ĐỀ 1: CẢM NHẬN : NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ (Nguyễn Tuân)
ĐỀ 2: VẺ ĐẸP HÌNH TƯỢNG ĐẤT NƯỚC TRONG BÀI THƠ ‘ ĐẤT
NƯỚC” CỦA NGUYỄN KHOA ĐIỀM
ĐỀ 3: ‘ VỢ NHẶT” CỦA KIM LÂN HƯỚNG CON NGƯỜI ĐẾN
NIỀM TIN VÀO CUỘC SỐNG TỐT ĐẸP HƠN
ĐỀ 4: PHÂN TÍCH NHÂN VẬT MỴ TRONG VỢ CHỒNG A PHỦ
ĐỀ 5: PHÂN TÍCH NHÂN VẬT VIỆT – CHIÊN TRONG NHỮNG
ĐỨA CON TRONG GIA ĐÌNH
ĐỀ 6: BI KỊCH HỒN TRƯƠNG BA DA HÀNG THỊT CUA LƯU
QUANG VŨ
ĐỀ 7: PHÂN TÍCH HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT TNU
ĐỀ 8: TIẾNG HÁT CON TÀU CỦA CHẾ LAN VIÊN
ĐỀ 9: NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ- MỘT TÙY BÚT CÓ THẦN
ĐỀ 10: PHÂN TÍCH TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP
ĐỀ 11: SÓNG-XUÂN QUỲNH
ĐỀ 12: HOÀN CẢNH SỐNG CỦA NHÂN VẬT ANDRAY XOLOCOP
ĐỀ 13: VẺ ĐẸP CỦA NGƯỜI HÀ NỘI QUA NHÂN VẬT BÀ HIỀN
ĐỀ 14: ĐÀN GHI TA CỦA LORCA CỦA THANH THẢO
ĐỀ 15: VẺ ĐẸP BI TRÁNG CỦA HÌNH TƯỢNG NGƯỜI LÍNH- TÂY
TIẾN
ĐỀ 16: HÌNH ẢNH NGƯỜI ĐÀN BÀ HÀNG CHÀI- CHIẾC THUYỀN
NGOÀI XA
ĐỀ 17: CẢM NHẬN AI ĐÃ ĐẶT TÊN CHO DÒNG SÔNG
ĐỀ 18: PHÂN TÍCH TÁC PHẨM THUỐC- LỖ TẤN
BÀI VIẾT
ĐỀ 1: Cảm nhận: NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ (Nguyễn Tuân)
Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân là bút ký đặc sắc, kết quả của
chuyến thâm nhập thực tế vùng sông Đà 1958 - 1960 của nhà văn, in
trong tập bút ký Sông Đà. Cảm hứng gắn bó với mảnh đất và con
người Tây Bắc đã in đậm trong hình ảnh người lái đò nghệ sĩ và con
sông Đà vừa hùng vĩ vừa nên thơ.
Đà. Con sông Đà dữ với thần sông tướng đá bủa giăng thế trận vây
lấy chiếc thuyền đơn độc được nhà văn miêu tả bằng ngôn ngữ
phong phú của tiểu thuyết chương hồi như gợi cuộc phá vây của
mãnh tướng Triệu Tử Long xông vào trận quân Tào Tháo, bên cạnh
đó nhà văn có những dòng mô tả chân dung bằng giọng văn rất hóm
hỉnh của riêng mình : "Mặt hòn đá nào trông cũng ngỗ ngược, hòn
nào cũng nhăn nhúm méo mó hơn cả cái mặt nước chỗ này ". Cuộc
đối đầu giữa con người trên chiếc thuyền đơn độc với "boongke
chìm và pháo đài nổi" trong "cuộc giáp lá cà có đá dàn trận địa
sẵn" có sức hấp dẫn đặc biệt. Có lẽ nhà văn đã hình dung ra không
khí của những hội vật truyền thống khi miêu tả các cuộc đấu sức,
đấu trí và đấu sự nhanh nhẹn giữa người và đá nước. Cuộc đấu có
miếng, có mưu, cuối cùng phần chiến thắng thuộc về con người, bởi
lẽ "Ông đã thuộc quy luật phục kích của lũ đá nơi ải nước hiểm trở
này". Hình ảnh bình thường của người lao động, vật lộn với sóng
nước đã được Nguyễn Tuân nâng lên ngang hàng danh tướng "biết
mình biết ta trăm trận trăm thắng". Nhưng điều tác giả tô đậm nét
hơn ở ông lái đò chính là chất nghệ sĩ toát lên từ công việc đối mặt
với hiểm nguy đã trở thành bình thường. Ngay sau khoảnh khắc
chiến thắng sức mạnh của thác đá, sóng dữ, thì "sóng thác xèo xèo
tan trong trí nhớ. Sông nước lại thanh bình". Đây mới chính là ông
lái đò mang đậm nét Nguyễn Tuân. Con người chiến đấu với sông
Đà dữ cũng chỉ là để mưu sinh, "ngày nào cũng giành lấy cái sống từ
tay những cái thác", nên những con người này cũng yêu mến dòng
sông đã cho họ những "cá anh vũ, cá dầm xanh", những hầm cá
hang cá "túa ra đầy tràn ruộng". Sông Đà dữ thì có "diện mạo và
tâm địa của kẻ thù số một", nhưng khi sông nước thanh bình, vẻ đẹp
nên thơ gợi cảm của dòng sông lại hiện về nguyên vẹn.
