân thiện
với môi trường cũng được ứng dụng, trình diễn cho nhân dân địa phương đến tham
quan, học tập và trao đổi kinh nghiệm.
c) Vùng chuyển tiếp: 29.310 ha
Vùng chuyển tiếp bao gồm các khu vực còn lại của huyện Cần Giờ bao gồm
các vùng bãi bồi, giồng, bãi cát, các khu vực sản xuất nông nghiệp, thuỷ sản, diêm
nghiệp và dân cư dọc theo ven biển Cần Giờ. Đây là vùng chuyển tiếp có nhiều tiềm
năng cho hoạt động kinh tế, đặc biệt là phát triển du lịch sinh thái, phát triển nông
nghiệp, ngư nghiệp và thuỷ sản bền vững. Hệ thống nhà nghỉ, khách sạn, nhà hàng
vùng ven biển Cần Giờ rất hấp dẫn khách du lịch.\
11
Bảng : Danh mục các loài sinh vật quí hiếm ở Khu dự trữ sinh quyển rừng
ngập mặn Cần Giờ
Tên địa phương Tên khoa học
Lớp bò sát Reptilia
lịch sử văn hoá này bay tới các miền, vùng xa xôi trên khắp thế giới. Đây chính là
tiềm năng du lịch sinh thái rất lớn của khu dự trữ sinh quyển Cần Giờ.
12
Trong những năm qua một số đoàn giáo viên, học sinh Nhật Bản đã đến Cần
Giờ để tham gia phong trào trồng cây ngập mặn, giao lưu với các trường phổ thông
và nhân dân địa phương góp phần thắt chặt tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước.
Các địa danh thu hút nhiều khách du lịch đến thăm quan như Khu du lịch Vàm Sát,
Lâm Viên Cần Giờ và nhiều vùng rừng tái sinh tự nhiên dọc sông Đồng Tranh. Mặc
dầu còn một số hạn chế về mặt tổ chức nhưng quang cảnh rừng phục hồi đã gây
được những ấn tượng tốt đẹp cho khách.
2.2. Khu dự trữ sinh quyển Châu thổ sông Hồng
Tên chính thức: Khu dự trữ sinh quyển đất ngập nước ven biển liên tỉnh
châu thổ sông Hồng, thuộc 5 huyện Thái Thụy, Tiền Hải (Tỉnh Thái Bình); Giao
Thủy, Nghĩa Hưng (Tỉnh Nam Định) và Kim Sơn (Tỉnh Ninh Bình).
Tên ngắn gọn: Khu dự trữ sinh quyển châu thổ sông Hồng
Ngày được UNESCO công nhận : 02/12/2004
2.2.1. Tổng quan
Đây là khu dự trữ sinh quyển liên tỉnh bao gồm cả Vườn quốc gia Xuân
Thuỷ, Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Tiền Hải và các vùng phụ cận, Khu
Ramsar Xuân Thuỷ cũng nằm trong khu dự trữ sinh quyển này. Đây là khu Ramsar
được công nhận vào năm 1989, là khu đầu tiên và duy nhất ở Việt Nam tính đến
thời điểm này. Ramsar là tên Công ước bảo vệ những vùng đất ngập nước có tầm
quan trọng quốc tế, đặc biệt là nơi cư trú của những loài chim nước, do các nước
tham gia ký tại T.P Ramsar, Cộng hoà Hồi giáo I ran. Xuân Thuỷ cũng là khu
Ramsar đầu tiên của Đông Nam Á và thứ 50 của thế giới.
Tổng diện tích của khu dự trữ sinh quyển này lớn hơn 105.558 ha, trong đó
có 66.256 ha là đất liền ven biển và 39.302 ha mặt nước biển thuộc 25 xã của các
huyện Kim Sơn (Ninh Bình); Nghĩa Hưng, Giao Thủy (Nam Định); Tiền Hải, Thái
Thụy (Thái Bình). Vùng lõi có diện tích hơn 14.000 ha, vùng đệm gần 37.000 ha,
vùng chuyển tiếp trên 54.000 ha, có số dân trên 128 000 người (2004).
phong phú cùng với 500 loài động thực vật thuỷ sinh và cỏ biển cung cấp nhiều loài
thuỷ hải sản có giá trị kinh tế cao như tôm, cua, cá biển, vạng, trai, sò, cá tráp, rong
câu chỉ vàng Cá heo sông là loài động vật được dân chài địa phương tôn thờ,
chúng quẫy mình và nhẹ nhàng bơi quanh mạn thuyền du khách mỗi khi chiều
xuống.
