nghiên cứu chế tạo vật liệu có khả năng hấp thụ dầu - Pdf 24

Đồ án nghiên cứu tốt nghiệp Phạm Văn Nam
MỤC LỤC
Lớp HD2-k46 Trường ĐH Bách Khoa Hà Nội
1
Đồ án nghiên cứu tốt nghiệp Phạm Văn Nam
MỞ ĐẦU
Ô nhiễm môi trường trên thế giới và trong nước ngày càng trầm trọng,
các hoạt động của loài người đã dần phá huỷ môi sinh, môi trường xung
quanh chúng ta. Vấn đề ô nhiễm do rò rỉ dầu và đặc biệt là các vụ tràn dầu,
đắm tàu là thảm cảnh với các sinh vật biển. Trong lĩnh vực xử lý các ô
nhiễm nguồn nước do dầu gây ra thì việc tách dầu ra khỏi nước là công việc
chủ yếu. Trên thế giới đã có các nghiên cứu về các vật liệu ứng dụng trong
việc này như: silic dioxit, than hoạt tính, bột giấy, sợi polypropylene Một
trong những vật liệu được sử dụng là sản phẩm của phản ứng đồng trùng hợp
vinyl monome có chứa các nhóm kị nước như butyl methacrylat, lauryl
methacylat Hay dẫn xuất của vòng thơm thông qua phản ứng trùng hợp
hoặc đồng trùng hợp. Các sản phẩm này không chỉ có tác dụng hấp thụ dầu
mà còn được ứng dụng rộng rãi trong nông nghiệp, y tế và nhiều ngành công
nghiệp khác.
Đặc biệt trong những năm gần đây cùng với sự phát triển của công
nghệ nano nhiều loại vật liệu mới ra đời với các tính chất nổi trội hoặc thay
đổi hẳn so với dạng mẫu khối của vật liệu tương ứng. Nhiều nhà khoa học đã
nghiên cứu và thấy rằng khi tiến hành trùng hợp hay đồng trùng hợp các
monome có nhóm kị nước khi có mặt các hạt sắt từ thì hiệu quả hấp thụ dầu
tăng lên rất đáng kể. Hơn nữa sự có mặt của sắt từ trong polyme sẽ làm dễ
dàng hơn việc thu hồi các sản phẩm polyme sau khi đã hấp thụ dầu. Việc
tổng hợp với các kích thước nano cũng là một trong những nội dung của đồ
án, khi ở kích cỡ nano các hiệu ứng bề mặt tăng lên rất đáng kể vì theo một
số tài liệu thì sự có mặt của hạt nano sắt từ làm khả năng hấp thụ dầu sẽ tăng
lên. Chính vì vậy trong luận văn này chúng tôi tiến hành đồng trùng hợp
lauryl methacrylat với styren có mặt của chất tạo lưới và các hạt nano sắt từ

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN
I– Tình hình ô nhiễm dầu và các biện pháp khắc phục
Hiện tượng dầu tràn là nguyên nhân làm cho môi trường trở nên ô
nhiễm nặng nề. Sự thiệt hại mà nó gây nên thật khó có thể lường được và
gây ra tác hại lâu dài, có thể dẫn đến sự diệt vong của các loài sinh vật biển.
Hàng năm lượng dầu mỏ thất thoát do tràn dầu, rò rỉ giàn khoan, đường ống
dẫn và quá trình chuyên chở chiếm tới hơn 2% tổng lượng dầu sử dụng của
toàn thế giới [7]. Ngoài sự thiệt hại về kinh tế thì vấn đề ô nhiễm môi trường
là mối quan tâm lớn đối với hầu hết các nước có nguồn dầu mỏ cũng như các
nước sử dụng nhiều nguồn nguyên liệu này.
Khi dầu thô và các sản phẩm dầu mỏ tràn ra môi trường thì sẽ gây phá
huỷ nhiều hệ sinh thái khác nhau. Dầu thô khi bị tràn ra môi trường biển sẽ
lơ lửng trên mặt nước bởi tỷ trọng của nó nhỏ hơn nước biển. Tỷ trọng trung
bình của dầu khoảng 0,83 – 0,95 g/cm
3
, trong khi đó của nước nguyên chất
là 0,998 g/cm
3
và của nước biển là 1,025 g/cm
3
. Chính vì vậy mà các loài
chim khi săn mồi trên biển bị ngấm dầu và cuối cùng bị chết. Mặt khác, khi
dầu lơ lửng trên mặt nước, nó sẽ làm giảm lượng O
2
hoà tan trong nước gây
ảnh hưởng đến đời sống của nhiều sinh vật khác sống trong môi trường
nước. Ta có thể lấy ví dụ về sự kiện tràn dầu “Torrey Canyon” ở bờ biển
nước Anh năm 1967 làm 10,000 con chim bị nhiễm dầu và 90% số chim này
bị chết trước khi bờ biển này được làm sạch. Với sự phá huỷ môi trường
nghiêm trọng như vậy nên vấn đè này khiến không chỉ ngành dầu khí mà