Nhà văn đã dành những trang viết thấm đẫm chất trữ tình để miêu
tả vẻ đẹp dịu dàng của dòng sông mang trong lòng những huyền sử
trộn lẫn của mình ở thể loại tùy bút, bám sát hiện thực, say mê
khám phá những nét ấn tượng, những vẻ đẹp tiềm ẩn từ hiện thực.
Hơn thế nữa, tác phẩm còn đánh dấu sự vững vàng trong tư tưởng
tình cảm của nhà văn, sự nhạy cảm tinh tế của một tâm hồn nghệ sĩ
yêu đất nước, yêu con người lao động, yêu và tin vào cách mạng, vào
con đường dân tộc đang hướng tới. Tấm lòng ấy, tài năng ấy của
Nguyễn Tuân thật đáng trân trọng./.
ĐỀ 2: VẺ ĐẸP HÌNH TƯỢNG ĐẤT NƯỚC TRONG BÀI THƠ ‘ ĐẤT
NƯỚC” CỦA NGUYỄN KHOA ĐIỀM
Trong số các nhà thơ thế hệ chống Mỹ, Nguyễn Khoa Điềm là người rất
thành công với giọng thơ trữ tình chính luận thể hiện rõ những tâm
tư của thế hệ trẻ đô thị miền Nam. Trường ca “Mặt đường khát
vọng” (1971) là tiếng vọng tâm tình của một hồn thơ hòa cùng mạch
cảm xúc của dân tộc đứng trước dòng thác lũ thời đại, trong đó
chương V “Đất nước” đã gói ghém trọn vẹn tâm tình của thế hệ
chống Mỹ:
“Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi
Đất Nước có trong những cái ngày xửa ngày xưa mẹ thường hay kể
Đất Nước bắt đầu từ miếng trầu bây giờ bà ăn
Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc…”
Giọng thơ thủ thỉ đã chuyển tải suy ngẫm của nhà thơ về Nhân Dân
- Đất Nước, tiếp nối mạch suy tưởng của thi ca giai đoạn trước.
Đất Nước là một chủ đề xuyên suốt bao trùm lên các tác phẩm trong
giai đoạn kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Các nhà thơ nhà văn
bằng tình cảm công dân đã có nhiều phát hiện mới mẻ độc đáo về Tổ
quốc, nhân dân. Tổ quốc thường được soi chiếu từ bình diện lịch sử
chống ngoại xâm, được khái quát bằng những hình tượng kỳ vĩ, khai
thác triệt để chất sử thi hoành tráng. Trong dòng chủ lưu ấy, Nguyễn
Khoa Điềm đã chọn lựa cách thể hiện riêng của mình, bằng trải
nghiệm tuổi trẻ, bằng nhiệt tình cách mạng và cả bằng vốn tri thức
sâu vào tiềm thức từng người Việt :
Đất là nơi “con chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc”
Nước là nơi “con cá ngư ông móng nước biển khơi”
Thời gian đằng đẵng
Không gian mênh mông
Đất Nước là nơi dân mình đoàn tụ
Đất là nơi Chim về
Nước là nơi Rồng ở
Lạc Long Quân và Âu Cơ
Đẻ ra đồng bào mình trong bọc trứng
Quá khứ, hiện tại, tương lai đã gắn kết trong một ý thức cộng đồng
bền chặt, là nguồn sức mạnh và cũng là phẩm chất tâm hồn dân tộc
đã được nhà thơ lý giải qua những hình tượng thơ giàu tính thẩm
mỹ và hàm chứa mối quan hệ Đất Nước – con người Nhân Dân
không thể tách rời. Thời gian lịch sử, không gian văn hoá hoà quyện
trong mạch thơ đầy ân tình đã phác hoạ rõ nét dần tượng đài Đất
Nước. Không chỉ tiếp cận hình tượng trong huyền sử, trong hiện
thực đời sống, trong mối quan hệ cá nhân - cộng đồng, Nguyễn Khoa
Điềm còn dẫn dắt độc giả trở về với hiện thực trực tiếp của cuộc
kháng chiến chống Mỹ, nói lên tiếng nói đầy trách nhiệm của cả một
thế hệ chống Mỹ thật sự trưởng thành trong nhận thức và tình cảm :
Trong anh và em hôm nay
Đều có một phần Đất Nước
Ý thơ thật giản dị, không hề gượng ép tình cảm, khi từ mối quan hệ
riêng tư để hướng về với quan hệ cộng đồng, dân tộc. Tứ thơ độc
đáo chính là từ sự mở rộng từ thế giới của “anh và em hôm nay” đến
với “mọi người”. Vẻ đẹp Đất Nước được phát hiện thêm với những
vẻ đẹp “hài hoà nồng thắm” và “vẹn tròn to lớn”. Đó cũng là sự kết
hợp hài hoà của lý trí và tình cảm con người thời đại chống Mỹ. Hơn
thế nữa, những câu thơ này còn cắt nghĩa cho vẻ đẹp tình yêu của
khơi dậy lòng tự hào và ý thức trách nhiệm, tình cảm cho mỗi con
người trong khát vọng đưa Đất Nước đi xa đến những tháng ngày
mơ mộng./
ĐỀ 3: ‘ VỢ NHẶT” CỦA KIM LÂN HƯỚNG CON NGƯỜI ĐẾN
NIỀM TIN VÀO CUỘC SỐNG TỐT ĐẸP HƠN
Tác giả nói về tác phẩm:
1. “Cái đói” là nỗi lo lắng của con người ở tất cả mọi dân tộc và mọi
thời đại. Cho nên đó cũng thuộc về bản chất của đời sống. Các nhà
văn viết về cái đói ở khía cạnh tối tăm và bất lực của con người
trước nó (…) Khi tôi viết, ý tưởng thường trực trong tôi là những
người đói dù thế nào đi nữa vẫn luôn luôn khao khát cuộc sống tốt
hơn, vẫn tin tưởng một cách mơ hồ vào cuộc sống tương lai. Cái
“mơ hồ” ấy là do cuộc sống thực tại luôn hành hạ họ.