15
Hình 7: Hệ động vật của khu dự trữ sinh quyển
2.2.3. Các vùng của khu dự quyển
a) Vùng lõi
Vùng lõi có diện tích 14.167 ha. Mục tiêu quản lý vùng lõi là bảo tồn đa
dạng sinh học, hạn chế các hoạt động của con người. Khu dự trữ sinh quyển châu
thổ sông Hồng có hai vùng lõi, là Vườn Quốc gia Xuân Thủy và Khu Bảo tồn thiên
nhiên đất ngập nước Tiền Hải
Việc bảo tồn đa dạng sinh học vùng lõi gắn liền với việc bảo tồn rừng ngập
mặn và những bãi bồi ven biển, cửa sông. Không giống như các khu bảo tồn trong
nội địa, vùng lõi trong khu dự trữ sinh quyển này vẫn thường xuyên chịu sức ép của
việc khai thác và đánh bắt thuỷ sản quá mức. Có thể nói rất khó phân chia diện tích
vùng lõi hay vùng đệm, bởi vì việc đánh bắt thuỷ sản ở vùng đệm sẽ trực tiếp làm
suy giảm đa dạng sinh học vùng lõi. Các bãi bồi nuôi vạng hay các loài thuỷ sản
khác không chỉ làm mất đi vẻ đẹp cảnh quan mà còn làm đảo lộn các chuỗi và lưới
thức ăn trong tự nhiên.
b) Vùng chuyển tiếp
Vùng chuyển tiếp có diện tích 54.541 ha còn được gọi là vùng phát triển bền
vững, nơi cộng tác của các nhà khoa học, nhà quản lý và người dân địa phương. Tạo
điều kiện thuận lợi và đẩy mạnh các hoạt động phát triển kinh tế, du lịch, dịch vụ đi
đôi với tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức cộng đồng. Khu dự trữ sinh
quyển châu thổ sông Hồng có năm vùng chuyển tiếp thuộc địa giới hành chính của
5 huyện. Ranh giới vùng chuyển tiếp được xác định dựa trên địa giới hành chính xã
thổ Sông Hồng, khu khu dự trữ sinh quyển quần đảo Cát Bà, khu Di sản Thiên
nhiên Hạ Long, Vườn quốc gia Bái Tử long sẽ làm nên một dải địa hình ven biển
đầy cảnh sắc và có sức hấp đẫn du lịch đến kỳ lạ.
Ý tưởng về một tua du lịch tổng hợp dọc sông Hồng đã hình thành từ những
danh thắng cảnh quan, văn hoá, lịch sử dọc sông Hồng, con sông đầy ắp những sự
kiện lịch sử từ vùng Lào Cai biên giới qua những vùng đất trung du nơi khai sinh
của một nền văn minh lúa nước từ thời các vua Hùng dựng nước, xuôi dòng tới
vùng châu thổ mà mỗi làng, mỗi xã đều có đình làng, miếu mạo, nhà thờ họ tộc
đặc biệt là những làng nghề nổi tiếng như gốm Bát
Tràng, Vải tơ Nam Định tạo nên một không gian
văn hoá với những lễ hội dân gian mà du khách
không bao giờ hết ngạc nhiên.
2.3. Khu dự trữ sinh quyển miền tây Nghệ An
Tên chính thức: Khu dự trữ sinh quyển thế
giới Miền Tây Nghệ An, Tỉnh Nghệ An
Tên ngắn gọn: Khu Sinh quyển Tây Nghệ An
Ngày được công nhận : 18/09/2007
Tổng diện tích & Dân số: 1,303,285 ha, dân số: 473,822 người
2.3.1. Tổng quan
Khu DTSQ này bao gồm: Vườn Quốc gia Pù Mát, thác Khe Kèm, suối Nậm
Mọc, sông Giăng, đập Phà Lài, bản Cò Phạt.