Đây là những vật liệu có khả năng thấm chất lỏng. Dầu sẽ thấm trên
bề mặt vật liệu tạo thành từng lớp. Những vật liệu này sẽ kéo dầu ra khỏi
nước một cách dễ dàng. Vì thế mà chúng được đặt ở những bờ biển, nơi xảy
ra sự cố tràn dầu hoặc được phun trực tiếp lên khu vực dầu tràn. Vật liệu hấp
thụ này trông rất giống như khăn giấy. Nó còn có thể hấp thụ dầu từ đá hay
cả khi chúng bám trên cơ thể động thực vật. Tuy nhiên, có một vấn đề quan
trọng khác là: khi hấp thụ, chúng sẽ nặng hơn nước nên chúng sẽ chìm
xuống phía dưới đáy biển và làm ảnh hưởng xấu đến sự sống của động vật
nơi đó.
2- Phương pháp hoá học
Những chất hoá học được sử dụng ở đây trông như các chất tẩy rửa ta
thường dùng. Phương pháp này chỉ sử dụng để loại bỏ dầu trong một khu
vực nhỏ khi mà dầu tồn tại dưới dạng những giọt lỏng phân tán hay trộn
lẫn.Vấn đề của phương pháp này là khi những hợp chất hoá học này sẽ phân
huỷ gây phá huỷ môi trường biển và sẽ phân tán vào trong cơ thể động vật
gây nguy cơ nhiễm độc về sau cho các loài vật và con người khi sử dụng
chúng làm thức ăn.
3- Phương pháp vật lý
Ta có thể đốt cháy dầu bằng không khí. Phương pháp này có thể làm sạch
dầu đến 98% khi dầu tràn có độ dày không quá 3 mm. Phương pháp này đã
được thử nghiệm thành công ở Canada. Trong suốt chiến tranh vùng vịnh, mặc
dù dầu được đốt rất nhiều nhưng không gây ra sự cố ô nhiễm không khí. Tuy
nhiên, phương pháp này cần phải được kiểm tra kỹ lưỡng trước khi sử dụng.
4- Phương pháp sinh học
Lớp HD2-k46 Trường ĐH Bách Khoa Hà Nội
6
Đồ án nghiên cứu tốt nghiệp Phạm Văn Nam
Có nhiều loại vi khuẩn và nấm trong tự nhiên có thể phân huỷ dầu.
Nhưng quá trình phân huỷ xảy ra cực kì chậm, phải mất rất nhiều năm mới
phân huỷ đựoc vài microgam. Vì thế, không thể dùng phương pháp này để