2. Tôi muốn phân tích tâm trạng và thân phận của con người trong
cái hoàn cảnh cùng đường ấy, nơi cuộc sống dường như không còn
lối thoát. Tôi muốn hướng họ vào sự sống, sự thương yêu nhau,
không phải là sự giành giật nhau (…). Bối cảnh của truyện là khi cái
đói hoành hành khắp nơi. Nhưng các nhân vật của truyện thì đứng ở
ngưỡng cửa của cái đói. Nơi ngưỡng cửa khốn khổ đó, họ sẽ chứng
tỏ số phận và tính cách của mình, đồng thời ở nơi đó họ sẽ bắt đầu
một niềm tin mới, một niềm hạnh phúc mới, dù là rất mong manh.
3. Tôi muốn cho độc giả thấy dù hoàn cảnh thế nào đi nữa thì tình
người vẫn vượt lên trên tất cả. Có tình người là có cuộc sống. Có
tình người là có hy vọng vào tương lai.
II. Một số điểm lưu ý trong quá trình tiếp cận tác phẩm:
1. Không khí ngày đói và bối cảnh nhặt vợ:
Cái đói hiện hình cụ thể trên nền không gian ảm đạm đầy ám ảnh
của cái chết rình rập cuộc sống những người dân ở xóm ngụ cư.
Không gian tối sầm vì đói khát được mô tả đầy ấn tượng: quạ bay,
thây người chết còng queo, người sống dật dờ, lặng lẽ như bóng ma.
chỉ thật buồn cười: “lật đật”, “nhìn ngang nhìn ngửa”, “như người
xấu hổ chạy trốn”. Kim Lân đã lồng vào giữa cảnh đói khát những
tiếng cười hóm hỉnh về một anh chàng có vợ để xua dần không khí
đượm màu tang tóc ra khỏi hạnh phúc giữa hai người.
Ngay sau đó, một không gian đượm chất trữ tình đã hiện lên trên
“con đường sâu thăm thẳm, luồn giữa hai bờ tre cao vút”. Chỉ còn
“tiếng gió trên bờ tre rì rào và tiếng lá khô kêu sào sạo dưới bàn
chân”. Đó là không gian dành cho những đôi lứa tâm tình. Nhưng
Kim Lân hoàn toàn không có ý định thi vị hoá câu chuyện, bởi từ
suy nghĩ đến lời nói, hành động của các nhân vật vẫn chập chờn
những nỗi lo thường trực.
Chỉ “trong một lúc” ngắn ngủi nhưng nhà văn đã lý giải được sự
thay đổi lớn lao trong tâm hồn Tràng, tạo mối dây ràng buộc hai con
người khốn khổ lại với nhau. Dẫu chỉ là cảm nhận mơ hồ nhưng với
Tràng, khoảnh khắc ấy vô cùng thiêng liêng. Hạnh phúc tủm tỉm
cười cùng anh, giúp anh “quên hết những cảnh sống ê chề, quên cả
cái đói khát ghê gớm đang đe doạ, quên cả những tháng ngày trước
mặt”. Rõ ràng, đối với Tràng hạnh phúc không còn là sự vô tình
ngẫu nhiên nữa. Nó giúp anh tự tin hơn, tự chủ được tình cảm của
mình. Thiêng liêng thay phút ấy hai chữ “tình nghĩa”, như dự báo
khả năng của con người từng bước vượt qua hoàn cảnh, tiếp sức cho
con người vượt lên định mệnh nghiệt ngã và tạo ra mối đồng cảm
đầu tiên cho những người trước đó còn xa lạ.