Khu dự trữ sinh quyển miền Tây Nghệ An là khu dự trữ sinh quyển có diện
tích lớn nhất khu vực Đông Nam Á với tổng diện tích 1.303.285ha, là hành lang
xanh nối kết 3 vùng lõi gồm: Vườn quốc gia Pù Mát, Khu bảo tồn thiên nhiên Pù
Huống và Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt tạo nên sự liên tục về habitas và các
18
sinh cảnh duy trì hiệu quả bảo tồn đa dạng sinh học thông qua việc giảm bớt khó
khăn về chia cắt nơi sống do các hoạt động kinh tế của con người tạo ra.
Khu dự trữ sinh quyển miền tây Nghệ An có diện tích 1.303.285ha, thuộc địa
bàn 9 huyện: Kỳ Sơn, Tương Dương, Con Cuông, Thanh Chương, Quỳ Hợp, Quỳ
người Thái, với những giá trị bản địa sâu sắc và không thể bỏ qua giá trị cội nguồn
của tộc người Ơ Đu có dân số ít nhất trong cộng đồng dân cư Việt Nam.
2.4. Khu dự trữ sinh quyển quần đảo Các Bà
Tên chính thức: Khu dự trữ sinh quyển quần đảo Cát Bà, TP Hải Phòng
Tên ngắn gọn: Khu dự trữ sinh quyển Cát Bà
Ngày được UNESCO công nhận : 02/12/2004
2.4.1. Tổng quan
Quần đảo Cát Bà là quần thể gồm 367 đảo trong đó có đảo Cát Bà ở phía
Nam vịnh Hạ Long, ngoài khơi thành phố Hải Phòng và tỉnh Quảng Ninh, cách
trung tâm thành phố Hải Phòng khoảng 30 km, cách thành phố Hạ Long khoảng 25
km. Về mặt hành chính, quần đảo thuộc huyện đảo Cát Hải, thành phố Hải Phòng.
Quần đảo có tọa độ 106°52′- 107°07′Đông, 20°42′- 20°54′độ vĩ Bắc. Diện
tích khoảng gần 300 km². Dân số 8.400 người (năm 1996). Các đảo nhỏ khác: hòn
Cát Ông, hòn Cát Đuối, hòn Mây, hòn Quai Xanh, hòn Tai Kéo, Cát Bà, còn gọi
là đảo Ngọc, là hòn đảo lớn nhất trên tổng số 1.969 đảo trên vịnh Hạ Long.Theo
truyền thuyết địa phương thì tên Cát Bà còn được đọc tên Các Bà. Vì có một thời
20
các bà, các chị ở đây đứng ra lo việc hậu cần cho các ông đánh giặc trên một hòn
đảo lân cận. Đảo có tên là đảo các Ông. Như vậy, Cát Bà là đọc chệch của các Bà.
Hình 11: Khu dự trữ sinh quyển Cát Bà
2.4.2. Đa dạng sinh học
Theo các kết quả nghiên cứu, cho đến nay riêng khu vực Cát Bà đã thống kê
được 2320 loài động vật và thực vật đang sinh sống, gồm:
Thực vật trên cạn 741 loài
Động vật sống trong khu vực rừng 282 loài
Thực vật ngập mặn 23 loài
Rong biển 75 loài
Thực vật phù du 199 loài
Động vật phù du 89 loài
Động vật đáy 538 loài
Những loài động vật trên cạn: Khoảng 30 loài
Bậc E:
22
Là những loài đứng trước nguy cơ bị tiêu diệt gồm ĐồI mồI (Eretmochelys
imbricata), Quản đồng (Carreta olivacea), Rùa da (Dermochelys coreacea), Ác là
(Pica pica sericea), Qụa khoang (Corcus torquatus), Voọc đầu trắng (Presbytis
francoisis delacauri).
Bậc V:
Những loài có nguye cơ bị tổn thất gồm 13 loài: Kỳ đà nước (Varanus
salvator), Trăn đất (Python molurus), Răn hổ chúa (Ophiophaus hannab), Đẻn vẩy
bụng không đều (Thaláophina viperina), Vích (Chelonia mydas), Khỉ mặt đỏ
(Macaca aretoides), Khỉ đuôi lợn (Macaca nemestrina), Sơn dương (Capricornis
sumatraesis), Hươu sao (Cervus nippon), Hoẵng (Muntiaccus muntijak), Tê tê vàng
(Manis pentadactyla), Sóc bụng đỏ (Calloscirus erythraeus castancoventris).