dung môi hữu cơ không phân cực các thành phần chất lỏng sẽ khuếch tán
vào cấu trúc bên trong mạng lưới và được giữ lại trong đó. Tuỳ theo độ
trương mà gel có bề ngoài giống như cao su, gelatin, hay dạng rắn như gạch
nếu độ trương của nó rất thấp [11].
Mạng lưới polyme có cấu trúc không gian ba chiều tạo nên dạng gel
đó có ứng dụng rất rộng rãi. Tính chất ưa dầu, kị nước của vật liệu đã được
ứng dụng thành công trong nhiều lĩnh vực: làm màng chống thấm nước, sử
dụng làm màng sắc ký trong thiết bị đo sắc ký, làm chất hấp thụ trong lĩnh
vực dược phẩm sinh học, công nghiệp hoá chất, nông nghiệp, làm nền cho
chất xúc tác hoặc chất ổn định enzym hay nền trong thiết bị trao đổi ion [4]
Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu chế tạo ra vật liệu polyme dùng
để hấp thụ các chất hữu cơ, dầu mỏ lan tràn trên mặt nước. Điển hình là
nhóm các polyme được tạo ra trên cơ sở trùng hợp hay đồng trùng hợp các
dẫn xuất alkylacrylat, alkylmetacrylat và các hợp chất dẫn xuất của vòng
thơm. Độ mềm dẻo và khả năng trương nở trong dung môi không phân cực
là những đặc điểm quan trọng bao hàm cả tính chất lý hoá của vật liệu
polyme. Việc nghiên cứu, chế tạo vật liệu polyme có khả năng hấp thụ dầu
cao ứng dụng trong xử lý môi trường đã được biết đến từ lâu nhưng đến nay
vẫn thu hút nhiều nhà khoa học do khả năng ứng dụng rộng rãi của nó. Việc
tiếp tục nghiên cứu nhằm tạo ra công nghệ đơn giản hơn, hoàn thiện thêm
tính chất và khả năng ứng dụng của vật liệu [6].
III - Cấu tạo và tính chất của polyme hấp thụ dầu
Lớp HD2-k46 Trường ĐH Bách Khoa Hà Nội
8
Đồ án nghiên cứu tốt nghiệp Phạm Văn Nam
Polyme hấp thụ dầu có cấu tạo từ các phân tử polyme được khâu
mạch bởi các tác nhân khâu mạch là các monome lưỡng chức không no tạo
nên polyme có cấu trúc mạng lưới không gian ba chiều. Đặc điểm của loại
vật liệu này là có cấu trúc xốp, mạng lưới không gian ba chiều mềm dẻo có
thể co lại khi chưa hấp thụ dầu vì thế thể tích ban đầu của chúng thường nhỏ,

monome lưỡng chức. Hàm lượng các chất này trong thành phần polyme là
không lớn, chỉ chiếm vài phần trăm nhưng có vai trò rất quan trọng, sự thay
đổi hàm lượng của nó làm ảnh hưởng rất lớn đến cấu trúc bên trong mạng
lưới polyme, độ mềm dẻo của vật liệu, điều này liên quan trực tiếp tới khả
năng hấp thụ dầu [13-15].
Độ trương là tính chất quan trọng nhất của gel, bởi phần lớn các tính chất
khác của vật liệu hấp thụ dầu đều liên quan đến độ trương. Có nhiều cách
khác nhau để xác định độ trương, tuy nhiên phương pháp đánh giá độ trương
thông qua trọng lượng tỏ ra thích hợp nhất do sự phát triển của các phương
pháp đo trọng lượng trong thời gian gần đây.
IV- Phương pháp tổng hợp vật liệu cao phân tử
IV.1- Phản ứng trùng hợp và các yếu tố ảnh hưởng
1-
1- Phản ứng trùng hợp
Quá trình trùng hợp của hai hay nhiều monome khác nhau để tạo
thành hợp chất cao phân tử gọi là đồng trùng hợp. Đại phân tử nhận được từ
quá trình đồng trùng hợp được gọi là copolyme. Thành phần cấu tạo của
copolyme chứa các mắt xích tạo nên từ các monome ban đầu liên kết với
nhau tuân theo một trật tự nhất định. Phản ứng đồng trùng hợp thường được
sử dụng để tạo ra các vật liệu polyme có các tính chất lý hoá cần thiết mà
phản ứng trùng hợp không thể tạo ra được. Để đạt được sản phẩm theo yêu
Lớp HD2-k46 Trường ĐH Bách Khoa Hà Nội
10
Đồ án nghiên cứu tốt nghiệp Phạm Văn Nam
cầu cần phải nghiên cứu, lựa chọn nguyên liệu ban đầu cũng như phương
pháp tổng hợp thích hợp.
Tỷ lệ các cấu tử ban đầu có mặt trong sản phẩm thu được từ quá trình
đồng trùng hợp thay đổi trong giới hạn rộng tuỳ thuộc vào khả năng hoạt
hoá của các monome ban đầu tham gia phản ứng.
Việc xác định khả năng phản ứng của các monome trong quá trình

X
CHR- CH
2
-CH +
X
CH
2
=CH
X
Kp
R-CH
2
-CH-CH
2
-CH
X
X

Lớp HD2-k46 Trường ĐH Bách Khoa Hà Nội
11
(2)
(3)
Đồ án nghiên cứu tốt nghiệp Phạm Văn Nam
R CH
2
CH CH
2

CH
2
X
X
X
2Ktd

Ở đây:
Kd : là hằng số tốc độ phản ứng phân huỷ chất khởi đầu.
Ki : là hằng số tốc độ khởi đầu phản ứng.
Kp : là hằng số tốc độ phát triển mạch.
Ktc : là hằng số tốc độ phản ứng đứt mạch do kết hợp.
Ktd : là hằng số tốc độ phản ứng đứt mạch không cân đối.