Hạnh phúc có thể được cảm nhận rõ qua ngôn ngữ đối thoại và tiếng
cười của những người trong cuộc. Câu chuyện giữa hai người mang
theo không khí chờ đợi hạnh phúc đang đến, rất bình dân nhưng đã
kéo hai con người khốn khổ xích lại gần nhau. Thật ngỡ ngàng khi
đến lúc này thị mới quan tâm đến gia cảnh của Tràng. Vẻ ngờ
nghệch của anh trai quê đã làm nên nụ cười “tủm tỉm” của người
đàn bà. Kim Lân quả thật đã dụng công mô tả tiếng cười của từng
nàng tiên hạnh phúc. Câu chuyện được kể lại về cuộc gặp gỡ giữa họ
quả thật là một chuyện cười ra nước mắt. Hai lần gặp gỡ, duyên
phận buộc ràng. Kim Lân đã tạo nên những ấn tượng thật khó quên
về thị - một kẻ không tên, không tuổi, không nhà, không lai lịch –
như một nạn nhân cùng cực đáng thương của cái đói và miếng ăn.
Không ít nhà văn đã từng viết về cái đói và miếng ăn trong cuộc
sống người dân cùng trước cách mạng tháng Tám. Ngô Tất Tố đã để
nước mắt chị Dậu rơi lã chã khi chứng kiến con mình phải ăn cơm
chó (Tắt đèn). Nam Cao khiến ta phải rùng mình kinh sợ sức hủy
diệt của cái đói - miếng ăn với nhân tính trong bao truyện ngắn đầy
nước mắt xót thương của ông (Lão Hạc, Một bữa no). Kim Lân trở
về với đề tài hiện thực cũ, đã dựng nên một tình huống bi hài có một
không hai: bốn bát bánh đúc nên duyên vợ chồng.
Để kiếm miếng ăn, thị dường như đã đánh mất tất cả sự dịu dàng
kín đáo thùy mị của người phụ nữ. Ngay từ lúc xuất hiện đầu tiên,
thị đã nhảy xổ vào Tràng với tất cả vẻ “cong cớn”, “ton ton” và ỡm ờ
“liếc mắt, cười tít” với gã trai xa lạ. Kim Lân khiến ta hình dung cụ
thể hoá cảnh “trai tứ chiếng, gái giang hồ gặp nhau”. Lần thứ hai,
thị xuất hiện với bộ dạng thật thê thảm và cung cách thật khó ưa.
Cái đói ghi dấu ấn trên “áo quần rách tả tơi như tổ đỉa”, dáng vóc
“gày sọp đi” và “khuôn mặt lưỡi cày xám xịt chỉ còn thấy hai con
mắt”. Đáng sợ hơn, nó không chỉ biến đổi nhân dạng mà còn lấy mất
của thị lòng tự trọng, tính sĩ diện cần thiết ở một con người. Nó làm
cho thị trong lời nói “sưng sỉa, cong cớn” qua lời nói “đon đả” chẳng
còn một tư cách người nào.
Tràng thành chiếc phao cứu sinh để thị được ăn. Bởi ăn là sống, không
ăn là chết. Ranh giới sự sống – cái chết đã không cho thị quyền chọn
lựa. Thị trở thành hiện thân của con người bản năng.
Còn gì chua chát hơn sau lúc “cắm đầu ăn một chặp bốn bát bánh
đúc liền chẳng chuyện trò gì”, lại sẵn sàng theo không kẻ cho ăn về
khòng”, “vừa đi vừa lẩm bẩm tính toán”. Trong những lo toan của
người mẹ, hẳn sẽ không có dự tính nào cho hạnh phúc của con trai
trong thời điểm cùng cực đói này. Bởi vậy thái độ của Tràng làm bà
ngạc nhiên một thì sự xuất hiện của người đàn bà lạ làm bà ngạc
nhiên mười. Sự thực như một ảo ảnh để bà không thể hiểu nổi. Dầu
đã có lời chào nhưng lại làm bà rối bời “băn khoăn”. Vì hơn ai hết
bà hiểu cảnh nhà, hiểu hoàn cảnh con mình không mong có được vợ
trong cả lúc yên hàn chứ chưa cần nói đến tao đoạn trần ai này. Nhà
văn đã dồn bút lực mô tả phút chờ đợi căng thẳng của đôi vợ chồng
mới làm bạn với nhau để người mẹ định đoạt duyên kiếp. Thời gian
như kéo dài thêm cùng tâm lý đợi chờ. Lại càng dài hơn khi bà cụ
“cúi đầu nín lặng” sau khi hiểu ra cớ sự.