Bậc R:
Loài có vùng phân bố hẹp số lượng ít gồm 4 loài: Cốc đế (Phalacrocorax
carbosinensis), Cò thìa (Platalea monor), Yến núi (Callocalia brevirostris
innominata), Mòng biển đen (Larus saudersi).
Bậc T:
Loài tương đối an toàn gồm 7 loài: Tắc kè (Gecko gecko), Rắn ráo thường
(Ptyas korros), Rắn ráo nâu (Ptyas mucosus), Rắn cạp nong (Bugarus fasciatus),
Rắn hổ mang (Naja naja), Le khoang cổ (Nettapus coronmandelianus), Rái cá
thường
Các hoạt động nhằm bảo vệ và nhân nhanh đàn giống Voọc đầu trắng sang
các khu vực khác đã được IUCN tài trợ.
Các loài thực vật trên cạn gồm 27 loài, điển hình là Chi đài (Annamocarya
sinensis), Kim giao (Najeia fleuryi), Lát khối (Ardisia), Lát hoa (Chukrasia
tubularis), Re hương (Cinnamonum pathoroxylon), Thổ phục linh (Smilax glabra),
Trúc đũa (Sava japonica), Sến mật (Madluca pasquiern).v.v
Các loài rong biển:
nhân, các tổ chức xã hội thoả thuận để cùng quản lý và phát triển bền vững nguồn
lợi tài nguyên thiên nhiên mà khu dự trữ sinh quyển đem lại.
Khu dự trữ sinh quyển thế giới Quần đảo Cát Bà có hai vùng chuyển tiếp.
Vùng chuyển tiếp phía Bắc (xã Gia Luận) có diện tích 1.300 ha, trong đó có 1.000
ha phần đảo và 300 ha phần biển và vùng chuyển tiếp phía Nam có 8.700 ha trong
24
đó có 4.500 ha phần đảo và 4.200 ha phần biển. Vùng chuyển tiếp này tập trung
đông dân cư nên chú trọng khuyến khích phát triển cộng đồng, vùng nông thôn :
Nuôi trồng thuỷ sản, dịch vụ du lịc, đào tạo lao động có tay nghề kỹ thuật cao để
phát triển nghề cá khơi và du lịch, dịch vụ.
2.4.4. Phát triển các loại hình du lịch
Cát Bà được thiên nhiên ưu đãi với nhiều cảnh quan thiên nhiên đẹp, hùng vĩ,
tài nguyên thiên nhiên rừng và biển rất phong phú. Những cánh rừng xanh nhiệt đới
nằm giữa một vùng trời nước với hàng trăm đảo lớn, nhỏ làm nên vẻ đẹp của khu
dự trữ sinh quyển. Từ trung tâmVườn Quốc gia du khách có thể lựa chọn một trong
5 tuyến du lịch để khám phá vẻ đẹp của thiên nhiên. những cánh rừng với các cây
cổ thụ nghìn năm tuổi, nhiều tầng, tán.
Biển Cát Bà có nhiều loài nổi tiếng như Sò huyết, Tu hài, Ngao, Cá Mực, Tôm
Hùm, Cua biển, Cá song, Cá chim v.v Các rạn san hô vùng biển Đông-Nam đảo Cát
Bà kéo dài đến Hang Trai- đầu Bê rất có giá trị cho bảo tồn và du lịch sinh thái.
Cơ sở hạ tầng tại Vườn quốc đã được nâng cấp. Du khách có thể nghỉ lại
trong Vườn hoặc ngoài Thị trấn với đầy đủ khách sạn, nhà nghỉ. Từ Hải Phòng bạn
có thể đến đảo Cát Bà bằng tầu cao tốc. hay đi ô tô.
Các hoạt động du lịch tại khu dự trữ sinh quyển Cát Bà.
- Nghỉ dưỡng, vui chơi giải trí, hoạt động thể thao dã ngoại ở các khu đệm.
25