R
: là trung tâm hoạt động.
Lớp HD2-k46 Trường ĐH Bách Khoa Hà Nội
12
(4)
(5)
(6)
Đồ án nghiên cứu tốt nghiệp Phạm Văn Nam
b- Động học của quá trình trùng hợp gốc tự do
Nếu thừa nhận nồng độ của chất khơi mào là [I] thì tốc độ phân huỷ
chất khơi mào Vd là:
Vd = Kd. [I] (7)
Vì phân huỷ một phân tử chất khơi mào sẽ xuất hiện 2 gốc nên tốc độ
hình thành chúng phải gấp 2 lần tốc độ phân huỷ, nghĩa là bằng 2Kd.[I]
Nếu gọi f là hiệu lực của chất khơi mào thì tốc độ khơi mào trùng hợp Vi là:
Vi = d[


Tốc độ trùng hợp V tỷ lệ thuận với tốc độ biến thiên của monome, do
đó:
V = Vi + Vp (12)
Vi rất nhỏ so với Vp nên:
Lớp HD2-k46 Trường ĐH Bách Khoa Hà Nội
13
(11)
Đồ án nghiên cứu tốt nghiệp Phạm Văn Nam
V = Vp = Kp.[M].[

R
] (13)
Từ (11),(12) và (13) ta có:

V = Kp
Ktc + Ktd
.[ I ].[M]
f.Kd
1/2
Theo lý thuyết, tốc độ trùng hợp tỷ lệ với căn bậc 2 của nồng độ chất
khơi mào, và tỷ lệ tuyến tính với nồng độ monome.
c- Một số yếu tố chủ yếu ảnh hưởng lên quá trình trùng hợp gốc
+ Ảnh hưởng của nhiệt độ
Nói chung tất cả các phản ứng trùng hợp đều là phản ứng toả nhiệt,
khi tăng nhiệt độ, tốc độ phản ứng tăng và phụ thuộc vào hiệu ứng nhiệt. Khi
nhiệt độ tăng thì làm tăng vận tốc của tất cả các phản ứng hoá học kể cả các
phản ứng cơ sở trong quá trình trùng hợp. Việc tăng vận tốc quá trình làm
hình thành các trung tâm hoạt động và vận tốc phát triển mạch lớn, do đó
làm tăng quá trình chuyển hoá của monome thành polyme và đồng thời cũng

2- Các phương pháp tiến hành phản ứng trùng hợp
Phụ thuộc vào từng loại monome và điều kiện gia công, sử dụng, có
thể tiến hành trùng hợp theo các phương pháp sau: trùng hợp khối, trùng hợp
dung dịch, trùng hợp nhũ tương và trùng hợp huyền phù.
a- Trùng hợp khối
Là quá trình trùng hợp tiến hành với monome lỏng tinh khiết, có thể
khơi mào theo phương pháp nhiệt, quang hoặc sử dụng chất khơi mào.
Trong trường hợp thiết có thể cho vào chất điều chỉnh và chất hoá dẻo.
Ngoài một lượng nhỏ chất khơi mào trong khối polyme nhận được chỉ còn
một số monome chưa tham gia phản ứng. Do đó polyme nhận được rất tinh
khiết, trong suốt, thường được dùng trong công nghiệp thuỷ tinh hữu cơ
Lớp HD2-k46 Trường ĐH Bách Khoa Hà Nội
15
Đồ án nghiên cứu tốt nghiệp Phạm Văn Nam
nhưng có nhược điểm là khi mức độ chuyển hoá cao, độ nhớt của hổn hợp
phản ứng lớn, khả năng dẩn nhiệt kém nên nhiệt phản ứng tách ra tương đối
khó khăn dẩn đến hiện tượng quá nhiệt cục bộ. Do nhiệt độ không đồng nhất
nên độ đồng đều của trọng lượng phân tử giảm. Ngoài ra trong sản phẩm có
thể có bọt khí làm sản phẩm không đồng đều về tính chất cơ lý.
b- Trùng hợp dung dịch
Phản ứng xảy ra trong đó monome hoà tan trong dung môi còn sản
phẩm tạo thành có thể hoà tan hay không hoà tan trong dung môi.
Trùng hợp dung dịch khắc phục được nhược điểm chủ yếu của trùng
hợp khối là hiện tượng quá nhiệt cục bộ. Độ nhớt của môi trường nhỏ nên sự
khuấy trộn tốt hơn. Song so với trùng hợp khối, trùng hợp dung dịch ít được
sử dụng trong công nghiệp hơn vì cần phải có dung môi có độ tinh khiết cao
và thêm công đoạn tách dung môi ra khỏi polyme. Trùng hợp dung dịch
được sử dụng trong phòng thí nghiệm để nghiên cứu quy luật của trùng hợp
gốc. Độ trùng hợp trung bình tỷ lệ thuận với nồng độ monome. Do vậy khi
pha loãng monome sẽ làm giảm trọng lượng phân tử trung bình của polyme