Những trang viết xúc động nhất của tác phẩm có lẽ gắn trọn với tâm
trạng mừng lo lẫn lộn của bà cụ Tứ. Tấm lòng của một người mẹ
thật bao dung và cũng thật đắng cay xa xót. Người đọc có thể nhìn
thấy bóng dáng bao bà mẹ thương con đứt ruột trong nỗi lòng bà cụ
Tứ. Những xung đột bi kịch được đẩy lên cao trào nhưng cũng được
hoá giải phần nào bởi tình thương của người mẹ. Nước mắt mẹ đã
lặng lẽ rơi xuống trong mặc cảm thân phận, trong nỗi đau không lo
nổi hạnh phúc cho con mình. “Lòng người mẹ nghèo khổ ấy còn
hiểu ra biết bao nhiêu cơ sự, vừa ai oán vừa xót thương cho số kiếp
đứa con mình”. Không khí im lặng u uất bao trùm lên ngôi nhà, tâm
tư bà cụ cũng ngập tràn ám ảnh đầy bóng tối: cái đói, cái chết, cái
nợ đèo bòng chất thêm gánh nặng. Định mệnh như cười cợt với
hạnh phúc, nụ cười của thần chết. Nhưng không thể thắng được một
niềm tin của những người chưa tắt hy vọng về tương lai. Nó là cái
tâm lý quen thuộc của những người nghèo khổ, thường tự an ủi
mình:
Chớ than phận khó ai ơi
Còn da lông mọc, còn chồi lên cây
nhiệm đã giúp anh nhận ra tất cả sự “thay đổi mới mẻ, khác lạ”. Dù
ở trong trạng thái “êm ái lửng lơ như người vừa ở trong giấc mơ đi
ra” nhưng bước ngoặt cuộc sống của Tràng là sự thực mà chính anh
là người hiểu rõ nhất. Đẹp làm sao những cảm xúc của Tràng về tổ
ấm của chính anh, gắn với viễn cảnh tương lai sáng sủa như không
gian đầy nắng kia. “Một nguồn vui sướng, phấn chấn đột ngột tràn
ngập trong lòng”, nguồn hạnh phúc tạo nên từ mối ràng buộc tình
cảm và trách nhiệm của Tràng với mẹ, với vợ đã đem lại nguồn
hạnh phúc lớn lao hơn cho Tràng. Anh ý thức rõ hơn bao giờ hết
quyền được sống làm người, quyền sống của con người. Chính anh
chứ không phải ai khác sẽ bảo vệ đến cùng quyền lợi chính đáng ấy.
Ngày mới đến với thị cũng thật khác lạ, làm nên vẻ đẹp của một cô
Tấm bước ra từ quả thị trong cổ tích. Hạnh phúc mới đã trả lại cho
chị vẻ “hiền hậu đúng mực” và chính bàn tay từng đẩy chiếc xe bò
duyên phận, bàn tay quệt đũa ngang miệng, hôm qua đã sắp đặt,
sửa sang nhà cửa gọn gàng sạch sẽ. Bàn tay ấy “đang quét lại cái
sân, tiếng chổi từng nhát kêu sàn sạt trên mặt đất”. Âm vang giản
dị, bình thường ấy báo hiệu sự hồi sinh, sức sống mới trở lại trong
tâm hồn chị. Tưởng chừng mọi nỗi lo đã được giải toả khi ngày mới
bắt đầu, ngay cả “bà mẹ Tràng cũng nhẹ nhõm, tươi tỉnh khác ngày
thường, cái mặt bủng beo u ám của bà rạng rỡ hẳn lên”.
Nhưng hình ảnh “bữa cơm ngày đói trông thật thảm hại” đã cho ta
biết tất cả mới chỉ bắt đầu. Cuộc sống mới của gia đình Tràng diễn
ra trên nền hiện thực còn nguyên mối đe doạ. Lùm rau chuối thái
rối, đĩa muối ăn với cháo, câu chuyện giữa mẹ, con, dâu toàn niềm
vui. Không khí “đầm ấm hoà hợp” bỗng ngừng lại khi miếng ăn hết
nhẵn. Khoảnh khắc ấykhiến người đọc có thể chạnh lòng nhớ không
khí truyện “Nửa đêm” của Nam Cao. Cũng vui vẻ đầm ấm ban đầu,
sau hạnh phúc vỡ tan, để lại cay đắng, cùng cực cho một bà lão suốt
đời “tu nhân tích đức”. Liệu bà cụ Tứ, Tràng, thị có lâm vào nghịch
bẹp bởi hoàn cảnh. Nhưng theo sự phát triển của tình huống truyện,
dẫu kết cục là nỗi tủi hờn vẫn hàm chứa trong đó sức mạnh phản
kháng của những con người từng bước ý thức và làm chủ hoàn
cảnh, vượt lên số phận. đó cũng chính là điểm khác biệt về nhân vật
điển hình trong văn học sau 1945 với văn học trước đó.
Kim Lân đã ghi dấu ấn của một tấm lòng nhân hậu, đem đến những
cảm nhận mới mẻ về con người và khơi dậy sức mạnh tình thương
giúp con người vượt qua tất cả trở lực của cuộc sống và bản thân họ.
Tác phẩm ấm lòng ta bởi niềm tin vào con người tuyệt đối .