Một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới trùng hợp huyền
phù là quá trình khuấy, đặc biệt là đối với những hệ dị thể như: sự phân tán
của monome và chất khí không tan trong chất lỏng trơ, chất hữu cơ lỏng
không hoà tan trong nước, sự tạo thành polyme không hoà tan từ hệ đồng thể
monome-dung môi và sự phân tán của sản phẩm phụ từ khối polyme nhớt
xuất hiện trong phản ứng ngưng tụ. Phụ thuộc vào loại thiết bị và tốc độ
khuấy có thể nhận được hạt sản phẩm có đường kính trong phạm vi từ 0,001
cm đến 0,5 cm.
Lớp HD2-k46 Trường ĐH Bách Khoa Hà Nội
17
Đồ án nghiên cứu tốt nghiệp Phạm Văn Nam
Phương pháp trùng hợp huyền phù có thuận lợi là quá trình truyền
nhiệt rất tốt và khối hỗn hợp đặc có thể được khuấy hoặc bơm bằng các thiết
bị chuyển hoá phụ trợ [14]. Tuy nhiên phương pháp này cũng có nhược
điểm so với phương pháp trùng hợp khối là phải có công đoạn tách và làm
khô sản phẩm ra khỏi pha liên tục và cấu tử được sử dụng để phân tán và
chống sự kết tụ những hạt monome có thể bị hấp phụ lên bề mặt sản phẩm
polyme.
• Ưu điểm của phương pháp trùng hợp huyền phù:
Quá trình trùng hợp huyền phù có những ưu điểm so với các quá trình
trùng hợp khác như quá trình trùng hợp khối, trùng hợp dung dịch, trùng hợp
nhũ tương do có những thuận lợi sau:
+ Khả năng truyền nhiệt và phân tán nhiệt tốt
+ Điều khiển nhiệt độ của quá trình đơn giản
+ Cỡ hạt có thể điều chỉnh trong phạm vi nhỏ rất tốt
+ Sản phẩm thu được trong phương pháp này có độ tinh khiết cao hơn
so với phương pháp trùng hợp nhũ tương.
Những tạp chất ở trong pha liên tục có thể ảnh hưởng tới sự tạo hạt
hay tính chất của polyme sản phẩm, do đó pha liên tục dùng cho quá trình
trùng hợp huyền phù phải tinh khiết.

xãy ra theo cơ chế sau:
Tạo gốc tự do
- Dưới tác dụng của nhiệt độ, benzoyl peoxit phân huỷ thành gốc
cacboxy benzoyl:
c o o
o o
c
t
o
o
oc
.
2
.
c o
o
o
oc
+
.
Lớp HD2-k46 Trường ĐH Bách Khoa Hà Nội
19
Đồ án nghiên cứu tốt nghiệp Phạm Văn Nam
Các gốc này có thể chuyển hoá tiếp:
.
c o
o
2 c o
o
c o

2
cooch - (ch ) - ch
3
10
x:
r
+
.
ch = ch
x
r - ch - c h
.
x
2 2
.
r - ch - c hch = ch
.
+
r
y
y
2
2
Y: - C
6
H
5
Đồ án nghiên cứu tốt nghiệp Phạm Văn Nam
Quá trình phản ứng đồng trùng hợp hai monome xảy ra rất phức tạp,
nhưng bất kể đặc tính xảy ra như thế nào thì phản ứng phát triển mạch cũng

k
ch - ch -
Y
2 2
Y
ch - c h
.
ch - ch -
x
2 2
x
ch - c h
.
+
ch - ch -
x
2 2
x
ch - c h
.
ch - ch -
x
2 2
x
ch - c h
2
ch - ch -
y
2 2
y

2 2
y
ch - c h -
ch - ch -
x
2 2
x
ch - ch
+
ch = ch
x
2
k
11
ch - c h
.
x
2
ch - ch -
x
2 2
X
ch - c h
.
ch - ch -
y
2 2
x
ch - c h
.

22
x
ch - ch -
Đồ án nghiên cứu tốt nghiệp Phạm Văn Nam
………………………….
+ Chuyển mạch theo hướng bất đối xứng

Sản phẩm thu được là một hỗn hợp có chứa monome dư, oligome,
copolyme, hopolyme , tỷ lệ các cấu tử này khác nhau phụ thuộc vào bản
chất của từng thành phần, mức độ ổn định, kích thước của các cấu tử, nhiệt
độ, chất khơi mào, nồng độ monome, tốc độ khuấy trộn, ảnh hưởng của pH
IV.3- Cơ sở lý thuyết và phương pháp tổng hợp hạt sắt từ (Fe
3
O
4
)
1. Giới thiệu chung
Để hiểu biết đặc điểm của hạt sắt từ trước hết ta khái quát qua một số
khái niệm cơ bản: từ trường, điện trường, sự nhiểm từ, các dạng từ tính của
vật liệu.
- Điện trường: là môi trường bao quanh vật nhiễm điện khác đặt trong nó
gọi là điện trường. Quanh mỗi vật nhiễm điện có một điện trường nhờ đó mà
các vật nhiễm điện tương tác được với nhau. Điện trường ở gần vật nhiễm
điện mạnh hơn ở xa vật nhiễm điện.
Lớp HD2-k46 Trường ĐH Bách Khoa Hà Nội
22
ch - ch -
x
2 2
x

ch - ch -
x
2
y
ch - ch
+ ch - ch -
y
2 2
y
ch - c hch - ch -
y
2 2
x
ch - c h
.
.
2
+
2
ch - ch -
y
2
y
ch = ch

Đồ án nghiên cứu tốt nghiệp Phạm Văn Nam
- Từ trường: xuất phát từ momen chuyển động của các electron trong
nguyên tử. Các electron này sẽ chi phối đặc điểm từ tính của vật chất theo
hai hướng: dịch chuyển các electron sinh ra từ trường, tương tác với các từ
trường bên ngoài áp vào và quyết định từ tính của vật liệu.

3
0,3%
100nm
3
3,0%
10nm
3
30%

Bảng 1.1: Sự phụ thuộc bề mặt hoạt động hoá học vào kích thước hạt.
- Các kim loại, oxit kim loại có tính thuận từ: Ni, Co , Fe, Fe
3
O
4
,Fe
2
O
3
.
Kim loại tinh khiết có độ nhạy từ cao hơn cả.
Bề mặt vật liệu
Khả năng bão hoà từ hoá
Ms, emu/cm
3
ở 298K
Co 485
Fe 1400-1422
Fe
2
O

Đồ án nghiên cứu tốt nghiệp Phạm Văn Nam
2. Một số phương pháp tổng hợp hạt sắt từ
a- Phương pháp nghiền cơ học
Lần đầu tiên hạt sắt từ tạo ra bằng phương pháp nghiền nhỏ đã được
Ball và cộng sự của ông đề cập vào năm 1960. Cỡ hạt sắt từ tạo ra theo
phương pháp này có đường kính khoảng 20 nm .
Phương pháp cơ học làm nhỏ hạt đến kích cỡ nano. Tuy vậy phương
pháp này có nhược điểm lớn là sẽ biến dạng không đều bề mặt của hạt dẫn
đến tính chất không đồng nhất. Mặt khác phương pháp này rất khó tạo ra hạt
có kích thước nhỏ dưới 20 nm.
b- Phương pháp oxy hoá
Thuỷ phân muối sắt Fe
2+
(có thể là muối clorua hoặc muối nitrat) để
tạo ra kết tủa Fe(OH)
2
, sau đó sấy kết tủa ở 300
o
C có mặt của O
2
tinh khiết.
Kết quả tạo ra gỉ sắt từ Fe
3
O
4
. Môi trường thuỷ phân có thể cho thêm một
lượng kiềm KOH. Hạt kết tủa được ổn định bằng axit citric hoặc axit oleic.
c- Phương pháp thuỷ phân cưỡng chế
Các hạt kết tủa được tạo ra từ quá trình hydrat hoá muối sắt trong
dung dịch có dạng hình cầu, có kích thước phụ thuộc vào tốc độ khuấy và


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status