ĐỀ 4: PHÂN TÍCH NHÂN VẬT MỴ TRONG VỢ CHỒNG A PHỦ
Mị - nhân vật trung tâm của câu chuyện “Vợ chồng A Phủ”. Mị là cô gái
trẻ đẹp, con nhà lao động, có tấm lòng nhân hậu. Thế nhưng, số
phận run rủi, nàng phải vào nhà Thống li PáTra làm vợ để trả món
nợ hôn nhân từ đời cha mẹ nàng. Lẽ ra là cuộc đời sẽ tốt đẹp nhưng
số phận không an bài như thế, nơi đây Mị bước sang một trang đời
đầy tăm tối, tất cả như xô dạt về hướng lụi tàn, không gì cứu vãn
được. . Mị . Mị trở nên câm nín vô hồn , vô cảm. Mị khóa chặt lòng
mình: không giao tiếp, không trông chờ, không hy vọng, không phản
ứng, Mị “lùi lũi như con rùa trong xó cửa”. Ý nghĩa của cuộc sống
chỉ còn lại đơn thuần là những ngày dài lê thê chưa chết. Cứ thế Mị
giam cầm mình trong căn buồng tăm tối “kìn mít, có một chiếc cửa
sổ một lỗ vuông bằng bàn tay ” và chi tiết ấy lặp lại đến mấy lần
trong tác phẩm. Để rồi từ ô cửa ấy, Mị nhìn ra bên ngoài và thấy cái
màu trăng trắng không biết là sương hay nắng, Mị mất cả ý niệm về
không gian và thời gian, Mị không phân biệt được thời gian sáng và
chiều, không biết mùa nào đã về, con chim nào đã bay qua dưới cửa
sổ. Mị bị cuốn vào cái vòng xoáy công việc giặt đay, xe đay, bưng ngô
và sau tết “lên núi hái thuốc phiện … đến mùa thì lên nương bẻ
bắp… Bao giờ cũng thế, suốt năm như thế”. Ý thức làm người của
Mị dần dần bị tê liệt. Độc ác hơn, gia cấp phong kiến ấy còn đánh
khát vọng cao đẹp nhất, có lẽ nhiều khi nó còn đẹp hơn chính cả con
người? Nhu cầu giao tiếp, giao cảm và nhu cầu sống trở về với Mị.
Thực tại đắng cay như địa ngục trần gian nơi ô cửa sổ nhỏ trong nhà
Thống lý Pá Tra với người chồng tồi tệ là A Sử; còn một thực tại
khác êm ả như thiên đường tuổi trẻ dưới nắng xuân ngoài nương,
dưới đêm trăng hò hẹn, dìu dặt, miên man trong tiếng sáo gọi bạn
tình làm náo nức trái tim Mị. Quá khứ và thực tại đan chéo trong
lòng, khiến nàng xúc động mạnh khiến nàng có ý tưởng kỳ lạ “Mị
lén lấy hũ rượu, uống ừng ực từng bát”. thế nhưng có lẽ không phải
Mị đang uống rượu, mà đang uống những đắng cay của đời mình.
Quá khứ êm đềm trỗi dậy như dòng suối miên man chảy vào miền
ký ức ngọt ngào của thời thanh xuân” Có biết bao nhiêu người mê,
ngày đêm thổi sáo đi theo Mị”. Tín hiệu cuộc sống, niềm yêu đời, say
đời trở lại đã đưa Mị tìm lại được ý niệm về thời gian, Mị sống với
thời gian quá khứ và từ đó nàng nhận ra thới gian, không gian thực
tại. “Nếu có nắm lá ngón trong tay lúc này, Mị sẽ ăn cho chết ngay,
chứ không buồn nhớ lại nữa”. Thế đấy, ngay lúc thèm sống nhất, Mị
lại muốn chết ngay. Mị chọn khoảnh khắc hạnh phúc nhất để chết,
vì chết lúc ấy người ta dễ mang theo hạnh phúc và dễ bỏ khổ đau lại
phía sau. Nhưng “tiếng sáo gọi bạn yêu lửng lơ ngoài đường” đã thôi
thúc Mị “đến góc nhà, xắn một miếng mỡ. bỏ thêm vào đĩa đèn cho
sáng”. Người đọc đến chi tiết này đều xúc động vì căn buồng âm u,
tăm tối lạnh lẽo bao nhiêu năm tháng giam hãm đời Mị bỗng chốc
bừng sáng ánh đèn. Đóm sáng ấy thật ra là ánh lửa ấm áp được thắp
lên từ “đêm tình mùa xuân”, được thắp lên từ cõi lòng tiềm tàng sức
sống mãnh liệt của Mị. Hành động này thôi thúc hành động khác và
Mị quyết định đi theo tiếng gọi của lòng mình: “Mị quấn lại tóc, với
lấy cái váy hoa sửa soạn đi chơi tết”. Có thể nói hành động “sửa
soạn” này như là một cuộc sửa soạn vượt ngục của một tù nhân
không cam số kiếp tù đày. Thế nhưng ngọn lửa ham sống của Mị đã
thức phản kháng trong Mị trỗi dậy, vượt qua nỗi sợ hãi. Nàng muốn
A Phủ phải được sống. Còn Mị nàng chấp nhận ở lại mà chết. Nỗi
thương người dường như lớn hơn nỗi thương thân: “ta là thân đàn
bà, nó đã bắt ta về trình ma nhà nó rồi thì chỉ còn bíêt đợi ngày mà
rũ sương ở đây thôi … Người kia việc gì phải chết thế”. Thế rồi, Mị
rón rén bước lại cắt dây trói cho A Phủ, hàng động ấy đã trở nên cái
mốc quan trọng trong cuộc đời A Phủ và cũng chính cho Mị, “đi
ngay ” Chỉ hai tiếng khô khốc lạnh lùng ấy đã mở ra một chân trời
rộng lớn cho hai người. :A Phủ lại quật sức vùng lên, chạy”. Lúc
này, giữa ranh giới cái chết và sự sống, tự do và nô lệ, Mị cũng vụt
chạy hổn hển gọi: “A Phủ cho tôi đi ” Một tình yêu nảy nở từ sự hy
sinh và một tình yêu đáp lại từ sự đồng điệu của tâm hồn, của khát
vọng sống. Một cuộc giải phóng đời mình tuy là tự phát nhưng thật
sự đã diễn ra. A Phủ chợt hiểu: “Người đàn bà chê chồng đó vừa cứu
sống mình”. Và khúc hồi thanh của tình yêu vang lên: “Đi với tôi”,
có thể nói Mị đã giải thoát cho A Phủ và tự giải phóng chính mình.
Đó là sự vượt ngục tất yếu để tìm đến tự do, cũng chính là nét độc
đáo của ngòi bút Tô Hoài: ngòi bút của chủ nghĩa nhân đạo, từ Mị ta
đồng cảm, xót thương cho thân phận đau khổ của người phụ nữ
nghèo miền núi, ta tin vào sức phản kháng, vào khả năng tự giải
phóng để được tự do và hạnh phúc của họ.Mị có một sức sống tiềm
tàng mãnh liệt, sức sống đó được bộc lộ ngày một mãnh mẽ và có ý
nghĩa tích cực hơn. Ban đầu Mị định dùng lá ngón tự tử- sức phản
kháng dù tiêu cực nhưng mạnh mẽ, lần thứ hai khi xuân về, nghe
tiếng sáo vọng, Mị muốn đi chơi xuân- hành động phản kháng theo
tiếng gọi của hạnh phúc. Và lần cắt dây trói, đi theo A Phủ là đỉnh
điểm của sức phản kháng trong Mị, cô vượt qua cả nỗi sợ hãi vốn
tồn tại trong mình từ rất lâu để tìm đến tự do.
ĐỀ 5: PHÂN TÍCH NHÂN VẬT VIỆT – CHIÊN TRONG NHỮNG
ĐỨA CON TRONG GIA ĐÌNH
răng giật cơ bẩm, đưa một viên đạn lên nòng .Chi tiết này nói lên ý
chí diệt giặc của Việt rất mạnh mẽ.Trong tâm trạng thì luôn nhớ tới
chị (cùng di bắt ếch và giành phần nhiều),tới chú Năm ( thường
bênh mình và ghi sổ gia đình –đó là cuốn nhật kí,một cuốn sử nhà
đặc biệt,ghi chép những tội ác của kẻ thù,nỗi đau và thành tích của
từng người trong gia đình). Sang tới ngày thứ hai,Việt bắt đầu cảm
thấy nóng và đói ,mắt bị thương nặng, đau khắp người . Đến đây
hoàn cảnh của Việt càng gay go.Người chiến sĩ trẻ,người thương
binh đang lạc đồng đội này phát hiện mình không thấy gì . Đường
tìm về với đồng đội càng khó khăn gấp bội . Dù vậy ,anh vẫn sẵn
sàng nổ súng với một ngón cái hơi nhúc nhích do chín ngón còn lại
đã bị thương .Tâm trí thì nhớ về ngày tòng quân ,nhớ ngày theo má
đi đòi đầu ba,nhớ má tần tảo lo nuôi các con và dò bọn lính ,nhớ tới
cái chết tức tưởi của má .Trong hoàn cảnh hiểm nghèo , Việt không
sợ chết mà (chỉ sợ không còn gặp được đồng đội,không còn được
cầm súng)mà hướng về ba má,nhớ đến cái chết đau thương của ba
má .Khi về đêm thì Việt cảm thấy kiệt sức hoàn toàn,cảm thấy
không còn bò được nữa,cảm giác sờ sợ cái vắng lặng ,lạnh lẽo của
đêm tối.Lúc này tâm trạng Việt luôn hướng về đồng đội , điều đó rất
hợp lí vì Việt đã nghe thấy tiếng súng,tiếng kèn xung phong của ta
và đang cảm thấy cuộc chiến đấu bùng ra .Do đó,Việt lại bò được
một đoạn ,bò về phía trận đánh,phía đồng đội,phía sự sống .
Nhưng trận đánh ở xa Việt ,cho nên tâm trí Việt lắng lại ,hồi tưởng
ngày giành đi bộ đội với chị Chiến và cảnh hai chị em bàn định việc
nhà trước khi lên đường gia nhập ngũ.Cảm động nhất là khi hai chị
em bàn và gửi bàn thờ má: đối với hai chị em dường đó là việc hệ
trọng nhất .Nghĩ gì thì cuối cùng cũng vẫn đọng lại suy nghĩ về
má.Hai chị em lo cúng má trước khi dời bàn thờ (càng cảm động
hôn khi hai người lo làm cơm cúng má trong tiếng hò như vỡ ra
,nhắn nhủ,tha thiết rồi ngắt lại như một lời thề dữ dội của chú
lần dù đã kiệt sức,người lính trẻ ấy vẫn sẵn sàng chiến đấu tiếp nếu
kẻ thù xuất hiện.Thế ma2khi nghe “ếch nhái kêu dậy lên”,Việt bỗng
trở thành chú bé con có “hai cái đèn soi,lóp ngóp đi”cùng
chị .”Chiến và Việt ai cũng giành phần nhiều là của mình”,phải nhờ
chú Năm “đứng ra phân xử”.Ngay cả lúc nhập ngũ,hai chị em cũng
không ai chịu nhường ai đi trước ,chú Năm phải đứng ra “xin trên
cứ ghi tên cho cả hai”
Qua một vài điều nói trên ,ta thấy thủ pháp nghệ thuật đồng hiện
trong khắc hoạ nhân vật Việt,chủ yếu dựa trên cơ sở của phép liên
tưởng ,phép bắc cầu từ sự kiện này sang sự kiện khác,từ chi
tiết,nhân vật này sang chi tiết nhân vật kia…Trong sự liên kết
đó,dòng hồi tưởng của nhân vật vẫn là sợi dây nối quan trọng
nhất.Từ chi tiết anh em trong quân y viện họi anh là cậu Tư , Việt
chợt nhớ tới chị Chiến,nhớ tới tiểu đội trưởng Tánh .Anh muốn viết
thư cho chị nhưng khó có thể viết được vì hai mắt còn bị băng
kín.Thế là Việt nhớ lại lần chị bị trúng bom,nhớ lại trận đánh của
chính mình…Việt nhớ lại trong trận đánh,anh đã ngất đi,tỉnh lại
,bỗng nghe thấy tiếng ếch và cùng lúc đó,tuổi thơ,những ngày xa xưa
uất hận cùng ùa về trong trí nhớ…Các tình tiết truyện diễn ra rất tự
nhiên.Thủ pháp nghệ thuật này ta đã gặp ở truyện “Đôi mắt”của
Nam Cao . Ở đó,câu chuyện cũng diễn ra trong hồi tưởng của nhân
vật Hộ.Khác chăng là Nam Cao để Hộ xưng “Tôi” và tự kể.Còn ở
đây,Nguyễn Thi trực tiếp miêu tả tâm trạng Việt . ông vừa miêu tả
diễn biến tâm trạng nhân vật vừa mượn tâm trạng ấy nói lên câu
cuyện mình muốn kể . Đây cũng là một lối kể chuyện độc đáo.
Vẫn bằng cách trên,theo lời độc thoại của nhân vật Việt,tác giả lần
lượt giớ thiệu và đồng hiện các nhân vật Chiến,chú Nam,ba má
Việt,Tánh…Cũng như Việt,Chiến tòng quân ra chiến đấu trong một
tiểu đội bộ đội nữ địa phương .Chị đã chiến đấu dũng cảm,coi cái
chết cũng chỉ như “chết giấc”, “như ta ngủ vậy’.Chiến chỉ khác ở
liền lại trong mạch nguồn tâm tưởng khá chặt chẽ .Chặt chẽ nhưng
vẫn giữ được cái vẻ bề bộn của tầng tầng lớp lớp chi tiết trong cuộc
sống thường và trong chiến trạn hồi chiến tranh .Các mảng sự
kiện ,những đoạn đời trong quá khứ và hiện tại như được cố tình
đan chéo vào nhau,bổ sung cho nhau một cách hợp lý,làm cho tính
cách nhân vật được khắc hoạ rõ nét và chủ đề truyện được bọc lộ
khá nổi bật.Lối kết cấu đặc biệt này buộc tác giả phải đi đến tận
cùng trong việc phân tích và diễn đạt diễn biến phức tạp nhưng tinh
tế của tâm lý nhân vật.Nó cũng đòi hỏi nhà văn phải nhập thân như
người trong cuộc ,am hiểu và đồng cảm với nhân vật.Tất cả các điều
này,Nguyễn Thi đều vượt qua và thể hiện rất thành công .
Truyện tái hiện hiện thực nóng bỏng của vùng quê rất đỗi thân
thương với những người con chân chất hồn nhiên mang quyết tâm
cao độ cầm súng trả thù nhà nợ nước,giành lại cuộc sống.Qua các
nhân vật ta thấy sức mạnh truyền thống đấu tranh của gia đình ,quê
hương,xứ xở. Đồng thời mỗi người lại góp một “khúc sông”xứng
đáng vào con sông gia đình kiên cường,tất cả đổ vào ,tạo ra biển cả
truyền thống dân tộc.
ĐỀ 6: BI KỊCH HỒN TRƯƠNG BA DA HÀNG THỊT CUA LƯU
QUANG VŨ
A.MỞ BÀI
Trong làng kịch nói Việt Nam, có lẽ ai cũng biết đến Lưu Quang Vũ
- một hiện tượng đặc biệt của sân khấu kịch trường những năm tám
mươi của thế kỉ XX. Tuy có tài ở nhiều lĩnh vực như viết truyện
ngắn, soạn kịch, làm thơ, vẽ tranh nhưng ông được xem là một
trong những nhà soạn kịch tài năng nhất của nền văn học nghệ
thuật Việt nam hiện đại. Trong các vở kịch của Lưu Quang Vũ, đáng
chú ý nhất là vở "Hồn Trương Ba, da hàng thịt". Bằng nghệ thuật
xây dựng nội tâm độc đáo, cảnh VII, đoạn cuối vở kịch đem đến cho
người đọc nhiều vấn đề tư tưởng sâu sắc qua nhân vật Trương Ba